7 thg 9, 2011

CHÚNG MÌNH ƠI, ĐAU BUỒN


Truyện đến hồi hay, gay cấn: “Đêm khuya, giữa rừng già, một người nằm dán trên mình ngựa, ngựa chạy như tên bắn. Gió núi thổi hung bạo. Đó là một kiếm sĩ, thanh gươm dài đeo bên lưng. Chốc chốc kiếm sĩ thúc chân vào hông con vật, tưởng chừng như chàng muốn chiến mã phải bay vút lên đừng cho chân chạm mặt đất. Ngước nhìn trời, biển sao mờ, những dãi trắng bàng bạc như mây như sương. Chàng lẩm bẩm: Nguy mất, không chừng đã qua canh tư! Tráng sĩ đây chính là Đỗ Dũng, chàng đang trên đường về Kinh Châu…”.
- Sao lâu quá vậy? Rồi nó có về kịp cứu Thanh Thảo không? Mười Thất nóng ruột.
- Ồ, thì từ từ, sao lại không, nó giỏi quá mà.
Điểm bỏ sách xuống bụng:
- Dượng vẫn không bỏ được cái vụ lo xa. Con đã nói đừng lo cho mấy đứa vai chánh. Bị gì đi nữa rồi nó cũng thắng mà… Con Thanh Thảo sẽ có một đứa con, mãi sau Thanh Thảo mới chết vì bị giết lầm. Sau thằng con lớn, nó giỏi hơn cha nó nữa. Hay dữ lắm.
Bác Trương nói:
- Con đọc tiếp đi, nhanh hơn một chút cũng được. Anh Mười thong thả, đừng ngắt lời nó, nghe.
Một chiếc xe đạp chạy ngang qua cổng, bóp chuông. Tiếng trẻ con nói chuyện bỗng từ đâu trờ tới, xôn xao, rồi nhỏ ngay, mất hút. Có lẽ chúng nó đi mau, hay chậm lúp xúp. Chúng ra đình xem truyền hình. Điểm ngưng ngang, chậc chậc:
- Tối nay có kịch, à thế mà quên. Kịch hay lắm.
- Kịch kệch gì mày ơi. Ồn quá trời, lại còn cái bọn lóc chóc phá hơn giặc, coi chán chết. Tiếp đi.
Mười Thất ghét bọn nhỏ. Hôm trước, nghe nhiều người khen, ông mò ra xem chơi cho biết. Đâu ngờ, chỉ một lúc, hút chưa tàn điếu thuốc, ông đã bị hai miếng vỏ bưởi bay đập vào lưng vào cổ. Ấy là chúng nó ghẹo gái, chẳng ai ghẹo ông làm gì, nhưng ông cũng bực mình, cắp dép về thẳng.
- Dượng coi chưa quen đó chớ. Kịch hay không chê được, ai cũng mê mà. Tuần trước diễn khúc đầu, chưa chi nhiều đứa đã khóc…Chuyện hay, hoàn cảnh chi mà éo le quá trời! Dượng nhìn một lúc thấy chóng mặt phải hôn?
Điểm dậy, bưng đèn để lên bàn, cất sách, vào buồng thay áo. “Mày đi thiệt hả?”. Chẳng nghe trả lời. Không chừng cô nàng đã đi bằng ngõ bếp. Bác Tương xách ấm nước sôi lên đút dưới chân ghế. Tối nay bỗng dưng bác uống trà nhiều, và thấy buồn, buồn đâu đâu.
- Anh này, tôi nghĩ hai đứa nó định bỏ tôi thiệt.
- Hay chúng bị chuyện gì đó, như đau ốm, dời nhà.
- Không lý một sớm một chiều nó bán cả nhà, cả xe. Buồn… Anh thấy, bốn tháng nay, chúng bố thí hai ngàn. Hai ngàn đồng!
Thời này… Đời, lòng dạ con người… Mười Thất lại muốn kể lể, nhưng, anh bạn già này đã nghe mình kể hàng trăm lần rồi. “Ngày con mẹ chúng nó chết, thì chúng đứa mới ba tuổi, đứa mới sáu tháng. Phải, con em vừa sáu tháng mấy ngày, đâu được sáu tháng rưỡi. Vậy mà tôi nuôi, tôi chịu khổ nhọc, nhiều khi khổ đến có thể đi ăn mày, nhưng tôi ráng. Có lần, trong nhiều tháng tôi chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm, cũng là bởi hai đứa nó. Sao đi nữa thì chúng cũng là cháu mình, mất cha níu chú. Nay, lấy được chồng giàu, nhà cửa cao rộng, ở giữa phố phường, chúng nhớ đến tôi đến mức độ nào?... Ông nghĩ thử xem, chúng nó nhớ tôi như thế nào? Ơn tôi phải xem nặng hơn ơn cha mẹ chớ… Trước thì còn được, lúc này khi vui gửi cho năm ba ngàn, lúc buồn chỉ một hai ngàn. Bây giờ, mấy tháng tiếp, chẳng có lấy một hàng chữ gửi thăm. Bận con cái, bận lo làm ăn? Nhưng, nếu ngày đó tôi ghét tôi bỏ cho chết đói, tôi bỏ dơ dáy ghẻ lở… Tôi quẳng cho gãy một chân hay một tay, thì nay ai thèm ngó chúng. Có ai thèm lấy con ma một tay – Tôi sắp chết… Mai chắc tôi chết, chết đói. Nhục nhã, đau đớn. Nhưng làm gì bây giờ, chân bước mấy bước đã run, còn mắt mũi… à, sao hồi đó mình không chọt đui mắt hai con bất nghĩa này, để mỗi đứa còn một con thôi, để giờ này mình đỡ đau lòng…”.
Toán người gát đêm kéo đến, họ vào sân, nói chuyện xì xào. Nhà bác Tương có cái sân tốt, rộng nằm không cần trải chiếu, nên toán gát này hay thường đến ngủ. Cũng có người bảo nhà này có một điểm khác quyến rủ, hơn hẳn cái sân làng là con dâu bác Tương. Họ đàn ông con trai, khó trách họ được. Với lại họ cũng đàng hoàng, dễ thương. Nếu trách, thì trách chính con bác, thằng con đi năm bảy năm chẳng chịu ló mặt về. “Ngủ chưa bác Hai? Cô Hai ơi, cho bọn này mượn chiếc chiếu. Cô Hai ơi, sao cái sân…”. Họ nói chuyện, huýt gió, ca nho nhỏ, cười khúc khắc: “Cô Hai của em”. Chỉ bọn trai trẻ làm ồn. Mấy ông già lúc nào cũng ít nói, hiền lành. Chốc lát, các ông sẽ ngủ ngay. Cả ngày làm việc, nắng nôi, rồi mai đếm lại cũng phải làm việc, lại chịu nắng, cực nhọc. Trăm chuyện, này họ, con cái, tiền bạc, trong lòng không còn chỗ nào trống để vui và đùa cợt. Các ông không bỏ phí mươi phút hay một giờ của trời ban đêm, mát khỏe, tự do. Ngủ, luôn luôn là cái ngon nhất.
- Tôi chết đói đến nơi. Anh Hai, từ nhỏ đến giờ tôi chưa thấy ai phải chết vì đói.
