26 thg 10, 2015

THỜI HOA MỘNG



        Thị xã Tân Thanh nhỏ và đẹp. Nó nằm sát biển, cạnh một đồng bằng rộng, màu mỡ. Tôi đã sống ở đó ngoài hai năm. Sau này được ở nhiều nơi, nhưng không đâu tôi yêu thích bằng Tân Thanh. Đây là nơi tôi có những người bạn thân nhất, có nhiều kỷ niệm khó quên, và có Duyên.
        Năm 1970 từ trường Sư phạm ra tôi được bổ về dạy tại một vùng heo hút cách quê tôi trăm rưỡi cây số, cách Tân Thanh mười sáu cây số. Dù xa như vậy, tuần nào tôi cũng có mặt ở thị xã một hai ngày, bởi tôi ghiền xi-nê, phở, và lũ bạn vui nhộn. Ban đầu, nhờ sợi dây thơ văn tôi quen Bạch Hải, anh Duyên. Qua Hải tôi nhanh chóng thân thiết nhóm văn nghệ sĩ của thị xã.
        Tôi hòa nhập vào gia đình Hải khá êm xuôi. Nhà này có máu văn nghệ, ai cũng thích đọc sách báo. Ông bà Mạnh (cha mẹ Hải) là độc giả lâu năm của các báo khoa học kỹ thuật, thể thao. Duyên mua Phụ nữ, Thời mới. Còn Thu Tâm – em Duyên – mua một lúc ba bốn tờ, gồm cả văn nghệ, văn hóa và sân khấu. Thu Tâm còn đi học, sắp thi tú tài, rất yêu thơ. Cô bé mến phục tôi, ngưỡng mộ cái Thi đoàn vang danh La Hoa. Cô đa sầu, giàu tình cảm, mỗi khi đọc truyện gặp những đoạn buồn là khóc đỏ mắt. Tâm khen thơ tôi ngọt ngào, sâu sắc. Cô nàng thường nằn nì nhờ tôi ngâm thơ cho nghe. Tâm chịu những bài ướt như vớt dưới nước lên, và trong đó có nhiều “gió trăng”, “hò hẹn”, “thiếp chàng”. Tôi ăn chực, mọc rễ ở nhà Hải. Người lạ có thể tưởng lầm tôi là con trong nhà. Không chỉ tốn cơm, nhiều lúc ông Mạnh còn cho tôi tiền để tiêu vặt.
        Ít lâu sau tôi và Duyên “cảm” nhau. Nói cho trung thực, tôi chưa hề tán tỉnh Duyên câu nào. Đây chỉ là mưa lâu thấm đất. Dạo đó gặp dịp Tết, được nghỉ dạy nửa tháng, tôi về thăm nhà. Nhưng mới bảy ngày tôi đã trở ra. Duyên ngạc nhiên: “Ô kìa, ông thi sĩ, ra chi sớm vậy?” Lúng túng một chặp, rồi tôi thú thật: “Buồn, buồn không chịu được… nhớ ai quá!” Duyên hiểu ngay, nàng xúc động, mặt hồng lên, bối rối chớp lia đôi mắt Tân Thanh to đen, ươn ướt… Ngay tối ấy chúng tôi đến trụ sở ban Ly Tao “trình làng”. Lũ bạn tôi không ngạc nhiên mấy, tỏ ra rất hoan hỉ. Ông bà Mạnh và Hải phớt lờ, làm như chẳng biết gì, và chúng tôi  coi thái độ đó là đồng tình. Thu Tâm nhận xét nhẹ nhàng: “Bà Duyên sống trong môi trường trần tục – Duyên làm ở ngân hàng – mà lại kết cặp với người của trăng sao, kể cũng lạ”.
        Nhóm nghệ sĩ tinh hoa của thị xã này, (có tôi vào nữa là sáu người), đứng chủ trương Thi đoàn La Hoa (núi Hoa Sơn, sông La), và nắm luôn ban Ly Tao, chuyên ngâm - bình thơ trên đài phát thanh địa phương. La Hoa chào đời trước Ly Tao nửa năm, có đường hướng cụ thể: “Sáng tác thơ ca và trợ lực nhau cùng tiến bộ trên đường phục vụ nghệ thuật”.
        Ở đây tôi được bốc lên thành thi hào, vì là người có nhiều thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn, và đã xuất bản một tập thơ: tập “Tưởng là tình lớn”. Các thành viên khác đều còn mò mẫm, lận đận. Ngay như nhà thơ Lê Tưởng, trưởng ban Ly Tao, cũng chỉ có sáu bài thơ được đăng báo. Tính trung bình, anh phải gởi đi hăm bảy bài thì đám chủ bút thiển cận đáng ghét ở Sài Gòn mới chấm một bài. Với thi sĩ Bạch Hải, nhân vật thứ nhì của La Hoa, kết quả còn khiêm nhường hơn. Sau bốn năm múa bút, Hải chỉ có ba bài được lên báo. Nhưng điều này không hề làm Hải nhụt chí, lại càng khiến anh mạnh tay hành hạ những trang giấy trắng, và giọng thơ vốn đã phẫn càng thêm phẫn.
        Người viết khỏe, có số lượng thơ ra lò nhiều nhất là Mai Phong. Anh lãnh hai chức danh: đầu tàu Thi đoàn La Hoa và ủy viên giao tế của ban Ly Tao (chúng tôi cũng mắc bệnh háo danh, chứng bệnh buồn cười của loài người, nên tên nào cũng khoác vào mình nhiều chức tước tự phong).
