7 thg 9, 2011

CHIẾC PHAO


Người đàn bà ngồi bệt dưới đất, quần áo tả tơi dầu tóc bù xù, trông chẳng ra sao cả. Toán lính bu xung quanh, chen nhau coi như có gì lạ lùng lắm. Người chỉ huy bảo:
-  Bà đứng lên coi nào, cứ xề xệ xuống rồi phịu xác ra, gớm quá.
Như không nghe thấy, người đàn bà ngồi yên. Mấy người lính chỉ trỏ rồi nói thầm với nhau. Vài ba người giả đò đưa tay bịt mũi, cười. Người trưởng toán gắt:
-  Đứng lên, lẹ coi. Ai đã ăn thịt sống đâu.
Một anh thở khì:
-  Úi chà, bằng cỡ dì mợ tôi ở nhà rồi cá thịt nước non sao đặng mà sợ.
Bà già khó nhọc nhấc mình đứng dậy, tay vịn vào cây cột lớn giữa nhà. Ông trưởng toán chép miệng:
- Chắc cả năm nay không thèm tắm gội gì cả đây.
Nhiều tiếng cười nhỏ. Từ nơi người đàn bà phát ra một thứ mùi khó chịu, lạ. Thúi không ra thúi, hôi không ra hôi. Nó như vừa khen thét, vừa chua, gây gây. Một người trong đám đông hỏi:
- Ở đâu thiếu gạo thiếu mắm chớ thiếu nước sao ngoại?
Bà già run rẩy, lập cập:
-  Dạ bịnh quá, bịnh luôn đâu dám tắm quý ông.
Toán lính tản ra, vài người tới lục lạo mấy cuốn sách rách mướp bỏ vãi trên bàn. Vài người lùi về đứng dựa vào cột vào tưởng theo dõi câu chuyện.
-  Con nhỏ tui kia cũng bịnh, bịnh vì té động thai. Nặng lắm, sợ nó chết.
Vẫn cái giọng run rẩy đó nói. Một lát bà già lại loay hoay tìm chỗ ngồi xuống. Hình như bà ta không còn hơi sức để đứng lâu. Cái bụng to lớn cứ ác hại bám chặt lấy cái thân hình tong teo. Một sự mất thăng bằng nhận thấy rõ ràng nơi thân hình đó. Lúc đứng lên người bà già như chông chênh, cái bụng cứ toan trí níu cho bà ta ngã sấp.
Trong nhà ngó trước ngó sau thật trống trải. Không còn vật gì ngoài chiếc giường ọp ẹp trong buồng, và cái bàn ba chân rưỡi ở gian giữa. Tấm màn treo chắn ngang cửa buồng ngắn cũn, đen mốc, chẳng còn nhận ra ngày trước nó màu gì và hình thù của những bông hoa. Người đàn bà trẻ nằm mẹp trên giường, xoay mặt vô vách. Hình thù chị ta cũng thảm não như bà già ở ngoài. Và cái bụng thì, chướng quá, cái bụng hai người đồ sộ như nhau. Trước sau không thấy một hột thóc, một hột muối, ai nuôi những cái bụng kia.
Người chỉ huy bảo bà già, nhỏ nhẹ :
- Hỏi bà nói thật nghe, chồng con bà giờ ở đâu. Lâu nay còn những ai lai vãng trong vùng này ?
Bà già cúi đầu, cái đầu tóc rối rắm vàng hoe thấy ghê.
-  Bà nói di, đàng hoàng rồi chúng tôi sẽ cho ăn cơm.
Cái đầu tóc bẩn thỉu đó ngước cao :
-  Hơn tháng rồi ăn rặt cỏ rau, đói cơm quá ông.
-  Thì nói đi. Chồng con bả đâu ?
-  Dạ làm gì có chồng con. Chết cả từ lâu.
Một tiếng xụyt :
-  Láo, những cái bụng chang bang thế kia mà còn láo được. Bà già giật thót mình mấy cái, rồi đưa tay vuốt mặt, vuốt tóc.
-  Dạ thật mà, bụng này chúng...
Người lính đứng đằng bàn tìm được một tấm ảnh cũ gấp bỏ giữa một cuốn sách. Anh ta đưa ra hỏi :
-  Ai đây ?
-  Thằng con tôi, chồng con nhỏ kia. Nó theo, theo trên đó từ trước, nay đã chết rồi.
Người thanh niên trong ảnh mặc đồ đen, mặt mũi trông hiền, nhưng cặp lông mày vểnh ngược dữ dằn. Người lính xoay ngược xoay xuôi tấm ảnh, săm soi ngắm nghía một hồi lâu.
-  Thứ mặt này mà vác mã tấu đứng đường mình rủi gặp dám chết siếng lắm.
Ba già lẩm bẩm:
-  Nó chết lâu rồi mà.
Chị đàn bà nằm trên giường cựa mình, rên khẽ.
Bước qua tháng thứ bảy con mình khá lớn, Hường chỉ phải dạy buổi sáng nên còn trọn buổi chiều được rỗi, thời gian rỗi rảnh này dành cho con và viết thư. "Con không nghịch, nó không quấy chọc máy mó chi cả, chỉ biết nằm im thin thít hàng  ngày, ngoan lắm. Nhưng chắc nó khá bụ bẫm anh ạ. Cứ nặng trình trịch, và cáng náng lắm. Chiều ở nhà em thường phải nằm thôi, vì hoạt  động mau thấy mệt. Hai mẹ con thủ thỉ  với nhau,  nhỏ thôi để người ngoài khỏi cười, và ngủ. Cha bảo đừng nên nằm nhiều. Nhưng chịu, không cách nào cưỡng được. Nhiều người có bầu thấy gọn gàng, nhỏ nhắn. Sao em lại lớn thế hỉ.. Nhiều lúc,  nhất là khi vào trường em thấy mình thật chướng mắt, cứ lạch bà lạch bạch làm sao ấy. Khá một  điều là lũ nhỏ bỗng ngoan lên. Có lẽ chúng thấy em phải nặng nề khổ sở nên chúng thương. Đứng giảng một tí là thở hơi ra anh ạ. Còn ngồi vào ghế thì cái bầu cơi lên muốn tông hộc bàn, cười  quá. Thật có nhiều cái kỳ kỳ, ngượng ghê đi anh...Mấy bé gái ngồi dãy bàn đầu xinh xẻo dễ thương quả. Em muốn bé của chúng mình sau này cũng đáng yêu như vậy".