Bác Tương hớp từng hớp trà nhỏ. Tình cảnh ông bạn buồn thật đó, nhưng nó cũng không gây được cho bác một sự xúc động. Vì chính bác cũng đâu vui gì. Thằng con mỗi năm gửi về chừng hai lá thư, năm bảy hàng “chúc cha vui mạnh”, rồi thôi. Chắc nó tưởng chi cần nghe chúc là người ta đã no. Sống với con dâu, phải sống nhờ vào sự chờ đợi, đau buồn của con nhỏ không phải là điều đáng vui. Ngày nào đó con nhỏ sẽ bỏ đi, có gì ràng buộc đâu, ai cấm cản được? Một buổi sáng nào đó, ngủ dậy, bác sẽ thấy căn nhà trống trải, sự u buồn ào đến chụp kín người bác. Bác sẽ khổ, đói, hay sẽ chết đói. Mười Thất nói, như kêu than: “Khi hôm, nằm chiêm bao tôi thấy tôi chết đói. Tôi nằm trên giường, đầu tôi còn nguyên nhưng phần dưới, từ cổ trở xuống, thịt da rã mất cả. Con chó cũng chết, mình nó trơ xương, mở mắt thao láo ngó tôi, nhưng tai nó chẳng vẫy được. Người ta qua lại rầm rập trước cửa, lũ con nít chạy chơi vào tới sân nữa, mà chẳng ai biết tôi đang chết. Tôi thèm nước. Tôi bảo con chó đừng nhìn tôi nữa… Có lúc tôi muốn ngồi dậy một chút, nhưng đói quá, bụng mất đâu rồi mà vẫn biết đói. Cho đến, lâu lắm, đột nhiên bốn bức tường ngã xuống, mấy cây cột mờ dần, biến mất. Cái nhà chỉ còn chổng chơ hai mái, vậy nó cũng mất bụng, tôi sợ nó bay mất! Trăm người diễu qua, xe đạp, xe ngựa, bọn học trò đi học về, không ai nhìn tôi. Lâu quá, tủi thân tôi khóc, cái mái nhà bổng rung mạnh, rồi tốc bay lên… Ui cha, tôi khóc hơn mưa”.
- Anh nghĩ quá nhiều chuyện, trí óc anh bị mệt đó. Tôi cũng chưa thấy ai chết đói ngay trước mắt bao giờ.
Nhưng có thể đã có người kẻ chết sau lưng mình? Ai cấm họ chết khổ một cách yên lặng? Mười Thất ngó xuống đất, mắt ông không nháy. Ông như đang bị đắm vào một cơn say kỳ dị. Có say mới thích nói. Ông nói, mê mãi: “Đến con mụ Hậu cũng đổi khác. Bữa qua mượn mua giùm bó củi mụ cũng lắc đầu lia. Mới hôm nào sáng chạy qua xin vài chục, chiều qua mượn đôi trăm, nay quên tuốt. Với cái hạng người đó mình nên đối xử thế nào, anh Hai? Tôi vái trời cho tôi sống giàu một ngày, thật giàu, một ngày thôi. Để tôi xem chính con người tôi nó thế nào, xem hai con mắt tôi nhìn những kẻ nghèo ra sao… Tôi sẽ ăn đủ thứ, ăn thiệt nhiều trong nửa ngày, rồi đi chơi, đi khắp nơi trong nửa ngày. Tôi, chắc chắn, sẽ gọi mụ Hậu tới, cho mụ một xách bạc, cho mụ ăn no, rồi đái tưới lên mặt mụ! Nhưng, ông trời cũng khéo, nếu ông cho mọi ước mơ đều trở thành sự thiệt thì con người chẳng ai sống hơn được mười năm”.
Điểm về, đi ngay vô buồng. Bác Tương quay nhìn con dâu, thấy lạ. Điểm nói: “Kịch hay ghê ba, nhưng tự nhiên con thấy khó chịu quá, tưởng bị ói giữa đường”. Mười Thất cười, nghi ngờ. Ông muốn nói thử một câu: “Dượng biết mày bị khó chịu vì cái gì rồi”. Nhưng ông dằn được. Ích gì. Nó có quyền của nó, có quyền làm như vậy, hay hơn chút nữa cũng chẳng sao. Ông thấy cô nàng với tên Thìn máy gạo nhỏ to mấy lần đằng ngả tư, ban đêm, và một lần ngay, tại nhà này lúc bác Tương đi khỏi. Hai người có vẻ khắng khít, rỉ rả mùi mẫn lắm. Làm sao cũng xong, có điều hơi chướng là Thìn máy gạo còn vợ con hàng dọc dài đó – Ra đình coi kịch hay tới ngả tư tự mình đóng kịch lấy đố ai biết. Tội lão Tương, trường hợp này thì mắt lão vô dụng, chẳng thấy, chẳng biết gì hết.
“Cô Hai coi hát hay không, kể anh em nghe với”. Đám thanh niên trước sân chỏ miệng vào chọc. Điểm ôm cái mền, nằm nhìn những bức hình trong trang báo trên vách. Nay chắc khó ngủ. Các điều Thìn máy gạo nói lúc nãy như cứ vang lên trong tai. Những sóng ngươi cuồn cuộn trên ấy đường phố lớn. Lính tráng trùng trùng lướt đến, lính chồng chất trên mấy đoàn xe dài chạy vút qua. Trên phố chắc có nhiều sự lạ mà mình chưa hề biết, người trên ấy chắc sang trọng, và đông đảo lắm. Mọi khi đầu mình nhẹ thênh, nằm xuống không ngủ ngay thì chỉ nghĩ về mấy việc lẩm cẩm, trồng tỉa, gặt hái, cá gạo, mấy cuốn truyện hay sẽ mượn bên nhà con bạn… Thìn máy gạo, chuyện gì anh ta nói cũng đều mang một vẻ quan trọng to lớn. Không chuyện nào dễ dãi, hay ho như các chuyện tình trong sách. Đoàn xe mờ ảo ấy lại trờ tới, chúng muốn chạy trên trang báo, có cả vùng bụi mù!... Lính, súng đạn, dãy người sắp hàng. Những cây súng dài thật đen!
Mười Thất chào về. Ông mới bước ra, chưa đến ngõ, đã bị tốp thanh niên níu lại, “ngồi xuống đây nói chuyện chơi chú Mười, sớm về chi vội”.
- Cho tao về, buồn quá chuyện trò không trôi đâu cháu.
- Buồn chi chú, đời mà, cứ cố vui mới sống nổi. Cháu dù thua lỗ cũng vui, đau ốm cũng vui, ráng mà vui mới làm việc được… Chỉ khi nào hết gạo mới buồn.
Mười Thất bật cười:
- Tao hết gạo chín mười ngày rồi! – Ông cười một hồi dài, thật lớn như thích chí - Tao buồn là đúng, phải không mày, Út xe lam?... Mày xe lam đi đây đi đó nhiều nên ăn nói thông minh, lúc nào ý tứ cũng hay!
Một người ngồi khuất trong thềm nói:
- Sống một mình như chú có nhiều điểm tuyệt lắm nhe, như cái điểm tự do. Cởi truồng suốt ngày cũng được nữa.