        Mai Phong là người duy nhất trong bọn có vợ. Trước kia, do một sự “sai lầm đáng tiếc” Phong cưới vợ hơi sớm, nên nay mới hăm ba tuổi anh đã có ba con. Vợ Phong chất phác, rất kính phục chồng, tuy chị không hề sờ đến sách báo… Mai Phong sống theo lối “phiêu bồng”. Bề ngoài trông anh nhếch nhác, bẩn thấy rõ. Về cái ăn, thì bạ đâu sà vào đấy, chủ yếu ăn nhờ nhà Tưởng và Hải. Tiền lương Phong thường tiêu vèo trong năm, bảy ngày, chi trọn cho mấy quán cà phê, bún bò, tiết canh vịt. Vợ Phong cần mẫn làm lụng nuôi con, cam chịu túng thiếu, không trách chồng tiếng nào. Nhưng ông cụ thân sinh Phong thì tích cực bày tỏ thái độ phản đối. Bữa nọ cụ khăn gói ra phố, leo lên tận hang ổ ban Ly Tao, hùng hổ dạy cho ông con nhà giáo – nhà thơ một bài sấm sét. Quá giận nên cụ mắng rất thô: “Này, mày như con heo đực, xổng chuồng là cùi cũi đi mất, chẳng lo gì nữa. Lâu nay vợ con mày thế nào? Chắc chắn không biết. Sống như thế, tao không hiểu mày dạy trẻ con ở trường những gì. Muốn làm ông gì cứ làm, nhưng chớ quên mình là ông - người”. Nói bấy nhiêu lời xong ông cụ quay trở xuống, về thẳng. Mai Phong thở dài, than: “Đầu và mắt các cụ đã hình thành trước đây hơn nửa thế kỷ, nên không hy vọng các cụ nghĩ và thấy điều gì hay ho được!” Rồi phải nhờ ông Vạn Thọ – cha Lê Tưởng – đứng ra thu xếp, sự vụ mới ổn. Ông bảo Phong cứ ăn tại nhà ông, không phải trả tiền, còn lương thì cắt một nửa gửi về cho vợ.
        Hai người sau chót của nhóm, sự nghiệp văn chương mới khởi đầu, chưa có gì nhiều: Võ Hoàng, họa sĩ kiêm ủy viên kỹ thuật, thi sĩ lãng mạn của thế kỷ 19 còn sót lại – và Thái Huyền, phụ trách tài chánh kiêm thư ký. Chúng tôi thường âu yếm gọi Huyền là ủy viên du hí. Anh sành về rượu, giỏi chạy tìm đồ nhậu, nấu nướng khéo tay.
        Chúng tôi sống mạnh được phần lớn nhờ nơi cái bụng quãng đại của ông Vạn Thọ, một người vui tính, rất giàu, tốt ít có. Ông dành cho chúng tôi một căn phòng trên lầu, kế phòng ngủ Tưởng, làm trụ sở. Phòng thênh thang, có một tủ sách lớn, một bộ ghế bành to kềnh, hai cái giường bằng gỗ quý đóng kiểu cầu kỳ, và hai bàn làm việc dài ngoẵng. Trên hai chiếc bàn này chúng tôi đã bình văn, ăn nhậu, tán phét về mọi sự đời, và làm thơ. Chúng tôi ca ngợi những áng mây chiều nằm xoãi trên đỉnh Hoa Sơn; những con sò huyết, đặc sản của xứ dừa, ngon và bổ, chắc trời sinh ra để đi kèm với rượu nếp; những đôi mắt của những người con gái Tân Thanh (ôi, đôi mắt đen láy, tình tứ, long lanh, từ mấy trăm năm trước đã bước vào thơ phú, ca dao: “đa tình con mắt Tân Thanh”). Không ai tính được chúng tôi đã tiêu phí bao tạ giấy mực, và hóa kiếp mấy ngàn con sò huyết. Chỉ riêng hòn Hoa Sơn cũng đã làm hao tốn biết bao tâm trí. Đó là hòn núi đơn độc đứng chắn ở cửa ngõ phía Tây thị xã. Chúng tôi mổ xẻ, phân tích đủ các mặt của nó: dáng núi trầm ngâm (vì rằng chưa ai nghe nó nhiều lời bao giờ) – cái vẻ cao vút hiên ngang (cao hơn mặt biển 620 mét) – nỗi buồn kinh niên của núi (đứng trơ chõng một mình, vui sao được) – nỗi đau triền miên khó dứt (thiên hạ ủi sạt một khoảng lớn dưới chân núi, lấy đất làm phi trường)… Đọc số thơ này, người ta có thể tưởng chúng được viết ra từ một xứ nào vốn thanh bình từ ngàn năm nay, chớ không phải ở đây, nơi mà nhiều đêm súng đã nổ thảng thốt ngay tại xóm Gò Dứa (sát nách thị xã), tiếng đạn đuối rơi xèo xuống đại lộ Nguyễn Huệ. Có lần Duyên nói: “Đời có lắm chuyện vô lý, nhưng vô lý nhất là người ta chịu chi tiền để các ngài viết lách khóc thương vô bổ”. Nhưng chính nàng cũng “vô lý”, vì đã để con tim mình chạy rông: Duyên yêu tôi, khác gì yêu cái món thơ văn làng nhàng?
*
        Hơn hai năm sau, bất ngờ tôi được đổi về một tỉnh phía nam, cách Tân Thanh ngoài bốn trăm cây số, theo ý muốn của cha tôi. Ở đó cha tôi có một người bạn thân vừa được thăng lên một chức khá lớn bên giáo dục. Cha tôi nói, thời này muốn sống vững phải quen biết rộng, nếu không thì suốt đời sẽ nằm trong bóng tối. Tiền đồ của tôi muốn sáng lóa phải nhờ ông quan bự ấy đỡ cho một tay. Dù không muốn, tôi cũng phải đi. Cha tôi rất cứng rắn, khi ông đã bảo thì vợ con phải coi như pháp lệnh, đừng mong cưỡng chống.
        Vô đến nơi tôi được hưởng ngay cái thuận lợi đầu tiên: dạy tại một trường nằm trong thị xã. Nhưng tôi vẫn buồn không nguôi, vẫn nhớ Tân Thanh đờ đẫn cả người.
        Mỗi tuần một lần, tôi và Duyên gởi cho nhau những bức thư dày cộp, trong đó chứa đầy buồn khổ, nhớ nhung. Nhưng tình trạng ấy chỉ kéo dài được vài tháng, sau đó nhịp thư thưa dần, rút xuống còn nửa tháng một lá, rồi mỗi tháng một lá. Trong tôi nỗi nhớ tuy không vơi nhưng hình như đã “nhẹ” đi. Và thư Duyên thì lá sau luôn ngắn hơn lá trước… Đến tháng thứ tám tôi được các bạn ở Tân Thanh báo cho tin buồn: Duyên quen người khác. Tôi sửng sốt, và không tin. Sao Duyên hời hợt, đổi thay nhanh đến thế! Nhưng cái tin nản lòng đó cứ được lặp lại đều đặn. Không có cách nào kiểm chứng nguồn tin, tôi thấy mình bất lực, đáng thương. Đúng lúc ấy tôi gặp Hiếu – vợ tôi hiện nay. Té ra trên trái đất còn có những cô gái khác cũng có miệng cười làm ấm lòng người, giọng nói ngọt lịm, và những cử chỉ làm duyên nho nhỏ, ngồ ngộ, đáng nhớ! Ngẫm lại, tôi thấy khối tình trước đây của mình không lớn nặng như lâu nay mình vẫn tưởng!