Hường diễn tả rằng cái bụng lớn, bằng bằng ở đằng trước. Hường ưa ăn thịt và trái cây chua một tí. Vậy không biết sẽ sinh trai hay gái. Danh muốn có đứa con gái đầu lòng. Má đã có một bầy bảy thẳng cháu nội. Hường phải sinh con gái.
Ngày trước má đụng ba cũng trong một trường hợp từa tựa như giờ Danh với Hường. Vậy mà nay hình như má  không mấy thông cảm cho hai đứa. Có lẽ bởi má dã có quá nhiều dâu con,  cháu chắt.
Hồi đó ba lang bạt vô Nam và gặp má. Ba trẻ tuổi oai hùng, nhưng bên ngoại cũng không mấy vừa ý. Nhà ngoại giàu sang, danh giá. Còn ba chỉ được cái tuổi trẻ, bề gia thế gốc gác thì lù mù, ở tận đâu đâu. Nhưng ai cũng ngán cái uy quyền hét ra lửa mà ba có trong tay. Thời đó những kẻ nắm được địa vị cỡ ấy đã oai lắm, và  quyền lực lớn gần như một ông trời con. Dựa vào quyền lực đó các ông trời con đã có thể đi cưới vợ, nếu thích, theo một lối lạ, tàn bạo. Thiên hạ thì sợ họ hơn sợ Tây. Họ có bổn phận che chở  dân, che chở trong một vòng tay thép lửa - Chàng rể tới nhà ông nhạc tương lai với gươm súng và  hộ vệ đầy đàng. Chàng thương lượng điều đình chớp nhoáng. Thường thì mọi việc đều tốt lành.  Không ai dám cải. Bởi kinh nghiệm cho biết họ  mà kỳ cượng thì ngày hôm sau lính trên huyện sẽ  tràn xuống moi móc từ nóc nhà, từ mái ngỏ họ ra hàng thúng, hàng bọc truyền đơn giấy tờ có nội dung tuyên truyền phá rối trị an. Chừng đó thì có nước tan nát gia công. Thôi thì gả phức con gái đi, lấy ai thì nó cũng sinh cho mình những đứa cháu ngoại. Với lại có được ông con rể loại đầu tàu hỏa ấy cũng danh giá chán . Khắp tổng huyện còn khiếp nể, huống chi là trong xóm làng. Thầy quản, quan lớn hét là đùng đùng lửa khói và tai  ương tỏa ra đằng sau. Nhưng hình như ba chưa phải dùng tới loại uy lực đó đe chồ ngoại,  cưới má.
Ba đem má về nhà, bà con lối xóm chạy tới thăm và coi tấp nập. Lạ lắm, má lạ lắm. Má ở tận miền nào cách xa mấy trăm cây số,  mà nhiều người trong làng thì suốt đời không hề bước ra khỏi cái miêu đầu thôn. Tiếng má nói hay ho, quý phái: "Gà độc thịch, dịch độc trứng".  Ông bà nội quý trọng má. Má sướng suốt cuộc đời làm dâu. Má chưa phải khổ nên khó thông cảm cho người khác. Khi biết hai đứa trót có con với nhau, má nhíu mày : "Vội quá thế. Ngày trước má ba cưới nhau đàng hoàng mà còn thong thả để gần hai năm sau. Chúng mày chưa chi …" Má thường chấm hết câu nói giữa  chừng. Rồi cưới hỏi chỉ có ba lo thôi. Đến nay  Hường vẫn chưa biết mặt mẹ chồng. Hường phải sinh con gái, nên sinh con gái mới được.. Có phép,  sẽ dẫn Hường về ra mắt má, với đứa cháu gái.  Danh tin là má sẽ thích cháu gái lắm.
Hường gầy gò mảnh mai, ốm đau thường trực, nay còn phải đeo mang một cái bụng lớn như vậy tội nghiệp. Bảy tháng rồi, Hướng cố gắng thêm ít nữa, hai tháng nữa thôi. Rồi sẽ nhẹ nhàng, thảnh thơi, và sung sướng. Rồi má anh sẽ quý mến, sẽ thương con hai đứa, thương em. Nó,  con bé, là sứ giả đó. Hường nưng chiều con thật nhiều mới được. Danh nghĩ miên man, và nghe một niềm vui sướng len thấm vào lòng.
Trước thềm không có ai, cả bọn ùa cả vào  nhà coi thẩm vấn người đàn bà. Danh mỉm cười, vui một mình.
Làng xóm đìu hiu, buồn như một cảnh núi rừng cùng cốc. Đường ruộng xanh um, lúa chét nẩy nở trông xa cũng tươi tốt như lúa mạ mới gieo lần đầu. Chừng tiến vào thấy biết đó là  những mầm cùi cụt, con cháu hoang không cha ông mà có. Cây cành mụ mẫm nhưng hột thì lép xấu mỏng mảnh. Người đàn bà nói từ đây về đến quận đi mất gần hai ngày dường. Đám dân làng bị kẹt cuối cùng đã ra đi từ hai tháng trước.  Vùng này được phế bỏ. Đến đêm súng lớn từ dưới chốc chốc lại nổ lên từng tràng đạn mạnh.  Lạ lùng kỳ diệu thay, qua bao nhiêu đêm rồi chẳng quả nào rớt nhằm nhà này.
Chị đàn bà trẻ lại cựa mình, rên. Ông trưởng toán nhắc nhở :
 -  Bà nói đi, nói rồi được ăn cơm.
Ông tới ngồi xích xuống bên cạnh bà già, lay chân bà ta, đổi giọng thầm thì :
-  Vùng này chúng nó còn có một đại đội phải không. Toàn du kích ?
Bà già yếu ớt :
-  Nẫu rút đâu hết từ ngày quý ông càn lên hồi tháng tám.
-  Không còn mạng nào ?
-  Dạ, không còn mạng nào.
Chọi nhẹ bụng bà ta, ông trưởng toán nói nhỏ như thở :
-  Cái bụng này ?
Bà già lúng túng, lấp bấp điều gì trong miệng. Một người lính háy :
-  Nói gian giảo, giấu quanh giấu quất. Phơi cho chết đói.
Không ai thèm bàn vào nữa. Chị đàn bà nằm trên giường cựa quậy. Bà già nhìn con dâu, rồi cúi xuống, nói, như nói với cái bụng của mình :
-  Con nhỏ chắc chết. Qúy ông gia ơn cứu nó.
- …
-… Nó trèo lên dọi mái nhà, cái mái bị bể dột tứ tung. Tui nói đừng dọi chẳng quý trọng gì đâu. Làng nước còn bỏ sá chi một mái nhà. Nó cãi lời leo lên... thang gãy, nó rớt từ trên mái  xuống. May nhờ mụ bà đỡ, không thì quẹo rồi. Từ trên mái nhà rớt xuống… quý ông nghĩ, cái bụng bảy tháng. Nó nằm miết đó, quý ông cứu nó.