- Tao có thể nhịn ăn tự do không…Thiên hạ thừa mứa sự sang giàu sung sướng, còn mình chỉ cần một mảnh sung sướng to bằng bàn tay lại không có. Nào cần chi nhiều, như anh Tương nhà này cũng đã gọi được là sống ngon: Có con hầu hạ, cái ăn đầy đủ, đêm nằm xuống ngủ ngay. Vậy thôi, ấy là cái hạnh phúc của đời – này, mai hay một chúng mày qua nhà coi tao chết.
Mấy anh ngồi gần cùng cười: “ Chú lại đùa rồi”.
Mười Thất ra đường. Đèn lớn trong nhà tắt mất. Ông già ngồi gát bên chậu bông bỏ súng nằm xuống chân nhịp tay hát hay ngâm gì đó, chắc hẳn để khỏi buồn ngủ. Chiến tranh thật sự đã có từ lâu, nhưng mãi đến khi thấy những ông già lãnh súng, những đứa nhỏ đi học đêm đến moi súng xách ra đình làng tập hợp, người ta mới trợn mắt và lại còn ngạc nhiên. Chuyện giặc giã đã tiến đến cái mức xa thế này rồi sao – Ông già mở cái khăn quấn đầu xuống tẩn mẩn xếp lại. Điểm ra, xuống sân, đến sau lưng ông già, ho nhỏ.
- Bắn thử vài tràng chơi, chú Hai.
Ông già kêu: “Ấy chết, trời trời” .
- Chú đã bắn mấy mươi lần?
- Năm chục viên. Ớn lắm mày ơi. Gỉa dụ thế này, nếu biểu mày tới “thương” một ông già bảy mươi, mày có thích thương không… Ép uổng lắm tao mới bắn đó chớ.
- Cũng giả dụ, nếu cháu có bậy bạ chi đó… thì chú có bắn cháu không.
Ông già lại: “Trời, trời nói quấy chưa kìa!”.
Bảy giờ sáng, một tốp cảnh sát vào nhà bác Tương. Còn hai ông già nằm ngủ ngoài sân, súng lót dưới chiếu ló nòng ra ngoài. Những đứa khác đã về lúc còn tối trời. Bác Tương mở cửa nhưng không ai hỏi bác câu nào họ hỏi Điểm. Điểm bị dẫn đi.
Vài giờ sau khắp xóm đều hay có chuyện lạ mới xảy đến. Thìn máy gạo cũng bị bắt. Nghe như trong nhà ông ta có cả súng. Ghê quá, ai nấy xầm xì. Cô Điểm mà lại bị “liên can chính trị”.
Bác Tương ngồi dựa cột nhà đến hết buổi sáng. Bác nhớ tiếng đọc sách của con dâu, giọng cười của nó. Như vậy là nó đã biến mất, nó bỏ bác nhanh chóng không ngờ! Điều mơ ước được giàu một ngày của Mười Thất, và chuyện chiêm bao buồn thảm, bác nhớ rõ từng câu, nhất là nét mặt lạ lùng của ông ta khi nói… Có lúc nào người ta chết vì đói không ./.

CHỢ TỐI


       Ngày sắp tàn, chợ đã thưa người. Những chị hàng xén hối hả gánh nốt đồ đạc về nhà, mấy đống thúng sắt bị xách ngược va chạm nhau nghe rổn rảng.
       Tôi khó nhọc lê từng bước lên thềm chợ, cái lưng còng cơ hồ càng còng thêm, mỏi từng đốt xương sống vì trọn ngày phải ngồi ròng rã.
       Để cái bị gạo xuống vách tường hàng thịt, tôi thu dọn chỗ ngủ. Chợ to nhưng chỉ có mái và nền, không có tường bao bọc như nhà. Hàng thịt là một cái phòng hẹp, dài hút. Nó chiếm cả góc trên chợ. Vào trong, nhìn lên trông nó giống như một cái thùng sữa, cả dài nhưng hẹp ngang, nền chợ là đáy dưới, đáy trên chênh vênh, trống rỗng, xa lơ, phải có người mắt tốt hơn tôi mới thấy được: thấy một khoảng mái tôn chợ với ngang dọc những cây sắt to đen đúa. Ban ngày, người qua lại tấp nập ở bên ngoài. Bên trong, qua những ô cửa tò vò, mấy chị bán thịt ra sức cắt xẻo mấy mình heo to đến ngán. Những ngày trời động, hàng thịt đông khách, mấy chị bán hàng bận rộn luôn tay. Nếu một mảnh giấy được đưa ra cho người mua, thay vì xâu thịt, người ta có thể tưởng nhầm đó là một phòng vé trên ga xe lửa, với đám hành khách đang tranh nhau dành vé trước. Nhưng những hôm nhiều cá, hàng thịt vắng, ba bốn chị bán hàng xích ghế lại gần nhau tán chuyện gẫu. Các chị ngồi buồn, thỉnh thoảng quơ tay xẻo mạnh một miếng thịt nhỏ, bỏ lên lòng bàn tay cân nhắc lại một chút rồi quăng đánh phạch xuống đống thịt vụn. Vào những lúc ấy thằng Láng thường chơi ngổ: nó móc túi lấy một tờ hai chục thật mới. Tới một cửa tò vò có chị bán thịt gần ngủ gục, nó giơ tờ giấy bạc ra:
       - Bán cho tôi. . .
       Chị bán hàng ngồi thẳng người lên, vuốt phắt mấy sợi tóc xõa dài trên má, tươi tỉnh:
       - Bao nhiêu em?
       - Chắc bốn chục. Vé đi Nha Trang, khứ hồi.Chị bán thịt đứng bật dậy như chiếc lò xo:
       - Tổ mẹ mày!
       Thằng Láng phá ra cười. Nấp sau cái cột gần đấy, thẳng Rớt cũng cười dòn, thích chí. Chị bán thịt tức giận chửi theo:
       - Đồ xạo! …
       Hàng thịt chính là nơi chúng tôi nhờ cậy nhiều. Ngày tản mác nọi nơi, chiều về chúng tôi dựa lưng vào bức tường nghỉ mệt, đợi tối. Trên đầu chúng tôi một chút là những ô cửa còn thơm mùi mỡ heo béo bở. Đêm đến, chúng tôi mỗi người chiếm một khoảng, nhắc những chõng hàng án ngữ mặt ngoài. Nằm lọt ở trong, dựa vào chân tường, chúng tôi yên chí tìm hơi ấm đánh một giấc đến sáng. Mưa gió không tạt qua được hai bức tường hàng thịt, và bên ngoài căn nhà hun hút ấy, những manh chiếu rách không bao giờ bị ướt.