*
        Chiều hôm đó – mười một năm tròn sau ngày ấy – tại thị xã Thới Bình (quê Hiếu) trên đường đi làm về, tránh một cơn mưa bất chợt, tôi chạy vào trú trong một quán nước bên đường. Duyên và con gái đã ngồi trong đó. Duyên nhận ra tôi trước. Chúng tôi hét toáng lên vui mừng, chào hỏi rối rít, làm bà chủ quán ngạc nhiên. Kéo tôi tới bàn, Duyên gọi cho tôi một ly chè đá, (dù trời lạnh), và hỏi dồn hàng chục câu.
        Khi bình tĩnh trở lại chúng tôi mới nói chuyện rành mạch, có đầu đuôi. Duyên hiện có hai con. Bé gái đây tên Ngọc, sáu tuổi, còn bé trai ở nhà vừa biết đi. Chồng Duyên tên Yên quê ở Huế, làm bên hải sản, mới đổi vô đây non hai năm. Vậy là đã ở gần nhau khá lâu nhưng chúng tôi không biết. Theo lời Duyên, bé Ngọc giống bố từ nước da, đến cái tai cái tóc. Dựa theo đó, tôi phác thảo ra Yên là một anh chàng đẫm thấp, mắt to, trán hơi vồ. Trông qua cách ăn mặc tôi đoán mức sống của vợ chồng Duyên dư dật. Duyên nhận xét:  “Anh gầy, và hơi già đấy nghe.” Tôi nói, nửa thật nửa đùa: “Một người không giàu, cõng một gia đình cồng kềnh thừa miệng ăn, thiếu tay làm, chưa chết là mừng”. Duyên không khác trước mấy, trông như trắng và cao hơn chút ít. Duyên hỏi liền năm câu về vợ tôi. Bất giác, tôi nhìn lại bộ quần áo thảm hại mình đang diện, cái mũ như miếng giẻ nằm ở góc bàn. Chắc Duyên đã thấy rõ chúng.
        Qua những lời Duyên kể, tôi thu tóm được những điểm chính của người và cảnh Tân Thanh. Các thành viên của nhóm thơ cũ đã tản mát mỗi người một nơi. Có thể thấy xa, nhiều người trong số đó, từ nay về sau tôi sẽ không còn gặp nữa.
        Bé Ngọc tới hiên đưa tay ra ngoài nghịch nước mưa. Duyên nói:
        “Anh quên hỏi một người”.
        “Thu Tâm?”
        “Tâm vẫn chưa chồng, nhưng đã có một con trai ba tuổi”.
        Duyên kể chuyện Tâm. Những năm vừa rồi có nhiều chỗ khá tốt đến dạm hỏi, Tâm chẳng chịu ai, rồi đùng một cái nàng dan díu với một anh y sĩ cùng làm chung chỗ. Anh này có vợ. Năm ngoái Tâm bị đánh ghen một trận khá nặng.
        Tôi đã thấy và hiểu tình yêu thường đem đến cho người ta nhiều chuyện ngoài y muốn, đau xót, trớ trêu, nhưng việc tai tiếng này của Thu Tâm cũng làm tôi buồn. Tôi không hình dung được gương mặt hiện nay của em. Trong trí tôi Tâm vẫn còn là cô bé xinh xinh, hay cười, thích kem ly, ya-ua, những lúc đọc truyện hoặc xem phim buồn thảm thường khóc.
        Tôi bổng nảy ra ý muốn về thăm Tân Thanh.
        “Tháng tới có phép, tôi sẽ về thăm chú thím và Tâm”.
        “Thật không, hay nói qua đường cho vui?”. Duyên hỏi.
        Tôi vội nói, như cam kết: tôi sẽ bỏ ra ba ngày về thăm Tân Thanh, thăm ông bà Mạnh và Tâm. Không hiểu sao bỗng dưng tôi lại sốt sắng như thế.
        Ngoài đường, một đôi trai gái che chung dù đi chậm dưới mưa. Cái dù xanh. Cô gái trang phục toàn xanh, từ quần áo đến cái xách tay. Tuổi trẻ. Một hình ảnh đẹp, như tôi đã từng xem trong một phim nào đó… Đêm ấy về, nghĩ lại, tôi thấy nổi lên một điểm: suốt buổi gặp mặt không lúc nào tôi nhớ ra là mình đã từng ôm con người thơm tho này trong tay, nựng nịu như nựng mèo con, hôn hít hàng trăm lần.
        “Anh chuẩn bị gà vịt sẵn nhé, mấy hôm nữa bọn này sẽ ra chơi. Vậy là nay chúng ta chỉ còn cách nhau có bảy cây số!”. Duyên nói.
        “Không gần đâu bạn ơi. Con số 7 này cũng như số 5 tấc đất, cự ly xa cách giữa người chết và người sống”.
        “Thảm quá!… Nay anh còn làm thơ không?”
        “Tôi nghỉ. Đến khi nào làm được theo cách mới, tươi vui, khỏe khoắn, có ích cho đời, tôi sẽ cầm bút lại… Nhóm thơ chúng tôi thời đó, Duyên biết không, nếu được đưa ra đứng trước mặt thi hào Gơt (J.W. Goethe, 1749 – 1832) sẽ bị ông gọi là “những thi sĩ của bệnh viện”, vì chuyên ca tụng những thứ ốm đau bệnh hoạn”.
        Duyên cười. Một chiếc xe đò bật đèn phóng vút qua. Mưa nặng hạt thêm, kiểu này thì khó biết đến lúc nào mới dứt.