Đoàn quân vào chiếm một thôn tiêu điều, nhà  cửa hầu hết trống trơn, dân thì chín phần đi chỉ còn một - đi đâu, xuống thành hay vào rừng không rõ - thì gặp được năm ba gia đình của  thành phần ít ỏi còn nán lại, ai cũng vui trong  bụng. Vì ít ra có tiếng người, dù tiếng ông già bà lão hay con nít thì cũng đỡ lạnh, hơn là vào phải một xóm tha ma mộ địa. Những kẻ còn lại ấy xanh xao vàng vọt, mặt mày lơ láo như bỏ mất hồn phách nơi đâu. Sự có mặt của họ âm thầm, yếu đuối không khuấy động nổi, không làm sống lại được sinh khí dồi dào thuở xưa của một vùng rộng lớn. Các con đường làng hiền dịu xinh đẹp  ngày đó giờ dã đánh mất sự vui trẻ ấm áp. Cây cỏ mọc liếm ra lối đi, lá khô tấp xuống trải lót che phủ mặt đất, che phủ những dấu chân trâu chi chít, những dấu chân ngày trước làm lồi lõm con đường, một vẻ lồi lõm thân yêu. Lũy tre già gập dầu xuôi tay nhìn xuống dãy giao thông hào lòng ngòng sâu lủi co mà người ta đã hấp tấp đào nên trong đêm tối hồi những tháng xao động trước đây, lâu nay vẫn ẩn nhẫn nằm yên dưới chân. Người, cây cỏ đất trời buồn thảm ủ dột quá. Không gian âm âm như trộn lẫn độ sáng giữa đêm và ngày.  Quang cảnh như thế, dân tình như thế thấy khó mà có gì phản trắc, có gì làm nên phong ba. Cho  nên đoàn quân vào lặng thinh, và yên chí. Đàn ông sồn sồn cùng trai tráng không còn, đàn bà thì  mười người mười quấn khăn tang. Sao lại ông chồng nào cũng chết, ăn rập như khuôn vậy.
Ngày lui quân, lũ con nít và vài chị đàn bà ra  tiễn, đứng đầu ngõ nhìn theo, tình thân có vẻ thắm thiết. Đoàn quân tới khoảng giữa đồng trống  thì chợt có tiếng súng từ trong làng bắn ra, đuổi theo sau lưng, chan chát rít qua đầu. Thôi rồi,  phải quay lại. Quay lại bằng vũ lực. Vào tóm một chị, đánh mấy cái lòi ra cây súng trường. Tóm một thằng bé, đánh nó, lòi ra một khẩu tiểu liên. Đánh thêm mấy cái biết là chồng chị đàn bà còn  trong rừng. Và chồng những người xung quanh  cũng vậy. Những vành khăn tang đáng bị đem ra  băm vằm. Chị đàn bà cùng chú nhỏ khi này đều có ra ngõ dưa tiễn người đi, cũng bịn rịn thương cảm lắm… Gặp chừng đôi bận, bị chơi ngõ hậu tỉnh  khô vài phen như thế mọi người sẽ lần lượt được trét tri hàn xì sỏi đá vào lòng. Bà già tiều tụy  nhấc bụng không nổi này, ngó thiểu não yếu đuối. Chưa thương. Cái bụng đó có thể chịu nổi cho  một báng súng tiểu liên tì lên mà bắn liên thanh.
 Bà già kể lể lập cà lập cập. Toán lính thì trơ  mặt ra dòm, và để những cái tai lơ đểnh đón nghe.
-… Họ xuống cả rồi, chẳng ai giúp mẹ con  tui. Đây xuống đó lang bang một ngày giữa đồng giữa truông….
 Người lính đứng dựa tường nạt :
-  Ngậm họng ! Bà dối tài lắm, con bà lên núi  chết từ lâu sao chị kia cái bụng...
-  Dạ, đó là nó...
Một tiếng khịt trong mũi.
-  Nó quái gì, cả bà nữa ! Hay đó là những tác phẩm tập thể chớ gì ? Khó nói. Phải không ?
Bà già len lén ngó kẻ vừa nói, rồi lại cúi  xuống. Cúi xuống như để lại nhìn cái bụng lớn, nhìn cái tang chứng không thể giấu bớt được của mình. Bảy tháng rồi, cũng chỉ còn hai tháng nữa thôi. Hai tháng nữa. Chừng ấy Hường cũng sẽ trút gánh nặng, chúng mình sẽ có em bé đầu lòng, hy vọng là bé gái. Giọng nói từ ngoài thềm :
-  Cứ cho bà ta ăn cơm. No nê, bình tĩnh rồi bà ta sẽ nói.
Ông trưởng toán đứng dậy, phủi quần, tới  ghế ngồi. Một tốp rục rịch xách súng bỏ ra sau.
-  Y tá Sơn chích cho con mẹ đằng giường mũi thuốc, kệ nó. Bụng bảy tháng rồi ít sao, mà bị thế kia.
Nghe qua, bà già chợt chồm lên, rồi quay về hướng trước thềm nơi phát ra tiếng nói, sụp  xuống xá lấy xá để:
-  Lạy quý ông, lạy quý ông cứu nó, cho thuốc  nó. Hơn bảy tháng nay không một mũi kim không  một giọt thuốc.
Bà ta loay hoay, cuống quít. Gương mặt dày sạm u tối chợt tỉnh ra, hớn hở, như kẻ rớt sông vừa vớ được cái phao . Đôi trẻ trong nhóm còn lại nhăn mặt, vài người quay lưng đi khó chịu.  Nhưng ông trưởng toán đó bảo một người :
- Ừ, thì lấy cơm cho bà ta đi.
Sơn y tá xách túi thuốc vào. Chị đàn bà trên giường đã nằm im như ngủ ./.

CHẾT ĐƯỜNG


       Ông Chín Tưởng có một thời làm lý trưởng – hồi còn Tây – nên dân làng Nho Khánh gọi là Xã Chín. Tuy sống giữa vùng quê cằn cỗi nhưng ông Tưởng có bốn chục mẫu ruộng, hơn năm chục con trâu, và là chức sắc, nên nhà Xã Chín được coi như một danh gia.
       Năm đó vùng Nho Khánh bị hạn hán trầm trọng. Ông trời như một gã trai trẻ tinh nghịch. Chỉ cách một cánh đồng mà bên Nho Phước mưa nhiều lần, người ta nô nức trồng dưa, gieo đỗ, gieo mè. Bên này, suốt sáu tháng Nho Khánh nắng ròng, tới giữa tháng tám giếng trong làng vẫn khô trơ đáy, ruộng vẫn nẻ đất.