       Tôi mân mê túi tiền, hôm nay mùng một, dễ chừng cũng được vài chục đồng. Trước kia, những ngày rằm, đầu tháng, mỗi đứa chúng tôi được ít ra cũng bốn năm chục, bây giờ thì khác. Những đồng bạc cắc nhỏ nhắn đáng yêu nằm gọn dưới đáy túi. Tôi nhớ lại những khuôn mặt có nọng của mấy bà nhà giàu, khổ nhọc bước từng bực cấp lên chùa, có mấy đứa con đi kèm đỡ cánh tay. Tôi đưa mũ ra: “Lạy bà, lạy cô…” Bà nhà giàu đứng lại, một đứa con gái bước tới bỏ vào nón tôi một đồng bạc cắc tròn trịa. Tôi xá xá mấy cái đền ơn. Bà nhà giàu lên không được mấy cấp nữa đã gặp phải vợ chồng thằng Mau, bà ta lại đứng, người con gái lại đi tới bỏ vào cái lon kẽm hai đồng bạc cắc. Tôi nhướng mắt trông lên thấy thằng Mau xá xá. Tay cô con gái bà nhà giàu vẫn còn những cắc bạc đáng yêu, và từ chỗ thằng Mau lên đến sân chùa trên cao, còn ít lắm cũng đến chín mười cái nón rách chìa ra hứng tiền kẽm, để rồi những chủ nhân của nó ngồi cạnh lại xá lia lịa khi một cắc bạc lăn tòm vào nón!
       Những đồng tiền lẻ đã nuôi sống chúng tôi bao nhiêu năm tháng. Tôi có một cái chân ốm tong, cong lại, tôi nghe hình như nó là kết quả của những ngọn ác phong tôi mắc phải hồi nhỏ. Bây giờ tôi phải đi xà lỉa, chân nọ muốn đá chân kia, thằng Láng bảo rằng chân mặt muốn mắng mẹ chân trái. Thêm vào, tôi có một con mắt bị tước quyền nhìn thấy vĩnh viễn, chỉ còn là hai mảnh thịt giao lại, như một cái ao bị lấp đất chưa đầy hẳn. Con mắt kia thì cũng lờ mờ, chỉ đủ để thấy các bà nhà giầu và mấy đứa con gái dễ thương như những đồng bạc cắc.
       Sau một ngày đi xin về, ngồi dựa vào tường, chúng tôi bày tiền ra đếm. Hôm nào tôi cũng được nhiều hơn hết.
       Vợ chồng thằng Mau trông tội nghiệp lắm. Thằng chồng trông thấy nhưng không đi được, con vợ đi được lại mù tịt cả hai mắt. Nên, khi ăn xin, thằng chồng lết trước, con vợ lần mò theo sau. Một sợi nhợ cột ngang hông thằng chồng nối liền với cánh tay con vợ đằng sau, là sợi tơ hồng gắn bó cuộc đời hai vợ chồng thằng ăn xin. Giữa những buổi chợ đông, vợ chồng nó len lỏi từ hàng cá đến hàng rau, xin từng cọng cải héo đến con cá vụn. Thằng Mau lết, một tay chống đất lấy đà, tay kia ngửa chiếc mũ rách. vợ nó theo sau, tay quờ quạng cầm sợi chỉ, mồm hát nghêu ngao những thơ tuồng bình dân: Thoại-Khanh Châu-Tuấn, Lâm-Sanh Xuân-Nương. Giọng thảm não của nó bị cái khối người chen lấn ồn ào át hẳn.
       Giữa chỗ tôi nằm và chỗ vợ chồng thằng Mau, ở tường hàng thịt, là nơi ăn ngủ của Nhoi. Nó còn trẻ lắm, chưa đến ba chục tuổi. Nó què, đi không được. Tay nó lại ốm tí teo và cong vòng, nên nó lết rất khổ sở. Mặt mày nó mốc khính, đầu tóc lồng bồng, rối bời, che kín ót và lấp cả hai bên má. Muốn xem mặt nó tỏ tường phải rẽ tóc ra. Nó không biết ca biết hát câu nào, nó cũng chỉ lết và: “Lạy ông, lạy bà” như tôi.
       Thân hình bọn chúng khổ não, tiều tụy như thế, nhưng chẳng biết căn cứ trên những tiêu chuẩn nào mà các vị hảo tâm thường cho tôi nhiều hơn tụi nó, nên tôi luôn là người giàu nhất trong bọn. Không phải người nào cũng cho tất cả chúng tôi như các bà nhà giàu. Có ông cầm một tờ mười đồng, nhìn qua cả bọn một lượt, ông ta đi tới thả vào nón tôi tờ bạc bố thí độc nhất ấy, và bỏ đi thẳng. Cả bọn ngơ ngác nhìn theo. Tôi sung sướng nhét số tiền to lớn ấy vào tận đáy túi. Những hôm như vậy, tối về thế nào vợ chồng thằng Mau cũng bàn tán với Nhoi, và lần nào chúng nó cũng đi đến kết luận: tôi được tiền vì tôi già, trông đáng thương hơn chúng. Tôi ngồi nghe rung đùi cười không nói.
       Nhích người lên, tôi kéo đầu chiếu thẳng ra. Đặt cái bị gạo làm gối tôi nằm xuống. Hôm nay bọn chúng về trễ, thường ngày vừa chiều là đã có đủ mặt. Tôi hay về trước, lát sau đến thằng Nhoi, vợ chồng thằng Mau, rồi thằng Rớt dắt cha nó. Ngoài đường đi im lặng, nhưng vừa đến nơi chúng đã nói cười om sòm. Chiều bữa đó thằng Nhoi thấy chỗ nó nằm bỗng dưng hôm nay có một vũng nước tràn lan. Nó bực mình chửi đổng:
       - Tổ cha con mẹ nào khéo đổ nước!
       Nó mượn thằng Rớt đi kiếm chổi, quét xong nó tần mẩn tìm vài rách lau cho chóng khô. Thằng Rớt tò mò:
       - Nước gì hổng biết. Nếu phải nước mắm thì khổ đa. Hôi dữ lắm.
       Nó cúi xuống lấy tay quệt một chút đưa lên mũi ngửi. Nó nhăn mặt, nhảy cỡn lên, la lớn:
       - Nước đái! Con mẹ nào đau quá đái ẩu. Khai xé mây!
       Thằng Nhoi vứt nhanh gói giẻ lau, chà mạnh hai tay xuống nền. Nó ngồi bệt ra mà cười. Vợ chồng con Mau thấy cũng cười theo.
       Thế là từ ngày đó, những vũng nước xuất hiện thường trên nền chợ đều được thằng Rớt đặc biệt lưu ý. Lâu lâu thấy một vũng, nó quyết đoán:
       - Vũng này của con Cheo sản xuất chớ không ai vào. Ngồi ở chõng đây, đau quá, bỏ đi xa thì lâu. Nó lẻn vào chỗ này nghếch lên xả lù, cũng tránh được một số cặp mắt soi mói.
       Nó cười, tiếp:
       - Chỉ khổ cho anh Nhoi. Bị có cái cột chắn bên ngoài, chỗ nằm của anh thành ra kín đáo. Nếu mấy con mẹ ấy cứ đau bất thường hoài thì chỗ đó biến thành cầu tiêu mất. Hạng con Cheo phốp pháp như vậy hèn chi đái nhiều.
       Nó lúc lắc đầu, ngẫm nghĩ, buông một câu triết thòng, lẩm cẩm:
       - Con người nhà giàu ăn uống sang trọng, cá mắm dồi dào, ỉa thúi hạng nhứt, đái cũng thiệt là khai.
       Sau đó thằng Láng ra chơi, Rớt thuật lại chuyện mấy vũng nước. Nghe xong, thằng Láng vội đi tìm một viên phấn, nó viết khắp mấy cột trong chợ và ở bức tường hàng thịt: “Con Cheo đái ẩu nhứt chợ này.”