Đọc MỘT CÁCH BUỒN PHIỀN của LÊ VĂN THIỆN



        Làm thơ là vượt lên thực tại và hủy bỏ thực tại. Viết truyện cũng là vượt lên thực tại, nhưng không nhằm và không thể hủy bỏ thực tại. Khi viết, nhà văn phải thiết yếu gắn liền với những chất liệu của thực tại để từ đó thiết lập những tương quan với thực tại. Tác phẩm (truyện ngắn, truyện dài) biểu lộ tương quan đó, có thể là những tương quan thật tình cờ, có thể là những tương quan đã được sửa soạn, và cũng có thể là những tương quan mà chính người viết cũng không rõ nguồn gốc. Nói tương quan, nghĩa là nói người viết phải vượt bỏ mình hướng về thực tại – và do đó, khi ở trong tác phẩm, thực tại không còn là chính nó nữa, không còn ù lì, lù lù ở đó nữa. Thực tại và người viết cùng hòa trộn trong một khung cảnh hoàn toàn mới. Bởi thế mà tác phẩm không phải là mô phỏng thực tại – tác phẩm là một sáng tạo.
        Một truyện ngắn là một công trình sáng tạo. Một truyện dài là một công trình sáng tạo. Nhưng truyện ngắn khác truyện dài. Không chỉ khác vì một bên là ngắn và một bên là dài. Truyện dài là một câu chuyện, có khởi đầu và có kết cuộc. Truyện dài trình bày đời sống với nhiều khuôn mặt, nhiều dáng vẻ, nhiều sắc thái. Nó đòi hỏi sự kết cấu, sự liên hệ giữa các khuôn mặt, các dáng vẻ, các sắc thái nhằm đưa đến một sự giải quyết cho câu chuyện.
        Trong khi đó, truyện ngắn trình bày những hoàn cảnh vụn vặt của đời sống. Những cái vụn vặt đó có thể bắt đầu bất cứ từ lúc nào, và trôi qua đi từ lúc nào. Chúng là những đoạn gãy khúc của đời sống toàn diện. Một tâm trạng, một khung cảnh, một nỗi xót xa, một thoáng buồn rầu… Truyện ngắn có thể chỉ như thế, nó không cần đòi hỏi phải mở đầu để nhắm đến một kết cục. Truyện ngắn cũng là một câu chuyện, nhưng chuyện nhỏ – và đôi khi nó không có gì là một câu chuyện cả. Nhân vật trong truyện ngắn không cần phải được đặt một thời gian xác định, hay một hoàn cảnh xác định hay những liên hệ xác định nào đó như ở trong truyện dài. Trong truyện ngắn người ta dễ dàng tìm thấy, cảm nhận những mảnh vụn lý thú của đời sống – những mảnh vụn mà nhiều khi trong truyện dài, người đọc (cũng như người viết) quên đi vì mãi lưu ý đến câu chuyện với các gút thắt của nó. Chính vì thế mà truyện ngắn dễ đưa người đọc đến sự bắt gặp trung thực những xúc động – không phải xúc động vì cuộc đời của một nhân vật, mà xúc động vì chính đời sống hệt như là đời sống.
*
        “Một cách buồn phiền” là tập truyện đầu tay của Lê Văn Thiện. Cũng như những người viết trẻ khác. Thiện đã khởi đầu nghiệp văn của mình bằng những truyện ngắn. “Một cách buồn phiền” gồm bảy truyện ngắn (Bảy mảnh vụn đời sống) đã được đăng tải rải rác trên hai tạp chí Văn và Bách Khoa. Tuy sống trong khung cảnh chiến tranh, và hơn nữa là một quân nhân, Thiện ít viết về chiến tranh. Một vài truyện dựng nên khung cảnh chiến tranh, và một vài truyện dựng nên những khung cảnh khác của khuôn mặt đời sống. Có những truyện hình ảnh chiến tranh chỉ thoáng qua, không quan trọng. Những nhân vật trong truyện của Thiện đều có những tâm hồn giản dị, bình thường, không thắc mắc, cầu kỳ. Vì thế mà những tác động, những cử chỉ, những ý nghĩ của họ không tạo nên những hình ảnh nặng nề. Những nhân vật sống sát trong thực tế, tầm thường, dễ thương. Những niềm vui đến với họ thật nhẹ nhàng, và cả nỗi buồn vây bủa họ cũng không gây nên những cảm tưởng quá thê thảm.
        Có thể sau đó niềm vui và nỗi buồn sẽ dần dà tạo nên trong tâm hồn những tác động sâu xa hơn, thấm thía hơn. Nhưng lúc đó, họ không kịp biết và không kịp cảm nhận như thế. Có thể vì cốt cách bình dị, họ đã nhìn ngắm đời sống một cách bình dị. Cũng có thể vì tâm hồn của họ tỏa ra trên một đời sống nhiều sắc thái, phong phú, nên mỗi một tuyệt vọng do một phần đời sống đem lại dễ bị tan loãng bên cạnh một phần đời sống khác. Mặt khác, khi người ta ít có những suy tưởng rắc rối, phức tạp về cuộc đời – do đó, ít tự cô lập mình vào trong một trạng huống, thì sự tuyệt vọng bớt lớn lao và bớt ám ảnh.
        Thiện đã xây dựng những nhân vật trong tác phẩm như thế. Đồng thời, Thiện thường chấm dứt (có phần đột ngột) truyện của mình khi một biến cố bắt đầu xảy ra. Như trong Ngoại lệ, truyện chấm dứt khi đứa bé chết. Trong Một cách buồn phiền, truyện chấm dứt khi một anh chàng vừa chợt biết cô gái bán hàng hôm sau đi lấy chồng.
        Suốt các truyện của anh, Thiện viết một cách bình thản, giản dị, Thiện viết bằng những hình ảnh chân thực, dễ dãi của đời sống chung quanh. Từ một người lính, một anh chàng dạy học, một người đàn bà, một kẻ ăn xin…, không ai cảm thấy bị bủa vây một cách nặng nề bởi các biến cố, biến cố nội tâm hay biến cố ở bên ngoài. Và do đó nên ngay khi phải đối diện với một hoàn cảnh bi đát, nhân vật của Thiện cũng không đến nỗi nhìn ngắm đời sống thê thảm méo mó đến độ tự đánh chìm mình trong những ám ảnh bệnh hoạn. Nỗi lo lắng, xao xuyến của nhân vật lúc nào cũng có vẽ chừng mực, tự nhiên.