       Một buổi chiều, làng Nho Khánh đón khách lạ: một người đàn ông trạc 40 tuổi, thợ đóng cối xay. Ông ta người miệt ngoài, ăn mặc theo lối quê mùa, quần áo vải ta đen bạc thếch, đầu chít khăn nâu, chân đi guốc mòn vẹt. Ông nói giọng lơ lớ, pha trộn giữa tiếng Bình Định và tiếng Quảng Ngãi. Lúc đầu nhiều người không nghe được, cứ há miệng nhìn ông ta nói, chẳng hiểu gì, bèn gọi là ông Trọ Trẹ. Tên này về sau mọi người vẫn dùng – như biệt danh thân mật – dù đã biết tên thực của ông là Của, thợ Của.
       Thợ Của vui tính, thường nói đùa, hay chọc ghẹo con nít, thích kể chuyện tiếu lâm. Nhà ông Chín Tưởng rước ông trước tiên, đặt đóng hai cối xay… Một tối, trong lúc uống trà ngắm trăng với ông Chín, thợ Của nói:
       “Khoảng bốn, năm hôm nữa, từ rằm tới mười bảy, trời sẽ mưa to.”
       Ông Chín ngó mông ra đồng, rồi nhìn lên trời, lắc đầu:
       “Có dấu hiệu gì đâu, như thường ngày, trăng tỏ, trời cao thế kia.”
       Thợ Của cười:
       “Ai cuộc gì tôi cũng cuộc.”
       Ông Chín nghiêm giọng:
       “Thiệt không? Nếu mưa tôi sẽ đãi ông bữa rượu nếp cháo gà, còn không mưa ông mất gì?”
       “Làm sao mất. Nhưng… thôi được, nếu chưa mưa thì tôi đóng giúp ông một cối xay, không lấy tiền.”
       Ông Chín ngoéo tay thợ Của, cười ha hả, gọi mấy người đứng gần đến làm chứng.
       Hai hôm sau trời chuyển, nắng dịu, mây sà thấp. Xế chiều ngày rằm thì trời đổ mưa, như trút nước, như muốn gội sạch bụi bặm cho làng xóm, và cho ruộng đất uống bù một bữa no nê.
       Chưa trình làng một cối xay nào nhưng ngay tức khắc ông Trọ Trẹ đã nổi tiếng, được xem như một thầy bói tài giỏi. Tuy nhiên thợ Của chỉ coi đó là chuyện đùa giỡn, ông nói: “Bà con đừng quá khen, thiệt ra lâu lâu tôi mới nói đúng vài việc. Nếu giỏi tôi đã sống bằng nghề bói toán, làm thầy, không làm thợ như thế này” … Một tối khác, cũng trong lúc khề khà uống trà, nói chuyện đời với chủ nhà, thợ Của nói:
       “Vợ chồng tôi không con, không người nói dõi đã đành. Còn ông, ông có nhiều con trai nhưng sau này chỉ còn rặt cháu gái, cũng buồn đấy.”
       “Ông nói sao?” – Ông Chín kinh ngạc, hỏi vặn.
       “Ông không có cháu trai.”
       Ông Chín đứng lên, cao giọng như phân chứng với mọi người:
       “Này, thầy Của kính mến ơi,  xin thầy biết cho, hai thằng con lớn của tôi nay đã có con đầu lòng, và đều là con trai.”
       Ông Trọ Trẹ ôn tồn:
       “Thưa, tôi chỉ nói chuyện sau này… Tôi thấy ông có khoảng hai chục đứa cháu gái.”
       Ông Chín nín lặng, có vẻ sợ.
       “Tôi với ông còn có một điểm giống nhau nữa: lúc lìa đời không nằm trong nhà, lại ở ngoài đường, hay ngoài chợ, ngoài đồng, gọi chung là chết đường. Cách chết đó trời dành cho những kẻ bất hạnh… chúng ta, không ruột thịt bà con, mỗi người một phương, mà giống nhau nhiều thứ, kể cũng lạ.”
       Rít một hơi thuốc, thợ Của tiếp:
       “Cơ trời chẳng nên nói ra, biết vậy, nhưng tôi bất chấp, không sợ. Tôi đoản mệnh. Dù muốn hay không tôi cũng từ biệt cõi trần ô trược này vào độ tuổi trên dưới năm mươi. Nhưng ông thì vững, thọ lắm, phải khoảng tám mươi, chỉ nhìn hai tai ông cũng đủ biết.”
       Ông Chín dẹp ngang bữa trà, ông không muốn nghe thứ chuyện xúi quẩy như thế.
*
       Cách mạng về, ông Chín nằm trong thành phần địa chủ, ruộng đất bị sung công. Ông tiếc của, buồn rầu, gầy rạc. Tài sản của ông còn lại ít ỏi: mấy cái nhà cổ lỗ – mái lợp ngói âm dương, tường vách lở lói, nặng nề, tối tăm – vài đám ruộng nho nhỏ, và mấy con trâu… Rồi bà Chín Tưởng chết. Rồi bầy trâu hao hụt nhanh chóng, vì phải bán đi để chi tiêu, để thuốc thang chữa bệnh cho người này người kia. Đến năm ông Chín Tưởng 72 tuổi, không còn vác cuốc ra đồng được nữa thì tất cả của cải còn lại chỉ là mấy gian nhà cũ mốc và ba thửa ruộng nhỏ xíu. Ba người con trai ông cựu địa chủ thất vọng, chán nản, thở dài thườn thượt, dù họ đã ra riêng và đều giàu có. Chẳng ai muốn lãnh cái gia tài xập xệ này, không anh nào muốn thủ từ đường. Út Quán – người em út, trực tính, thô lỗ – nói thẳng tuột, không kiêng dè:
       “Cái từ đường này đem quẳng ra ngã ba chó cũng chẳng thèm tha!”
       Hai Cử – ông anh cả, người sâu hiểm, thực dụng, biết che giấu tính keo kiệt thật khéo – cười nửa miệng:
       “Phận sao chịu vậy, giàu nghèo có số. Giờ đây chúng ta tính toán sao cho gọn ghẽ, để canh tác mấy khoảnh ruộng lấy tiền giỗ chạp, và nuôi ông già.”
       Ba Đặng – ông giữa – gật gù:
       “Nuôi ông già, một vấn đề trọng đại, bức thiết, một nhiệm vụ hàng đầu.”