       Chắc là nhờ vậy, nên lâu nay không thấy những vũng nước đáng để ý ấy xuất hiện nữa. Nhoi biết ơn thằng Láng, trầm trồ khen và thường nhắc lại chuyện đó. Láng sung sướng tiếp nhận lời khen tặng và đáp lại một cách rất ư lịch sự. Những lúc như thế, thấy nó đáng yêu hơn là đáng ghét, vẻ nghịch ngợm hơi quá lố và gần như lỗ mãng đã biến mất khỏi người nó, trong tiếng nói, cái cười. Nó vốn tinh nghịch nhưng gương mặt nó nhiều lúc lại buồn và khó đăm đăm. Cha nó chết, mới đây. Mẹ nó đem về một ông chồng khác. Nó ghét ông này, ghét mẹ nó, ghét cái nhà, thương cái bàn thờ, chỉ trong mấy tháng nữa, chờ ngày dẹp đi, đã phải chứng kiến cảnh người đàn bà thân yêu âu yếm với kẻ khác hàng ngày, cạnh đó.
       Bữa kia, đi chơi về, ban ngày, bước vào nhà, nó gặp hai người trên giường. Nó thấy mắc cở, mà lạ mắt.
Mấy hôm sau nó về nhà, mẹ nó gắt gỏng, hạch xách:

       - Mấy ngày nay thằng nào, con nào chứa mày, hở thằng ôn kia?
       - Không có ai chứa hết.
       - Vậy mày ăn cứt à?
       - Tui lớn rồi, tui làm tui ăn.
       Thằng Láng chạy ra sân vì bà mẹ vừa nhảy xuống giường:
       - A, thằng này giỏi thật! Mày leo lẻo. Mày ỷ làm ăn được mày một hai lại với tao. Từ nhỏ đến giờ ai nuôi mày hở? Quỉ sứ!
       Thằng Láng nắm cánh cửa ngõ:
       - Cha tui nuổi tui, bà không có nuôi. Cha tui chết đi để tiền lại, tui cũng ăn chưa hết tiền ấy nữa. Bà cho lão gì đó hưởng…
       Nó giận run lên:
       - … Rồi bà tìm cách tống tui đi. Ở đây ai cũng biết.
       Nó lách qua cửa, chạy ra đường.
       - Thiên địa ơi! …
       Bà mẹ nhảy ra sân la lên.
       - Hết ngõ nói rồi. Ông con tinh ơi! Ông mà vô đây thì tao xé xác ra. Tao biết như thế này thì tao đã bóp mũi mày hồi nhỏ, uổng tiêu uổng nghệ! …
       Bà mẹ la lối và tuyên bố từ nó. Nó cũng tuyên bố không sợ bị mẹ từ!
       Thằng nhỏ lâm vào đời lãng tử con con. Cái khổ người đen đủi, khằn cứng như đứa bé mười hai của nó thấy như nhỏ và đen thêm vì nhiều bữa đã phải nhịn đói. Nó cũng về nhà nhưng một đôi khi, những lúc đói quá, nó lẻn về, xuống bếp cuỗm cả nồi cơm. Nó làm đủ nghề vặt vãnh. Nhiều hôm nó đã dắt cha thằng Rớt đi xin, vì thằng Rớt bịnh, để chiều về lãnh nửa số tiền xin được. Tối nó ở lại chợ ngủ chung với tôi, với thằng Nhoi, thằng Rớt. Để những đêm tối trời lại được làm ma chộ kẻ yếu vía. Mấy đêm trăng sáng bọn tôi tụ lại nói chuyện đời, chuyện mình. Con Mau ho bài chòi, cũng vẫn những bài ban ngày dùng để sinh nhai với cái giọng não nề. Nhưng ban đêm tiếng nó thanh, hay mà không buồn. Thằng Láng cũng đâm ra ưa hò hát. Nó ngồi đánh nhịp. Lúc thích chí, nó hò:
       - “Thoại Khanh (ư…) dắt mẹ qua sông.
       Cho mẹ uống nước (ừ) phình hông (mới) dẫn mẹ (ự) về.
       - Thoại Khanh dắt mẹ qua đèo,
       Bẻ roi quất đít (ứ) biểu mẹ trèo (mau… ứ) cho mau.”
       Con Mau la:
       - Người ta có lòng hiếu đạo, cảm thấu đến trời. Đừng nói như vậy mang tội chết, em.
       Thằng Láng phục thiện lúc đó, vài hôm sau, hứng, nó lại:
       - “Thoại Khanh… ứ… ư…
       Cho mẹ uống nước…”
       Nó đã không sợ mẹ, nó cũng không sợ mang tội với trời.
       … Trời sập tối. Thằng Nhoi lọc xọc lết về, vợ chồng Mau đã đến thềm chợ, con vợ mắt ngó lơ láo lên trời, tay nâng thằng chồng qua khỏi mấy bực cấp.
       -  Ngày nay được mấy chục, chú? Nhoi hỏi.
       Tôi trả lời:
       -  Được mười tám đồng, em.
       -  Cháu mười ba.
       Con Mau tới, nghe, nó cười buồn:
       -  Tui được hơn chú Nhoi hai đồng.
       Nó ngồi xuống ngó về phía tôi;
       -  Tụi tui gặp con Thung. Nó theo chuyến xe lửa trưa bán bánh, đi ra. Nó nói cha thằng Rớt bịnh, thằng Rớt biểu tại ổng buồn quá, nhớ tụi mình. Trong đó kiếm được cũng không hơn gì ngoài này.
       Nó nghỉ một lát:
       -  Thằng Rớt nói, phải biết như vậy không đi làm chi. Ở ngoài này ít nhiều cũng có bầu có bạn.
       Im lặng lâu. Tôi nhớ tới thằng Rớt và cha nó. Ông đã ăn xin mấy chục năm qua và cũng đã bỏ làng xóm ra đi từng ấy năm, nhưng ông vẫn còn nhớ thương đất tổ. Những ngày xin được đủ ăn, no lòng, vui, ông thường đem chuyện ngày xưa ở quê nhà ra kể. Làng ông có cái đình đổ nát vì bị Tây thả bom. Cánh đồng khô cứng, ăn nước trời, mỗi năm một mùa, năm được ăn, năm không. Có một người đàn bà ở đầu xóm đi tự tử hoài mà không chết. Vì một lần mới nhảy xuống biển và bước ra được tới mực nước đến cổ, thì bà ta chợt nhớ mình đã mang theo mấy chục bạc, bỏ trong túi. Sợ … ướt rách mất bà trở lên bờ, cầm tiền về nhà cho con, và sau đó… lạnh quá nên không xuống nữa! Lần khác, tức ông chồng cứ cờ bạc mãi, can mấy chẳng được, bà khóc lóc bà chạy lên đường xe lửa tự tử. Bà ta nằm xuống đường rầy, ngửa cổ ra chờ chết. Nhưng lát sau, đoàn tàu sầm sập chạy đến, cái đầu máy hùng hổ phun ra từng cụm khói đen nghịt. Khiếp quá! Bà vợ nhỏm dậy chạy miết ra xa đứng ngó. Cái đầu tàu to gớm, cổ người đàn bà chắc chịu không nổi. Thôi nhịn đi là hơn!