        Thiện viết về đời sống một cách gần gũi thân mật. Thiện không mô tả quá lâu lắc, dài dòng về trạng thái nội tâm của một nhân vật.
        Anh cũng ít mớm vào các nhân vật anh những suy tư sâu sắc, dai dẳng về hoàn cảnh chung quanh. Thiện viết về hình ảnh, rõ ràng, dứt khoát – những gì mà anh thấy, nghe, trực nhận. Thiện rất ít lý luận trong tác phẩm của mình. Đọc anh người ta có cảm tưởng như đang được nghe anh kể lại những mẩu chuyện vụn vặt, tầm thường của cuộc sống. Những mẩu chuyện, nhiều khi chẳng có một ý nghĩa nào. Thực ra sự không-có-ý-nghĩa nào đó lại chính là một ý nghĩa. Mà ý nghĩa cao nhất của đời sống nằm ở trong những cái vụn vặt, tầm thường đó. Thiện không khoác lên các nhân vật trong tác phẩm anh những hoàn cảnh thật độc đáo, đặc biệt – anh cũng không khoác lên nhân vật những ý nghĩ triết lý thâm trầm, sâu sắc. Những câu đối thoại giữa các nhân vật đơn giản, thành thật. Có nhiều nhà văn thường có khuynh hướng chỉ viết lên những câu đối thoại nhiều ý nghĩa, chặt chẽ nhằm diễn tả một ý nghĩ, tư tưởng nào đó liên hệ đến ý tưởng của câu chuyện. Thiện không thế: Những lời đối thoại trong tác phẩm Thiện rất sống, rất thực. Và người đọc, không cần tinh ý cũng thấy khá rõ ràng trong các truyện ngắn của anh, phần đối thoại nhiều – Thiện đã viết những lời đối thoại gần như anh nghe, anh thấy.
        “Một tốp năm người đàn bà gánh thúng mủng bước đi nhanh.
        - Ý, ông địa ơi!
        Một bà đâm bổ tới sát xe đạp. Mấy bà khác dừng lại.
        - Ai đứng kỳ vậy?
        - Dạ con.
        Bà mặc áo dài đến nhìn tận mặt Kiên:
        - À thằng Kiên. Tưởng ai”. (Ngoại lệ, trang 11).
        Một đoạn khác:
        “Mấy hôm sau nó về nhà, mẹ nó gắt gỏng, hạch sách:
        - Mấy ngày nay thằng nào, con nào chứa mày, hở thằng ôn kia?
        - Không có ai chứa hết.
        - Vậy mày ăn cứt à?
        - Tui lớn rồi tui làm tui ăn”. (Chợ tối, trang 36).
        Những lời đối thoại ở văn Thiện đều có vẻ dễ dàng như thế. Đó là điểm đặc biệt nhất trong các truyện ngắn của Thiện. Còn lối mô tả nhân vật, cử chỉ, mô tả khung cảnh của Thiện cũng có vẻ dễ dàng không kém. Ngôn ngữ dễ hiểu, hình ảnh sống động, cách diễn tả đơn giản chân thật.
        “Vợ chồng thằng Mau trông tội nghiệp lắm. Thằng chồng trông thấy nhưng không đi được, con vợ đi được lại mù tịt cả hai mắt. Nên, khi ăn xin, thằng chồng lết trước, con vợ lần mò theo sau. Một sợi nhợ cột ngang hông thằng chồng nối liền với cánh tay con vợ đằng sau, là sợi tơ hồng gắn bó cuộc đời hai vợ chồng thằng ăn xin”. (Chợ tối, trang 32).
        Một đoạn khác:
        “Trời đất, hắn lại bắc qua một đề tài khác! Khang ngồi thẳng người dậy, nhìn hắn nói. Cái mặt trèng trẹt, mặt bánh đúc. Hai môi mỏng dính, thứ môi đàn bà thẽo trợt, thóc mách, ăn hàng. Tên này ở đâu hiện ra vậy”. (Một lần chiến bại, trang 87).
        Trong các tác phẩm của Thiện, ta cũng thấy thấp thoáng có hình ảnh chiến tranh. Có điều qua ngòi bút của Thiện, chiến tranh như đã bớt phần thê thảm, cũng máu lửa, cũng chết chóc, cũng hành quân…, nhưng tất cả có vẻ chỉ như một hoạt cảnh trên sân khấu, đôi lúc chúng không khác chi một trò đùa.
*
        Bảy truyện ngắn trong “Một cách buồn phiền” (MCBP) là bảy câu chuyện nhỏ. Chúng cũng là bảy mảnh vụn của đời sống có thể được tìm thấy bất cứ đâu đó. Những nhân vật trong “MCBP” có thể là ai đó trong chúng ta và chung quanh chúng ta. Một anh giáo viên có đứa con chết một cách “ngoại lệ”, người ăn xin với những kỷ niệm vui buồn, những chuyện tình vụn vặt… Thiện đã đưa người đọc vào một khung cảnh bình thường, đơn giản, thuần hậu – Ở đó, mọi tác động đều chân thực, mọi ngôn ngữ đều dễ dàng, mọi ý nghĩ đều tự nhiên, ít cầu kỳ, khúc mắc. Thiện không chi li, phân tích tỉ mỉ từng nhân vật, từng hoàn cảnh. Anh chỉ vẽ phác những khuôn mặt của đời sống – đời sống mà cái đơn giản nhất, tầm thường nhất vẫn thường ẩn giấu những nội dung sâu xa, thấm thía nhất. Có lẽ vì thế mà khi mới đọc, người ta khó thấy ngay cái độc đáo trong văn Thiện. Phải chăng người ta thường dễ bị lôi cuốn bởi những truyện ngắn có những lời đối thoại triết lý, có những đoạn văn phân tích, mổ xẻ dài về tâm trạng, ý nghĩ của nhân vật? Dù sao, giá trị của một tác phẩm không hẳn chỉ hệ tại ở sự lôi cuốn tức thời đó.
        Đọc văn Thiện, người ta bắt gặp những xúc động thật nhẹ nhàng, ngay cả những xúc động về những hình ảnh chiến tranh, có lẽ vì Thiện có một lối nhìn ngắm đời sống dễ dãi, tự nhiên, thân mật.