       Ba Đặng từng làm đội phó trong hợp tác xã nên hay dùng các từ quen thuộc của báo chí. Bản tính ông ranh ma, nhỏ mọn, nhưng thường khoác lớp áo thực thà, xởi lởi.
       “Giỗ kỵ là một trách nhiệm không nhỏ” – Út Quán nói – “tôi đã tính kỹ, có tổng cộng mười hai cái giỗ lớn nhỏ.”
       Mới đầu họ bàn, nên để một người ở từ đường và nuôi ông cụ, hai người kia gieo cấy mấy thửa ruộng và phụ trách cúng giỗ, mỗi ông lãnh sáu cái giỗ… Chuyện thoạt nhìn tưởng đơn giản, nhưng qua bảy lần họp bàn, mất toi ba buổi chiều bốn buổi tối vẫn chưa giải quyết xong. Không ai chịu nuôi cha. Cũng không ai muốn nhận lãnh nhiều cái giỗ. Họ đùn đẩy qua lại, so đo hơn thiệt, nói cạnh khóe, gài nhau, mỉa mai nhau. Và tới giai đoạn “cao trào” thì họ lớn tiếng mắng chửi nhau, chẳng kể tình nghĩa, tôn ti, anh em gì nữa… Đến lúc không khí trong nhà lắng dịu, mát lại, Ba Đặng nói:
       “Chuyện nhà cũng như chuyện làng nước, phải lấy nguyên tắc dân chủ, công bằng làm chuẩn mực… Ông già ăn uống chẳng đáng kể, rõ rồi, nhưng còn bệnh hoạn? Cỡ tuổi đó thì siêng bệnh lắm! Lâu lâu ấm đầu một lần còn được, lỡ ra mỗi tháng ổng nằm ì hai mươi ngày thì sao, ai gánh, ai đảm bảo?”
       Hai Cử cười nhạt:
       “Nói khe khẽ chớ, chú Ba, kẻo thiên hạ lại bảo con nuôi cha mẹ mà tính tới lui, cân nhắc từng li.”
       Ba Đặng cười ruồi:
       “Cảm ơn anh, người con chí hiếu… Anh hiếu thảo lắm, nhưng tôi nhớ ít ra cũng đã bốn lần anh không nhận ông già!”
       Út Quán nói nhẩn nha:
       “Phía nào cũng có điểm bất tiện, bất thông. Theo tôi, chỗ đáng lưu ý của ông già là tánh tình. Ai cũng biết người già thường sanh tật. Các cụ đâu có khả ái như trẻ con… Còn phần việc lễ nghi, cúng kính cũng có lắm điều phiền toái. Không phải ta nấu nướng ra để ăn trong nhà. Bao nhiêu người tới dự, chật trong chật ngoài… xách miệng đi ăn thôi, nhưng khi về nhiều người còn ngoác mồm chê bai, chỉ trích.”
       Nhưng dù sao họ cũng là anh em ruột, nên rốt cục họ đã hiểu nhau, tìm được một sự đồng tình. Về nhà cửa và ruộng, sẽ được bán đi, tiền chia đều cho ba người. Về cúng giỗ, họ giản lược, bỏ bớt các đám thứ yếu, bỏ đi sáu, còn giữ sáu; ba ông cùng nhận, mỗi người hai đám, ai cúng nấy ăn. Về phần người cha thì cũng chia đều, ai cũng được nuôi, theo kiểu xoay tròn. Tính cho cặn kẽ, cụ thể, mỗi người con sẽ nuôi cha nửa tháng, khởi đầu từ ông Hai Cử.
*
       Trong những ngày sống giữa thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của con cháu, những ngày trống rỗng, buồn bã nằm bẹp dí trên giường, ông Chín Tưởng thường nhớ tới người thợ đóng cối xay thời trước. Chắc ông Trọ Trẹ qua đời lâu rồi. Mấy mươi năm đã qua, vật đổi sao dời… Ông Chín Tưởng khâm phục thợ Của. Nhiều chuyện ông ấy tiên đoán về sau đã thành sự thật, đúng một cách quái lạ, đáng sợ. Hai đứa cháu trai của ông – con của Hai Cử, Ba Đặng – đều chết, một chết bệnh năm 9 tuổi, một chết do tai nạn xe cộ năm 10 tuổi. Giờ ông còn tất cả mười bảy đứa cháu gái. Việc đã qua đều đúng, vậy chuyện sắp tới chắc cũng không sai? Ông vẫn nhớ rõ cái chuyện chết đường. Nhưng ông chẳng sợ gì nữa. Chết trong nhà hay ở đâu không quan trọng. Từ lâu ông không còn muốn sống. Chết sớm khỏe thân. Hóa ra, lắm khi sống thọ chưa hẳn là may mắn. Ông thấy tủi cực trăm bề khi phải làm thân phận của kẻ ở đậu, ăn nhờ… Thợ Của thấy trước nhiều chuyện, nhưng không nói cho ông rõ những ngày cuối đời của ông là một chuỗi ngày dài chứa đầy xót xa, gian nan.
*
       Việc nuôi dưỡng diễn ra êm đẹp trong một thời gian khá lâu. Tuy là những kẻ chuộng thực tế, sáng suốt, tính toán rành mạch chu đáo trong mọi công việc nhưng ba anh em đều thấy đây là chuyện thuộc về lãnh vực tình cảm, khác với bán buôn, không thể đo bằng thước, cần tế nhị, thận trọng.
       “Mỗi nhà nuôi 15 ngày”, như câu thần chú. Họ rỉ tai vợ con: “Chúng ta sẽ nuôi ông già, luân phiên, mỗi phiên 15 ngày, nhớ lấy… nhưng phải kín tiếng, chớ để lộ ra ngoài, thiên hạ sẽ chê cười.” Họ thỏa thuận với nhau, mỗi nhà đều sắm sẵn giường chiếu, mùng mền, vài bộ quần áo, hộp thuốc lá, cái ấm, bình trà, cây đèn hột vịt… dành cho ông cụ. Không nhiều nhặn gì, chẳng tốn kém mấy, ai cũng thực hiện được ngay. Sau mỗi đợt, ông cụ được chuyển sang nhà khác, nhưng chính cụ cũng không biết. Đám con cháu tạo cho cụ có cảm giác rằng mình đi chơi, thăm con cái, nay đây mai đó, đổi không khí. Nhưng dần dà rồi cụ cũng nhận ra. Cụ kêu trời, đau đớn, chán đời, muốn chết.
       Đến hơn hai năm bên ngoài mới biết. Người ta xầm xì, nhỏ to đồn đãi. Sơ hở bắt nguồn từ các bà vợ. Bà Hai Cử nói rổn rảng, hạch xách chồng:
       “Nay đã mười chín ngày, sao không đưa ông già đi?”