       Ông nhắc lại “trường hợp” ra đời của thằng Rớt. Vợ ông đẻ nhanh lắm. Hồi có mang thằng Rớt, ông chưa mù nhưng cũng đã nghèo, vì nghèo nên bà vợ phải đi làm luôn, gần ngày sanh cũng không được nghỉ. Bữa đó, bà đi mót lúa. Ra đồng mới một lát bỗng thấy trong người khó chịu, rồi đau bụng ngầm ngầm, và… thằng nhỏ lọt ra. Luống cuống bà bọc nó vào vạt áo dài, nơi bỏ lúa lượm được, lấy lưỡi hái phứt cuống nhau thằng nhỏ. Xong bà lễ mễ mang nó về nhà. Thấy vậy ông la trời la đất. Tính ra thằng Rớt đẻ thiếu một tháng…
       Ông kể say sưa, nét mặt tươi, vui sướng như được sống lại quãng ngày xưa. Chúng tôi ngồi nghe, cười bà mẹ thằng Rớt đẻ mau như gà , và người đàn bà tự tử hoài không chết.
       Nhoi mở gói lấy cơm ra ăn, tôi dồn tiền vào một cái túi nhỏ, giấu trong bị gạo. Thằng Mau bỗng nói:
       -  Lạ quá…
       -  Cái gì? Con vợ hỏi.
       -  Chú hai với thằng Rớt đi mình vẫn nhận được tin tức đều đều. Còn thằng Láng…
       Nhoi nuốt trôi miếng cơm khô, góp:
       -  Ờ nó lưu linh lưu đại, đời nào chịu ở gần đây, chắc đã đi xa lắm.
       Yên tĩnh hoàn toàn. Chúng tôi nằm xuống, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng. Lâu lâu lại nghe thằng Mau thở ra, thằng Nhoi thở ra. Trên cổng chợ có tiếng người rầm rì. Chắc đã đến giờ đóng cửa, canh gác. Từ lâu nay, đêm về cái chợ bị cô lập. Cồng chính vào chợ người ta đóng cho nó hai cánh cửa rất lớn, bằng thép gai đan vào nhau. Tối, hai cánh cửa ấy khép lại, một con chó nhỏ cũng không chun lọt. Mấy lối kia đều có thanh niên võ trang canh gác. Thời thế khó khăn, cả đêm lẫn ngày tiếng súng nổ ầm ầm, vọng lại nghe rõ mồn một. Tối lại, cái chợ bị phong tỏa bít bùng như một cái rọ heo. Những cặp nhân tình không còn chỗ để hò hẹn, dù bấy lâu trời đêm luôn luôn tối. Bên hàng thịt, chúng tôi buồn. Thằng Láng đi trước, nó đi đâu không rõ. Cha con thằng Rớt đi sau, tìm chỗ sinh sống. Trẻ nhỏ vui vẻ, sống động hơn người lớn. Thằng Láng, thằng Rớt không còn, bọn già buồn ngơ. Con Mau không biểu diễn bài chòi vì chẳng thấy hứng thích. Hôm kia chỗ thằng Nhoi nằm lại xuất hiện một vũng nước, nó dời qua chỗ khác chả buồn quét, chắc đó là nước tiểu của con Cheo. Những ngày vui xưa giờ đây chỉ còn như những ngày êm đẹp trong tuần trăng mật xa xôi để đôi vợ chồng đầu bạc nhìn nhau nghĩ lại mà tưởng nhớ.
       Một con mèo trên tường hàng thịt nhảy phóc xuống, nom tới bên cái chõng hàng, nó bước từng bước nhẹ, thấy giống bộ thằng Láng, mấy tháng trước vẫn thường len lén men theo mấy chõng tre như thế, để rình xem những đôi nhân tình ghì nhau trên nền chợ. Chợt có một giọng hát cất lên, tôi nhỏm người dậy nghe, không phải con Mua hô bài chòi. Tiếng một người đàn bà ru con ở đâu đây vẳng đến, như tiếng súng vẫn thường nổ ầm ì nơi nào xa xăm, theo gió mây bay vào đây, vào những chiều xẩm tối ./.

CHỜ MONG MÒN MỎI


       Soi phải đi biển dù anh mới khỏi bệnh, chưa mạnh hẳn. Anh bệnh hơn ba tháng, khiến cảnh nhà vốn cực khổ lại càng lún sâu vào khốn quẫn. Đễ – vợ anh – đi cuốc mướn gặt mướn chẳng kiếm được bao nhiêu. Nằm một chỗ nhìn vợ xuôi ngược anh không yên bụng, nhưng bất lực, chẳng biết làm gì. Đến lúc đứng dậy được, bước xuống chõng, đi chưa vững, anh đã tính việc lo tìm cái ăn. Anh tới nhà lão Ngại mượn tiền và lúa, chuẩn bị lương thực cho một chuyến đi biển dài ngày. Anh còn nợ của lão khá nhiều, lớp cũ lớp mới. Cả làng Bá Hà, hơn ba mươi nóc nhà, đều là con nợ của lão. Ai vay lão cũng cho, và ai cũng vui vẻ lúc vay, tới khi trả thì nửa mếu nửa khóc. Lão tính lời rất cao, cao ít thấy.
       Làng Bá Hà này nằm trong xó núi, heo hút, nhưng lão Ngại là người giàu nhất vùng. Lão có tám chục con trâu, hơn trăm mẫu ruộng. Nhà lão là một tòa dinh thự đồ sộ, lộng lẫy, ở giữa làng. Lão sống trong đó với chín đứa con và khoảng hai chục đầy tớ, người ăn kẻ ở. Ba bà vợ lão đã qua đời từ lâu, cả ba đều chết trẻ, lúc chưa đến bốn mươi. Những cái chết ấy khó hiểu, mờ ám. Đàn bà sợ hãi, không ai lấy lão nữa. Họ sợ đến mức chẳng dám bước vào sân nhà lão. Sợ gì? Không ai giải thích rõ ràng, rành mạch được. Vì những điều đe dọa họ thực ra trước sau vẫn chỉ là những lời đồn thổi. Người ta nói chuyền tai nhau, thêm bớt, thừa đầu thiếu đuôi, như chuyện quỉ ma hiện giữa ban ngày. Nhưng nỗi sợ là có thực, và khá to lớn. Người làm công làm mướn cho lão Ngại đều là đàn ông con trai. Lão tức giận, nổi khùng. Lão chửi bới, nguyền rủa, căm ghét láng giềng, hàng xóm… Thiên hạ đồn gì để hại lão? Họ nói, ba bà vợ lão đã từ trần vì cùng một chứng bệnh: bệnh giường chiếu! Có ai đó bảo rằng bà vợ thứ ba của lão đã tiết lộ, lão là tay bạo dâm. Khi về sống với lão, thời gian đầu, trong nhiều năm, chị ta bị hành hạ tàn bạo, đêm ngủ không được bận quần áo. Lúc chị sinh nở, mới hai chục ngày, lão đã mò vào buồng, đòi “ăn nằm”. Chị xua đuổi, van xin mấy cũng không thoát. Chị đau yếu rề rề, kiệt lực do chuyện chăn gối. Khả năng ngủ nghê của lão Ngại “bạo liệt”, khác thường!… Sự việc có đúng như vậy không? Chị ta còn nói những gì? Thật khó đoán. Chị ta chết lúc 34 tuổi, sau hơn sáu năm sống với “lão ôn dịch”.