        Trên đây là ý nghĩ của một người đọc đối với Một cách buồn phiền, tác phẩm đầu tay của Lê Văn Thiện – một cây bút trẻ, (22 tuổi) –, do NXB Văn giới thiệu. Là ý nghĩ nên tôi không nghĩ là tôi đã phê bình, hiểu như sự phê bình phải dựa trên một quan điểm nào đó làm nền tảng. Có thể Thiện đã không khỏi vấp váp những khuyết điểm về kỹ thuật (lối diễn tả nhiều khi quá đơn giản và khô) cũng như văn Thiện đã không lột tả được trọn vẹn cái phong phú của đời sống – và do đó không đưa người đọc đến chỗ say sưa, thích thú như chính họ đã sống cái sống của nhân vật. Tuy nhiên, đòi hỏi quá nhiều ở một tác phẩm in đầu tay (của một cây bút trẻ) cũng có phần quá đáng. Dù sao, Thiện không thể dừng lại thỏa mãn với MCBP. Anh có thể tiến xa hơn, phải tiến xa hơn trong những tác phẩm sau. Đó là ý nghĩ cuối cùng về MCBP, và qua đó, về Lê Văn Thiện ./.
(Nguyệt san Tân Văn, tháng 5/1969 – Tạp chí Thư Quán số 43, tháng 8/2010)

 


10 thg 8, 2015

KHÓC VÀ CƯỜI



        Từ vùng quê dời lên phố thị sống đã hơn bốn năm nhưng Tám Túc chỉ quen thân mỗi một ông Phước Lợi, người hàng xóm. Hai người có lối sống, nghề nghiệp, tính tình khác hẳn nhau mà lại hợp nhau. Ông Phước Lợi thích tính thực thà và tài đánh cờ tướng của anh cựu nông dân. Tám Túc thì phục sự biết nhiều hiểu rộng và lòng thương người của ông láng giềng giàu có. Anh thường nói: “Nhà mình chỉ bằng cái bếp ông ấy, nhưng ổng không phân biệt đối xử, thiệt đáng trọng”. Phần mình, ông Lợi nói: “Anh Túc vui tính, ngay thẳng, bộc trực, có thể chơi được”. Thế là họ kết thành đôi bạn tâm giao, không kể tuổi tác, không đếm xỉa đến địa vị xã hội.
        Dưới mắt Tám Túc mọi thứ trong nhà ông Lợi đều cao sang, lóng lánh. Con ông, ba đứa, học giỏi, vóc dáng như Tây. Bà Phước Lợi thì trẻ trung, đẹp, nói hay như các nhân vật trong sách trong tuồng. “Còn con mình, vợ mình…” anh không muốn nghĩ tiếp, không dám so sánh.
        Những lúc buồn ông Lợi thường gợi chuyện để Tám Túc nói về vợ con anh ta, như một cách tiêu khiển:
        “Sao, nay mấy thằng nhỏ nhà anh ăn học thế nào?”.
        “Dạ, chẳng đâu vào đâu, như người leo cột mỡ! Thằng lớn tới lớp tám phải nghỉ, ở nhà phụ giúp tôi lo công chuyện làm ăn. Thằng nhỏ thì đần quá, tám chín năm rồi vẫn chưa qua khỏi lớp sáu!”.
        “Vợ anh coi bộ hà tiện lời nói, chắc chị ấy chẳng bao giờ cãi cọ với ai?”.
        “Dạ, mụ thuộc loại ít mồm ít miệng, hiền quá hóa ngu, anh à!”.
        “Vậy anh chị đối thoại với nhau bằng tay chân?”
        “Dạ, gần như thế!... Ở chung một nhà nhưng chúng tôi ít khi tâm sự. Xưa giờ bà ấy vẫn gọi tôi là “ông”, đối lại tôi gọi bả bằng “bồ”. Cổ hủ, lộc cộc, khó nghe, nhưng quen miệng rồi!... Được cái, mụ khỏe, không đau ốm, khéo tay, chăm việc ngoài, giỏi việc nhà. Kể về mặt xã giao, đối ngoại thì bết, lóng ngóng, nói năng cục cằn, nhát gừng, cứ như gã thiểu năng!”. Ông Phước Lợi khoái chí, cười ngặt nghẽo.
        Khác chồng, bà Lợi không ưa nhà Tám Túc. Bà hỏi ông: “Vợ chồng tay Túc có gì hay mà ông thích?”.
        “Họ hiền lành, chất phác”.
        “Anh chồng coi còn được, nhưng chị vợ thì mệt. Tướng như voi, bước đi lún đất, mặt lúc nào cũng quạu quọ, lầm lì”.
        Ông Lợi che chở bạn: “Ở quê lâu năm, không quen giao tiếp, chị ta vụng về”.
        “Còn có tật lúc nào cũng cúi gằm mặt xuống đất như quân ăn trộm bị bắt, nói thì ấm ớ, cộc lốc”.
        “Con người chị ấy vốn như vậy, do chỉ quanh quẩn trong nhà trong làng nên ngại gặp đám đông, không biết cách diễn đạt ý mình, đây là hình ảnh của dân quê xưa còn sót lại… Sinh ở châu Phi thì ẵm gọn da đen, môi dày, cát trắng. Nghĩ xem, nếu ra đời ở các vùng quê cằn khô thì chúng ta thế nào?... Đừng chê họ, không ai muốn nghèo khổ ngu dốt. Có những người như thế ta đây mới nổi bật”.
*
        Tám Túc đến nhà ông Phước Lợi để chia buồn. Anh vừa nghe tin dữ: bà Lợi đánh bạc thua hơn tỷ đồng, đã cuốn gói theo gã nhân tình trẻ – một vua cờ bạc – trốn đi mất. Chuyện quái, mới nghe qua Tám Túc không tin. Ai ngờ, người đàn bà sáng rực, sang quí thế kia lại hành động như một con mẹ…
        Mới mấy ngày nhưng trông ông Phước Lợi như một người khác, gầy rộc, phờ phạc. Ông rót trà mời khách, rồi ngồi ôm đầu nhìn xuống bàn. Tám Túc lúng túng, chẳng biết nói gì để an ủi ông bạn vàng. Anh cứ nghĩ về chỗ vợ xấu vợ đẹp. “Con mụ nhà ta ngốc nghếch, quê mùa, nên ta được coi như ông sếp lớn. Mụ an phận, suốt đời lặng lẽ làm hết công việc trong nhà ngoài chợ, không cần chỉ tiêu kế hoạch, chẳng chờ động viên đốc thúc… Gỗ tốt đâu cần nước sơn”.