       “Thì từ từ, sao bà nói lớn vậy. Có gì đâu, ông cụ ăn uống bao lăm” – ông chồng nhỏ nhẹ.
       “Đây không nói chuyện ăn… một khi đã phân chia thì phải theo đúng, ta không thua chúng nó… ta cũng có cái đầu như chúng.”
       “Tội lắm. Chính vì có cái đầu nên ta biết nghĩ suy… Ngày trước ông cụ thương tôi nhất, tôi được cho lên tỉnh học, các chú nó chỉ học ở trường làng.”
       “Biết rồi, nhưng người có học mà để bọn ngu dốt lấn lướt, qua mặt là khờ, nhục.”
       “Nhục thì có sẵn đấy, cả ba đều nhục.”
       “Tôi thấy, qua nhiều phiên gần đây, lần nào nhà này cũng nuôi mười tám, hai mươi ngày.”
       Hai Cử rên lên:
       “Đừng nói mấy ngày… bà ơi… đừng tính từng ngày!… Trước đây tôi u mê, lẽ ra ba anh em phải…”
       Mấy nhà hàng xóm của Út Quán nghe bà Út hỏi chồng:
       “Mãn phiên rồi, sao chưa chở ông già qua bên anh Hai?”
       Út Quán đáp, lơ đãng:
       “Mãn rồi à?”
       “Nay đã mười chín ngày, biểu bọn trẻ chở ổng đi cho đúng.”
       “Chở qua chở về không phải là đúng… bà biểu chúng nó đi.”
       “Ông ấy là cha của ông!”
       “Ổng là cha tôi, nhưng tôi chưa xứng đáng là con ổng!” – Út Quán thở dài: “Trời thương, mình làm ăn khá giả hơn cả, lẽ ra mình phải lãnh phần nuôi nấng cha mẹ… chia như thế này chướng mắt quá chừng.”
       “Chướng làm sao?”
       “Nó có cái gì trai trái, mang một vẻ ang ác… nó giông giống chuyện đời xưa… Lạ thực, sao hồi đó mình lại hăng hái nhảy vào làm cái vụ chia chác.”
       Bà vợ rít lên:
       “Này, ông đừng giở quẻ!”
       “Đấy là điều tự nhiên thôi… xưa cha mẹ nuôi ta, nay ta phải phụng dưỡng các người.”
       Bà vợ cười khì:
       “Tôi qua tuổi học trò lâu rồi, ông khỏi phải dạy. Theo tôi hiểu, con là con đồng, ai cũng con, ăn đều chia đủ… Ta quyết không chịu thiệt, không ngu dại hơn bọn họ.”
*
       Hôm ấy đến kỳ ông Chín Tưởng rời nhà Ba Đặng để sang nhà Út Quán. Ông già bệnh đã 20 ngày, không ăn cơm được, tới bữa chỉ húp lưng bát cháo, ba ngày gần đây thì không ăn gì. Đã ba ngày ông nằm bẹp trên giường. Nhưng lúc sáng tình cờ ông nghe bà Ba Đặng rầy la mấy đứa con:
       “Sao chưa chở ông nội đi?”
       “Nội bệnh, để mai cũng được, má à.”
       Mẹ con họ nói nhỏ. Ông già nặng tai, nhưng có điểm kỳ lạ: khi có người nói khẽ, chậm thì ông nghe được.
       “Mấy cái mai rồi. Nay đã hăm hai ngày, biết chưa?” – Bà mẹ đay nghiến.
       “Chỉ sợ nội ngồi xe không được… Thôi để chiều mát con chở.”
       “Không hẹn dây dưa nữa đấy, 22 ngày rồi.”
       Bước đi không vững, nhưng ông Chín Tưởng cũng gắng sức leo lên ngồi sau xe gắn máy. Xe chạy được nửa đường, đứa cháu nghe ông kêu:
       “Dừng lại, cho nội nghỉ một chút.”
       “Sao vậy nội? Con chạy chậm đây. Nội ôm con cho chặt” – Đứa cháu ngoái lại nói.
       “Để nội nghỉ một lát… chóng mặt quá.”
       Con nhỏ vội ghé xe vào một cây me lớn bên đường. Nó đỡ ông xuống. Nhưng trong lúc loay hoay, luống cuống, nó làm ngã cả xe lẫn người. Khi đứng lên nó thấy ông cụ nằm thẳng đuổng như khúc gỗ, nhắm mắt, mặt trắng bệch.
       “Trời ơi, nội ơi!”
       Con bé thảng thốt, sợ hãi, cố đỡ cho ông ngồi dựa vào gốc me.
       “Nội thấy trong người ra sao?”
       Ông Chín Tưởng lắc đầu.
       “Sao nội không nói trước, để bữa khác hẵng đi!”
       Ông cụ không còn lắc đầu được nữa.
       Đứa cháu đón một người qua đường, nhắn tin về nhà. Khi Ba Đặng ra đến nơi thì ông cụ đã hôn mê. Chỉ vài phút sau ông tắt thở. Ông chết thật nhanh, thật êm… Đứa cháu gái chở ông đi chuyến cuối cùng là người duy nhất khóc thương ông. Không rõ nó yêu mến ông thực lòng, hay nó hối hận vì đã làm ông ngã. Nó khóc suốt mấy ngày, sưng húp mắt. Đây có thể coi là một điều hạnh phúc của ông Chín Tưởng, dù sao lúc lìa trần ông cũng được một người tiếc thương ./.

6 thg 9, 2011

BUỒN MỘT MÌNH


       Hạnh bán cháo vịt và cà phê “kho” trên hè phố, dưới bóng một cây bàng lớn, khách quen gọi là quán Cây bàng… Ở lớp học tiếng Anh ra, hơn 10 giờ khuya, Thuần và Lạc ghé lại, Cây bàng vẫn còn khá đông khách. Không chờ gọi, Hạnh bưng đến hai tô “ấm bụng”. Giá phải chăng ăn ấm bụng!
       “Sao về khuya thế?” Hạnh hỏi.
       “Bận làm bài kiểm tra.” Lạc đáp.
       Hạnh ngồi xuống cạnh Lạc. Lạc bảo:
       “Thứ bảy đi Ba Hồ chơi.”
       “Đi với ai?”
       “Với Thuần và Như Quỳnh.” Lạc chỉ vào Thuần.
       “Em bận, tiếc quá.”
       Lạc nắm tay Hạnh.
       “Em thu xếp nghỉ một bữa, nên đổi gió cho người khỏe ra.”