*
       Giữa sân có khoảng chục người đang ăn cơm chiều. Đây là các tá điền và người làm mướn. Họ ở trần, chỉ mặc quần đùi, ngồi bệt dưới đất. Nồi niêu chén bát để trong cái nia lớn. Bốn con chó to nằm vây quanh, nhìn nia cơm lom lom. Lão Ngại ngồi uống trà trên thềm. Thấy Soi vào, lão hỏi ngay:
       “Đến trả nợ phải không, anh bạn?”
       Soi ngồi xuống bên cây cột, cạnh bàn nước.
       “Dạ, chưa trả, cháu…”
       “Không trả thì mượn chớ gì?”
       Lão cười, cười thật to. Chuyện gì làm cho lão vui? Soi bối rối,chẳng biết phải nói điều nào trước.
       “Mày mạnh rồi hẳn?”
       “Dạ. Mới bớt hai bữa nay. Cháu định mai đi khơi… cháu sẽ ra đảo Khô, ở lại đấy chừng mươi hôm, nghe nói ngoài đó biển thuận… Mấy tháng nay cháu nằm một chỗ, nhà trống trơn, mắm muối gạo thóc hết sạch.”
       “Tao có nghe, mày bịnh lâu.”
       “Cháu qua mượn cậu Mười ít lúa và…”
       Lão Ngại khoát tay lia lịa như đuổi muỗi.
       “Không “và”! Có lúa đã là may. Để coi, mày còn thiếu bao nhiêu.”
       Lão nhíu mày, đưa tay bóp trán. Động tác này giống như ta tra chìa khóa vào tủ. Ở đây tủ là cái đầu. Toàn bộ “dữ liệu”, tên tuổi, số lượng, năm tháng, lão Ngại đều cất vào đầu. Ngăn nắp, kỹ lưỡng. Lão nhớ rất tài. Không lẫn lộn, không thiếu sót. Chỉ cần bóp trán, trong giây lát lão sẽ thấy mọi thứ, sẽ đọc ra vanh vách hàng dãy hàng chuỗi con số, khiến cho đám con nợ khiếp hãi, nể phục.
       “Đây rồi, nghe cho rõ.”
       Lão đọc số lúa, số tiền, ngày mượn. Khá nhiều, tổng cộng bốn lần, lần lâu nhất đã ngót hai năm. Khó mà trả cho hết số nợ này.
       “Đúng không?”
       “Dạ đúng!”
       “Nhiều quá, nay mượn nữa, làm sao trả?”
       “Dạ, cháu sẽ trả hết” Soi nói, chắc nịch, để lão già tin tưởng.
       Lão Ngại ngồi im lặng, uống liền hai chén trà, lim dim mắt như ngủ gật.
       “Nhiều đứa tới đây vay mượn, vẫn dẻo mồm em em cháu cháu, cầu xin ngon ngọt, nhưng về đến nhà thì chửi tao ngay. Chúng gọi tao là thằng bất nhân, yêu quái hùm beo… Theo mày, tao ác đức, hay thương người?… Không có tao vô số thằng chết đói.”
       Soi “dạ, dạ” như điểm nhịp cho lão nói.
       “Rồi, bao giờ trả nợ cũ? Xong cái cũ, sẽ tính tới cái mới.”
       “Dạ, cậu cho cháu hẹn ba tháng.”
       Lão Ngại trợn tròn mắt.
       “Cha ơi! Mày có phép gì… hay định đi ăn cướp?”
       “Cháu sẽ làm đêm làm ngày. Cầu trời cho cháu mạnh lành hẳn…”
       “Giỏi đấy, nghe qua tao đã phục” lão nói bằng giọng mỉa mai. Quay ra sân, lão gọi: “Thằng Chim đâu.”
       Một thằng bé ngồi trong tốp người ăn cơm, dạ lớn, chạy tới. Nó chừng mười lăm tuổi, đen sạm.
       “Nói cho anh Soi đây nghe, mày ở với ông mấy năm rồi?”
       “Dạ, bốn năm.”
       “Ông trả công cho mày bao nhiêu?”
       “Dạ, hai con nghé trâu.”
       “Còn gì nữa?”
       “Gạo, nón mũ, quần áo.”
       “Mày sẽ ở đến chừng nào?”
       “Dạ, tới già!… Ông nói, khi cháu lớn ông sẽ cưới vợ cho, và cho mượn tiền để cất nhà!”
       Xua thằng bé đi, lão Ngại cười hê hê.
       “Mày nghe tận tai rồi đấy. Tao thương những đứa siêng năng, hiền lành, thiệt thà…”
       Soi lúng túng, hết nhìn ra cổng lại nhìn xuống chân.
       “Nhưng cái gì cũng có giới hạn, đẹp người, đẹp ta… Tao đâu phải thánh, lấy của đâu tao nuôi cả cái làng rách rưới này… Nghĩ lại đi, mày có thể trả xong nợ không? Nói ba tháng là nói lấy được… Đừng cãi, tao bằng tuổi cha mày mà!”
       Lão Ngại làm cao. Lão thích nghe người ta tâng bốc mình. Đợi cho Soi xuống giọng năn nỉ, than thở hồi lâu, lão phán gọn:
       “Thôi được, cho mày mượn thêm ba giạ, nhưng tiền thì không.”
       Soi đón bao lúa từ tay thằng Chim, bước xuống sân. Lão Ngại tới gần, nói nhỏ:
       “Có cách này giúp mày trả nợ. Mày cho con Đễ tới đây làm phụ việc bếp núc cho cậu, sáu tháng… Chỉ sáu tháng cậu Mười sẽ xóa hết nợ.”
       Soi hoảng sợ. Anh tưởng mình nghe lầm. Đễ sẽ chui vào cái hầm u ám này sống chung với lão cọp?
       “Sao, được không? Chỉ toàn việc nhẹ thôi. Lo cơm nước cho đám tay cày, và giặt giũ chút ít cho lũ nhỏ.”
       Soi sợ cứng miệng, anh quay đi, không nói một lời.
       Vác bao lúa ra khỏi nhà lão trọc phú, Soi đi một mạch đến đầu dốc Cát. Anh dừng lại bên gốc cây cầy, nghỉ chân. “Đúng là con cáo nhiều mưu mẹo. Lão ta nói một đằng làm một nẻo. Nhưng khi còn túng quẫn thì mình vẫn còn phải nằm gần móng vuốt của lão… Nghèo khổ là đau xót, nhọc nhằn, cay cực. Có nên kể chuyện này cho Đễ biết không? Chắc phải kể. Để nàng hiểu rõ, tìm cách chống đỡ, đề phòng.”… Chỉ vác chừng này lúa mà Soi thấy mệt, chân run, mồ hôi ướt áo. Anh chưa mạnh. Nhưng anh phải đi làm, gắng vượt qua cái khó.
       Chợt Soi thấy đằng xa có người cắm đầu chạy. Tướng thằng Chim. Đúng là Chim. Tới nơi, nó mệt, thở hồng hộc. Nó đưa cho Soi một gói nhỏ bọc bằng vải nâu.
       “Tiền đây!” Không đợi Soi hỏi, nó giải thích: “Tiền của ông Mười cho anh mượn. Ông nói lúc nào trả cũng được.”