*
        Sau ngày bà vợ biến, ông Phước Lợi nằm lì trong nhà hai tuần. Khi nỗi buồn vơi chút ít ông lên Đà Lạt đổi gió mười ngày, rồi vù thẳng vào Cần Thơ chơi một tháng. Biến cố đến bất ngờ, và lớn, mấy đứa con ông cũng choáng váng.
        Đi đâu rồi cũng phải về. Ông Phước Lợi về, hình dạng và tính tình có vẻ khác trước, da sẫm hơn, ít nói hơn. Ông lại mời Tám Túc qua chơi, uống cà phê. Tám túc thấy khó xử, chẳng biết phải ăn nói thế nào, không dám nhắc đến tên bà Lợi. Nhiều hôm hai người ngồi với nhau suốt buổi mà chỉ nói năm ba câu, như mấy đứa thụt lưỡi. Có bữa, ngồi nhìn mặt nhau, đối ẩm ba tiếng đồng hồ mà hai ly café không cạn, bình trà còn nguyên. Buồn, mất hứng. Nhưng làm sao khác được. Khó thể tìm thấy phép màu để kéo những ngày vui cũ trở về.
        Đến một hôm, ông Phước Lợi nghĩ ra một việc khiến cả xóm xầm xì, ba con ông sửng sốt. Ông mời ban nhạc Khóc Cười đến nhà biểu diễn, suốt bốn tối. Đây là ban nhạc phường, nghiệp dư, mới ra đời hơn một năm, chuyên phục vụ các tiệc tùng nhỏ, liên hoan, đám ma. Nó đa năng, chơi cả tân, cổ nhạc, đôi lúc còn hát chèo. Cái tên Khóc Cười do bà con đặt. Khóc là chơi cho đám chết, cười là hát trong tiệc cưới. “Ông Lợi buồn tình, chập mạch”, người ta cười, nói với nhau. Nhưng xem ra đây là chuyện nhỏ, việc riêng, không phạm pháp, nên nó được thực hiện thông suốt, trong tình trạng lập lờ, chẳng rõ khóc hay cười.
        Đêm ca nhạc diễn ra trong vườn nhà ông Lợi, không sân khấu phông màn, nhưng kèn trống đầy đủ, xôm trò. Ban nhạc trẻ có sáu thành viên, bốn nam hai nữ, tất cả đều có dáng nghệ sĩ, tóc bờm xờm vàng khè, ăn mặc như mấy ông hát bội, em nào hát cũng ngọt. Ông Phước Lợi hứa, sẽ trả công gấp hai các đám tiệc khác, nên ai nấy đều phấn khởi… Điều bất thường là khán giả, chỉ hai người, ông Lợi và Tám Túc. “Các bạn vào cuộc cho mạnh, nóng, cũ mới xài hết, nhạc tình nhạc hùng chơi ráo!”. Ông Lợi bảo.
        Cuộc hát hò trôi chảy, êm xuôi, không ồn ào, cũng chẳng buồn tẻ, dù nhìn qua đã thấy ngay nó có bộ mặt lạ. Khán giả quá ít, diễn viên mất hứng thú. Không hò hét, không cổ vũ thì không khí loãng, lạnh. Thế nhưng tốp nghệ sĩ trẻ vẫn chơi, càng về khuya càng bốc, có lẽ nhờ số tiền công hậu hĩnh tiếp sức… Giờ giải lao ông Phước Lợi đưa ra cho các ca sĩ, nhạc công một câu đố vui, ai giải đáp đúng, hay, dí dỏm sẽ được thưởng hai hộp cà phê hòa tan. “Nếu con mèo yêu của bạn bỗng lăn đùng ra chết, bạn làm gì?”. Không được hỏi nhau, câu trả lời viết ra giấy. Sau này, năm tháng qua nhanh, mấy đêm ca hát bất thường lùi vào bóng đêm quên lãng, nhưng nhiều người dân quanh xóm nhà ông Lợi vẫn còn nhớ chuyện con mèo chết.
        Kết quả cuộc đố ấy, một cô ca sĩ nhí viết: “Sau ngày mèo qua đời, trong hai năm, mỗi bữa ăn tôi bày một cái chén, một đôi đũa, vái mời hồn nó về hưởng”. Tay chơi guitar viết: “Mèo chết, tôi họa hình nó, treo trong phòng khách. Mỗi năm tới ngày buồn đó, tôi giỗ nó ba con chuột”. Hai anh chị này được thưởng.
        Về sau, trong các cuộc nhàn đàm bên bàn trà, ông Lợi hay đặt ra cho Tám Túc những câu hỏi giải trí. Trong đó có câu dễ, ai cũng biết, nhưng phần lớn là lắt léo, đố mẹo, hiểm, hài hước. Câu nào Tám Túc đáp đúng, hay, đều được thầy Lợi ban một phần thưởng tượng trưng: bao thuốc Capstan, hộp bánh ngon. Lúc đầu Tám Túc thấy trò chơi có vẻ không ổn, tâm thần, nhưng dần dà rồi cũng quen.
        Thế là, kiểu uống café đố vui có thưởng cứ kéo rê, dài dài, một rồi hai năm. Số phần thưởng Tám Túc nhận được, nếu giữ nguyên, chắc xấp xỉ một thúng vun. “Đại ca mát nặng quá”, Tám Túc nghĩ, không dám nói ra. Tuy vẫn qua lại tâm tình, nhưng càng về sau anh càng cảm thấy bất an, cho đến cái ngày đáng nhớ, có thể gọi “ngày định mệnh”: ông Phước Lợi bỏ nhà ra đi, lặng lẽ, không nói với ai tiếng nào, không mang theo quần áo. Ông đi, biệt tích, như lọt xuống một lỗ nẻ bí ẩn, như bốc hơi ./.