       Khách gọi, Hạnh đến tính tiền. Hai ông khách đi, bốn cô học sinh tới ngồi vào bàn. Quãng đường này yên tĩnh, ít xe máy, người đi bộ đông. Lát sau, Hạnh lại đến ngồi bên Lạc.
       “Em bán ở đây từ bao giờ?” Lạc hỏi.
       “Sáu năm. Sao, anh?”
       “Hỏi cho biết vậy thôi… sáu năm, khá lâu.”
       “Lâu, nên quen và thân.”
       “Nếu một ngày nào đó em không còn bán…”
       “Thì tìm một nghề khác… nhưng chắc khó rời bỏ chỗ này.”
       “Có thể phải bỏ, như thành phố cấm bán chẳng hạn.”
       Hạnh giơ nắm đấm, dọa Lạc:
       “Anh đừng nói trước, xui đấy… Còn lâu mới cấm, làm sao hết người nghèo.”
       Hạnh chưa hề nghĩ đến sẽ có ngày mình không còn đứng bán ở đây. Từ một công việc tình cờ – của một người bạn tặng không – nay cái quán nhỏ đã thành một chỗ dựa cứng cáp của Hạnh, là nguồn thu nhập chính, nuôi vững chắc bốn miệng ăn… Hàng bàng đứng trầm ngâm trong sương mù sớm mai. Những đêm mưa ướt át lạnh lẽo vắng khách. Những câu chuyện trên trời dưới đất của mấy ông khách vui tính… Tất cả các thứ đó đan xen, quyện vào nhau tạo nên nét riêng của quán “giá phải chăng…”
       “Cà phê không, anh?” Hạnh hỏi, Thuần lắc đầu.
       “Bỗng dưng anh muốn nói về những điều gì đó.” Lạc nói.
       “Muốn nói?” Hạnh có vẻ ngạc nhiên.
       “Ờ, nhưng chẳng rõ là nói gì!”
       “Lạ vậy, bí hiểm!” Hạnh cười.
       “Và muốn làm một chuyện gì đó.”
       Thuần nói với Hạnh:
       “Em đừng nghe Lạc, chẳng hiểu sao mấy bữa nay anh chàng bỗng đâm ra nói nhiều. Hôm kia hắn xung phong đọc một đoạn văn Anh dài, diễn cảm, được cô khen!”
       Hạnh hỏi:
       “Muốn làm, như làm gì?”
       “Cũng chẳng rõ… bụng dạ cứ nao nao, xốn xang vô cớ, như đợi chờ mong ngóng điều gì.”
       “Đi Ba Hồ là sáng kiến của ai?” Hạnh hỏi Thuần.
       “Của Như Quỳnh.”
       “Để em nghĩ lại, mai trả lời… Hơi khó, biết nhờ ai coi giùm quán đây.”
       Ngẫm nghĩ giây lát, Hạnh đổi ý:
       “Được rồi, nhất trí, thứ bảy đi chơi! Mấy chuyện râu ria để tính sau.”
       Nhưng cuộc du ngoạn ấy không diễn ra. Hai hôm sau, thứ sáu – ngay trước “ngày N” – Lạc chết, trong một tai nạn giao thông.
       Hai tháng sau, Thuần cưới Như Quỳnh. Bảy tháng sau vợ chồng Thuần từ giã Nha Trang, dọn đi Cần Thơ, làm ăn sinh sống luôn trong đó. Tất cả đều là chuyện bất ngờ. Từ nhỏ đến giờ Thuần chưa biết Sài Gòn, chẳng mấy khi nói đến hai tiếng “Cần Thơ”, không buồn để ý xem nó nằm nơi nào trên bản đồ, thế mà… “Trên đời chuyện gì cũng có thể xảy ra,” câu nói nửa đùa nửa thật này hình như thường đúng?
<> 
       Tám năm qua nhanh.
       Một ngày mùa hạ mát mẻ Thuần về thăm Nha Trang.
       Thuần ngồi trong một quán cơm trên đường phố có nhiều cây bàng ngày trước. Nay đường được mở rộng, lớn gấp hai, nhà cửa đều “lên đời”, thành lầu hai, ba tầng, không còn căn nhà trệt nào. Hàng bàng biến mất, thay vào đó là những cây hoa sữa, còn nằm sát mặt đất… Thuần nhìn sang bên kia đường, chỗ quán cháo vịt ngày xưa. Giờ đây muốn thấy nó phải nhắm mắt lại, huy động trí nhớ, hình dung ra. Cuộc sống thay đổi từng ngày, như người ta thường nói. Ngày qua, giờ qua, thời gian đều đặn trôi đi, không dừng lại một giây, đó là một trong những điều kỳ diệu trên đời! Kỳ diệu, đúng vậy. Sự xoay vần, chuyển dịch, như hóa chất tẩy rửa bộ mặt quả đất. Nó khiến con người phải hoạt động, tiến bộ liên tục, không đứng yên, nếu không muốn trở nên thoái hóa, cằn cỗi.
       Như chiêm tinh gia, Lạc đã nói: có ngày Hạnh sẽ không còn bán cháo vịt dưới bóng cây bàng nữa. Nói thế, do ngẫu nhiên, hay Lạc linh cảm, thấy trước? Chắc ngẫu nhiên, đang lúc buồn, thuận miệng thì nói. Nếu giỏi, Lạc đã biết cách tránh cái tai ương sắp giáng xuống đầu mình.
       Xe máy chạy dày đặc trên đường. Xe và người. Người quá đông. Có cảm tưởng như thiên hạ không chịu nỗi sự bức bối tù túng trong các căn phòng hộp nhỏ hẹp, túa cả ra diễu hành giữa phố cho thoáng đãng!… Lạc mất đã gần chín năm. Chín năm, thật lâu, biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra trong từng ấy ngày. Chỉ người chết là không thay đổi, chắc thế! Thành người thiên cổ. Mười, mười chín, hay năm mươi, tám mươi tuổi cùng thiên cổ như nhau. Sống thì bon chen, ganh đua, tranh giành, len lách, phấn đấu, chụp giựt, chết thì được quàng cái vòng thiên cổ!
       Quán cơm này mới tinh, nhà mới, bàn ghế mới, những cô nàng tiếp viên trẻ xinh. Các cô ăn mặc đẹp, đi đứng điệu bộ, khác xa cô Hạnh cháo vịt “một tô ấm bụng”! Thuần chơi trò làm người nước ngoài. Từ lúc vào quán anh chỉ ra dấu, chưa nói tiếng nào. Bây giờ Thuần gọi tính tiền, anh giả bộ trợn mắt nhíu mày, nói tiếng Anh với hai cô tiếp viên, (thứ tiếng Anh có sự hỗ trợ đắc lực của hai tay.) Anh “boa” hết số tiền lẻ khá nhiều, hai cô gái mừng, cười rạng rỡ. Lúc Thuần ra đến cửa, một cô nói: “Thằng này chắc dân Thái Lan!” Cô kia bảo: “Không phải, Thái đen hơn, đây là Tàu! Nó không uống rượu mà sao giống như gã say!”