*
       Đã hơn ba tháng nhưng Soi vẫn chưa ­về. Thời gian đầu Đễ bồn chồn, trông ngóng, sau đó chị buồn rầu, lo sợ. Chị nhờ người thân dò tìm giùm, nhưng không thu được một tin nào tươi sáng. Chẳng ai gặp Soi trên đảo Khô, cũng như trên các bến bãi, vũng vịnh trong vùng. Ai cũng nói, chắc anh gặp nạn giữa biển rồi. Chỉ có Đễ nghĩ rằng anh chưa chết. Anh sẽ trở về. Con người hiền hậu, thương vợ thương con như thế không thể chết được.
       Cuộc sống của mẹ con chị còn bị lão Ngại xen vào quấy tung lên. Lão đến nhiều lần, nói phải nói trái, dỗ dành ngon ngọt. Lão vẽ ra cho chị thấy, chỉ lão mới có đủ sức giúp chị thoát khỏi cảnh bần cùng. Đến ở với lão chị sẽ giũ sạch nợ nần, và có tất cả những gì chị muốn.
       Lần thứ tư – lần sau cùng – lão Ngại đến vào khoảng đầu canh hai. Đễ không dám mở cửa. Lão già ngồi chóc ngóc ngoài thềm, nói chõ vào:
       “Cháu rất may mắn, biết không. Ở vùng này cậu chưa hề cầu cạnh ai… Thường thì thiên hạ kéo tới chầu chực trước ngõ nhà cậu hàng đàn.”
       “Cháu biết.”
       “Mọi người đều nói thằng Soi chết rồi… nó đã tan vào biển xanh.”
       “Dạ, ảnh sẽ về.”
       “Về thế nào… đã gần bốn tháng!”
       “Ảnh tốt, thương vợ con, thương cô bác anh em… không thể chết được.”
       “Người tốt chết sống khác người thường?”
       “Họ không chết trẻ, chết thảm.”
       Lão Ngại cười.
       “Tốt, xấu, giàu, nghèo đều chết cả… Điều cay nghiệt của đời sống nằm ở đó. Kẻ xấu có thể gặp rủi ro, người tốt cũng vậy.”
       Thằng nhỏ nằm trên chõng trở mình, khóc mớ. Gió thổi ù ù như muốn tăng thêm độ giá lạnh quạnh quẽ cho đêm quê.
       “Chừng nào ta sờ được mặt trăng kia thằng Soi mới về.”
       “Cháu khấn cầu ngày đêm…”
       Lão Ngại thở hắt rõ to.
       “Cứ ngồi đó mà chờ trời cao ban phước… Sống lâu rồi cháu sẽ thấy, nhiều lúc ta tìm đỏ mắt cũng chẳng gặp gã Trời!… Cháu có quyền ước mơ, nhưng chớ nên khâu sẵn cái túi để chực hốt vàng bạc của bà tiên chiêm bao!” Nghỉ giây lát, lão đổi giọng: “Nhìn kỹ mà xem, cả xứ này ai rộng rãi như cậu? Nhưng lòng tốt cũng có mức độ… Hãy nghe cho rõ, món nợ của nhà mày rất lớn, kéo dây dưa quá lâu, hơn hai năm rồi. Thằng Soi hứa trong vòng ba tháng sẽ trả. Nay đã đáo hạn… Nếu mày không đến ở trừ nợ thì cậu Mười đây sẽ thu hết giường chiếu lu hũ gà qué, và xiết nhà. Chúng mày chỉ có cái nhà rách này đáng giá. Mất nhà, thử hỏi mẹ con mày rúc vào đâu?”
       Nói xong, lão ho, khạc nhổ ầm ĩ, đứng phắt dậy, đi về. Chị đàn bà khốn khổ buồn đau, khóc vùi… Rạng sáng, chị dậy sớm, bịn rịn rời bỏ căn nhà nhỏ thân quen, bồng con đi ra biển.
*
       Chị đứng đó, câm lặng, trơ trọi giữa đất trời quạnh hiu. Thằng bé chị bồng trên tay đã hóa đá. Phần lớn cơ thể chị – từ cổ trở xuống – cũng đã thành đá. Vậy là mọi sự mong chờ bỗng chốc tan biến. Cứ tưởng như chị đứng đây đã ngàn năm, hay từ thời khai thiên lập địa… Sau những ngày dông gió, biển trở lại hiền hòa. Trời quang mây, sáng rỡ, trông như cao hơn trước. Biển lặng, nước xanh lơ, khó thấy một gợn sóng. Ngoài xa ghe thuyền qua lại giăng mắc, nhưng chúng chỉ đi theo hai hướng, ra vô, nam bắc, không chiếc nào hướng mũi thẳng vào đây – phía mặt trời lặn – vào cái bến khuất nẻo này. Còn lại cái đầu da thịt, chị vẫn nghe và thấy, vẫn ngóng nhìn ra khơi. Chắc là Soi đã gặp bão dông, ghe chìm giữa vời, chẳng ra đến hòn Khô… Đêm cuối cùng anh chị không ngủ, thức trắng với nhau, thì thầm trò chuyện như những ngày mới quen thuở xưa. Soi nói, anh không muốn mượn tiền, lúa của lão Ngại, bởi anh biết rõ tâm địa, đọc được ý đồ của lão. Dân làng đều biết chân tướng lão. Lão giăng ra một cái bẫy, bao lúa gói tiền là tấm lưới. Rồi lão sẽ mai phục, rình mò tại một góc ruộng nào đấy, chờ con mồi lơ ngơ đến nạp mạng… Anh dặn, chị đừng đến ngôi nhà hắc ám đó, không nhận bất cứ thứ gì của lão đưa tặng. Chắc chắn lão sẽ dùng các trò trí trá, các đòn phép mập mờ để quyến rũ, lừa gạt. Đó là những hũ mật ướp thuốc độc. Anh sẽ cố gắng làm lụng để trả nợ. Thời trẻ ai cũng khổ cực, nhưng rồi sẽ qua đi. Anh tin vào trời Phật, thần thánh, tin vận may sẽ đến với mình… Ai ngờ đây là đêm chia ly. Soi hôn lên tóc, lên trán con. Anh cầm đôi tay nhỏ nhắn của nó. Anh hôn hai má vợ tới tấp. Chị khóc. Mới gượng ngồi dậy được có ba ngày, ăn cơm còn đắng miệng, mà anh phải đi khơi!
            Mặt trời lặn. Những vệt nắng yếu ớt, mờ nhạt trên biển vụt tắt. Có thể đây là ngày cuối cùng của chị. Tối nay chắc đầu chị sẽ thành đá. Chấm dứt chuỗi ngày khắc khoải đợi mong… Trời dịu mát, nước biển chuyển sang màu xanh sậm. Chợt nơi đường chân trời xa tít xuất hiện một chấm đen nhỏ. Nó di động, lớn dần. Lát sau đã có thể thấy rõ, một cánh buồm. Chị nhìn nó chăm chú, dù không còn biết mừng… Chiếc ghe đến gần hơn. Đúng là nó chạy thẳng về cái bến nhỏ này… Ghe ai về? Bóng đêm úp chụp xuống gành đá, phủ trùm pho tượng vô tri! ./.