<> 
       Thuần đến thăm Hạnh. Giờ Hạnh bán tại nhà. Nhà, quán đều mới. Nhà kiểu hiện đại, mặt tiền hẹp, dài như toa xe lửa. Quán trang trí hoa hòe, cầu kỳ, bảng hiệu “Hạnh – cháo vịt – nem nướng” lớn đến chướng mắt. Nem nướng thay cho cà phê kho… Thuần ra nhà sau chào bà Quảng, mẹ Hạnh. Bà Quảng mù, nặng tai, người phốp pháp, da dẻ hồng hào. Bà nhận ra Thuần ngay: “À, cậu Thuần, chồng cô Như Quỳnh.” Bà nói nhiều, vui vẻ. Bà bảo, có khách đến thăm mừng lắm, bởi tối ngày nằm co trong cái hang này, quẩn quanh, mệt mỏi. Trò chuyện với bà hơi vất vả, vì bà nghe tiếng được tiếng mất. Hỏi thế này bà trả lời thế kia, bà nói và nói, theo lối suy luận, phỏng đoán.
       “Cô Quỳnh giờ thế nào, làm gì?”
       “Dạ, Quỳnh khỏe. Cô ấy đã nghỉ dạy, nay trông coi sạp trái cây cho bà già cháu.”
       “Vậy là mừng, dạy cũng nhàn, nghề đó hợp với phụ nữ, có đồng ra đồng vào… Con Hạnh nay đã lớn, quá lứa, mà cứ ở vậy, hễ dì nhắc chuyện chồng con là nó gạt phăng.”
       “Dạ, chắc Hạnh chưa gặp người…”
       “Nó chờ gì, chờ ai… năm tháng đâu có dừng lại theo ý ta.”
       “Gần đây Hạnh có quen ai không, dì?”
       “Rồi sẽ thành gái già… tuổi tác chất chồng.”
       “Vợ chồng là chuyện duyên số, dì ạ.”
       “Cháu lựa lời khuyên bảo nó, không thể ở một mình mãi được… chim chóc còn có đôi có bạn.”
       “Dạ.”
       “Dì thế này khác chi cái áo rách… mai đây dì xuôi tay về với ông bà, thì nó sống thế nào.”
       Thuần ra phòng khách, nói chuyện với Hạnh. Một dĩa nem nướng đầy vun chờ hai người. Hạnh đẫy đà, nét mặt đăm chiêu, dáng chậm chạp hơn trước. Và, đương nhiên, già hơn trước. Ăn nem, nên chuyện mở đầu là nem.
       “Anh đã thành dân Cần Thơ rồi. Có lúc nào anh nhớ về Nha Trang?”
       “Nhớ luôn. Đi xa, nhớ nhiều… Em biết không, cách nơi anh ở sáu cây số có một thị trấn nhỏ sản xuất nem nướng nem chua nổi tiếng. Khắp các tỉnh quanh Cần Thơ chẳng nơi nào có món đặc sản này. Nó ngon, giống hệt nem Ninh Hòa mình. Thật tình cờ, kỳ lạ. Gần như chủ nhật nào anh cũng đi ăn nem, nem Cái Răng.”
       “Cái Răng?”
       “Trong đó có nhiều địa danh lạ tai: Lấp Vò, Gò Quao, Tắc Cậu, Giồng Trôm, Trà Nóc, Cái Vồn, Cầu Kè…”
       “Đi xa biết nhiều, thích nhỉ.”
       “Nước ta dài, rất dài… Cái Răng cách Cần Thơ không xa. Nó cũng giống các xã, huyện quanh vùng. Sông nước, kinh rạch, đồng ruộng bao la, vườn cây trái sum suê, dưới sông tắc ráng (xuồng máy) chạy dập dìu như xe máy ở đây… chỉ nem chua nem nướng là khác.
       “Anh vào Nam đã tám năm?”
       “Tám năm… Lạc mất non chín năm rồi… khách cũ của Cây bàng có đến đây ăn không?”
       “Có, nhưng ít lắm, anh ạ.”
       “Có lẽ do xa, trái đường.”
       “Môi trường, khung cảnh hai nơi trái ngược nhau… Em thường tránh, không muốn nhìn lại chỗ quán cũ. Mấy cây bàng… anh Lạc…”
       “Hồi đó vui thực… ê, cô chủ, hai ly đen, hai tô ấm bụng!” Thuần cười.
       “Cây bàng khác ở đây nhiều thứ, nó nhộn hơn, trẻ hơn, bụi hơn… Chắc má em lại nói về chuyện chồng con của em?”
       “Phải.”
       “Cụ hơi nghễnh ngãng, gặp ai cụ cũng nói chuyện ấy.”
       Hai người ăn hết nửa dĩa nem.
       “Chừng nào anh đi?”
       “Khoảng bốn, năm hôm nữa.”
       “Mai mốt anh đưa Như Quỳnh và các cháu đến đây chơi.”
       “Anh quên ngày Lạc mất.”
       “Mùng 4 tháng sáu, âm lịch.”
       “Nhớ rồi, những con số chẵn… Cái chết, thực không hiểu nỗi.”
       “Nó như sợi dây đứt phựt, như mất điện… nó hiển nhiên, nhưng hết sức mù mờ, vô lý… Mỗi khi cúp điện là em nghĩ ngay tới nó, em nói: tắt phụt, cứ như chết!”
       Hạnh vẫn còn nhớ Lạc.
       “Em sắp quên Lạc, anh ạ. Nhiều lúc, suốt mấy tháng dài em không nhớ anh ấy… Em muốn quên. Nhớ cũng chẳng ích gì!… Em nhét album ảnh của Lạc xuống tận đáy tủ!”
       “Không còn ở đây thì dễ quên.”
       “Hai năm nay em không đến nhà Lạc.”
       Người ta nói: biết ơn là đặc tính của loài người. Còn biết nhớ, nhớ lâu có phải cũng là đặc tính? Nhưng Thuần mong cho Hạnh quên cái dĩ vãng buồn. Nhớ như thế quá đủ… Không thể kéo lại tháng ngày đã qua. Người chết không sống lại được, trong khi người sống vẫn phải sống. Sống khó hơn chết, khó hơn rất nhiều, phải không? ./.