 

QUÊ KHÔ



        Bà chủ Mộng Hợi trao cho Nghê tập danh sách em út.
        “Mừng tái ngộ, bạn biến đâu lâu thế?”
        “Mới bảy tháng, ra Trung và lên Tây nguyên”.
        “Nay đông vui, nhiều gương mặt mới, tha hồ chọn”, bà quảng cáo.
        Hai mươi ba em, nhiều cái tên lạ. Kim Xuân, 23 tuổi, cao 1,60 mét, 54kg – Lãng, 24 tuổi, cao 1,63 mét, 58kg – Lily Ha, 22 tuổi, cao 1,62 mét… Em nào cũng xinh, nhìn thẳng, không cười. Chọn lựa vài phút. Nghê vứt tập giấy xuống bàn. “Chị gọi giùm Lily Ha”.
        Bà Hợi cười vui: “Mắt tinh đấy, nàng này dáng chuẩn, mới ra lò mấy tháng”. Bà mở hộc bàn, lôi ra một sổ tay, dò tìm.
        “Đây, nghe cho rõ, nhà nghỉ Dã Thảo, 338 đường Phan Hồng, phường bảy, số điện thoại của Hà… nhớ chưa?”.
        Bà tú mở tủ lạnh lấy ra một lon coca, đem đặt trước mặt Nghê. Nghê chồm tới ôm chầm cái thân hình tròn lẵn, hôn tới tấp lên hai má bà.
        “Quỷ sứ, phạm thượng, chứng nào tật nấy không bỏ!”.
        “Cho tôi âu yếm Hợi một lúc”.
        Mộng Hợi vùng ra, quát: “Bà đấm vào mõm mày bây giờ… cút đi, đến khách sạn ôm ẵm con Hà”.
* *
        Nghê tới nhà nghỉ Dã Thảo trước Lily Ha hai chục phút. Cô nhím bảo, mình tên Báu, Lily Ha là dì Hợi đặt. Đây là điểm hẹn để gặp khách trong thời gian ngắn. Báu và một cô bạn mướn nhà trọ bên quận 6. Kể cũng lằng nhằng, nhưng phải như thế mới chắc ăn, an toàn.
        Anh chị nhập động, như những người đã quen nhau lâu ngày. Báu thường nhìn trộm khách. Không có việc gì để làm ở đây. Không gian chật hẹp. Sàn diễn, chiến trường là cái giường rộng. Máy điều hòa hỏng. chiếc tủ rỗng, bàn nước nhỏ, tủ lạnh chứa hai loại bia. Chỉ vậy. Lily Ha cởi bỏ quần dài, nằm tênh hênh như đứa bé lơ đãng. Nghê nói vài câu chung chung, nói cho mình nghe, rồi khui một lon bia, mở để đó, không uống. Đây là tầng mười bốn, nhìn qua cửa sổ, người ta có thể ngắm lớp lớp mái nhà lô nhô. Rất ít cây trên phố…Dưới xa kia thiên hạ làm gì? Thì làm gì nữa, vẫn những cảnh cũ, bài bản cũ. Người đi lại, xe cộ nhốn nháo, ầm ĩ, quay quắt. Nắng chói chang. Học hành, tiệc tùng, cưới hỏi, cắm cổ chui rúc vào nhà máy tiệm quán hãng xưởng. Vậy thôi, gọi chung là cuộc sống, ở đâu cũng thế. Cạnh đó, lúc rỗi rảnh thì vào quán ăn, khách sạn, rồi hẹn hò với ai đó, một Diễm Hồng, một Út Em, một Dominique Luu, và đưa nhau lên một hang động ở tầng mười, tầng hai mươi nào đó.
        Lily Ha nằm dạng chân khiêu khích, nhắm mắt. Nghê hôn cái trán phẳng, mân mê vùng tứ giác êm êm. Nhím giả vờ ngủ.
        “Lúc nãy, nhìn qua anh thấy em hao hao giống ai đó. Nghĩ một hồi thì…”.
        “Như ai?”.
        “Giống mấy cô bé thi ca hát trên tivi”.
        “Vậy là em đẹp?”
        “Sao bọn gái thi thố, kể cả thi sắc đẹp, thường sắm kiểu mặt…”.
        “Như mặt em?” Báu cười khì. “Vừa rồi, thấy anh em cũng giật mình”.
        “Thiệt sao?”
        “Anh chàng này giống ai nhỉ, em nghĩ. Lát sau nhớ lại, anh có nhiều nét giống tay diễn viên chính trong một phim Tàu em mới xem tháng trước”.
        Nghê nốc nửa lon bia, đổ vào họng Báu nửa lon, rồi vào cuộc… Sàn đấu thơm mùi xà bông, êm ái. Ngẫm nghĩ thấy kỳ, mới trước đây vài tiếng anh chị hoàn toàn không biết nhau, mà giờ thì, giờ đã… Từ đó đến sáng hai người còn uống bia hai lần nữa, còn nói năng vẩn vơ, hôn hít nắn bóp nhau chục lần nữa. Gặp chỗ nào lấn cấn, Báu phản đối, Nghê liền rút tờ bạc một trăm ngàn nhét vào áo ngực nàng, vậy là êm… Đồng tiền, cái mớ giấy mềm nhàu ma quỉ không mặt mũi tay chân mà có thể sai khiến con người, có thể làm được nhiều việc to lớn.
        “Em thấy đồng tiền có lạ không, Lily?”
        “Gọi em là Báu, dân quê, em không hợp với Tây Mỹ”. Nghê vỗ nhẹ vùng tứ giác ẩm thấp. “Anh mê em rồi. Em ở đây vài hôm nữa, nghe?”
        “Không, em trọ bên quận 6. Lần sau muốn gặp nhau ta sẽ chọn một chỗ khác”.
        “Kỹ quá, có cần thế không?”.
        “Dì Hợi dạy đấy… nên tin dì, bởi bà có gần mười năm chinh chiến”.
        Nghê hôn cái miệng xinh đang nhai nhóp nhép. “Nhai kẹo cũng do bà Hợi dạy?”
        “Dì rất khôn khéo. Chín chắn”.
        “Còn phải nói, từng trải, tinh ranh, láu lỉnh… Anh đã ngủ với mụ mấy lần”.
        “Thiệt à?”.
        “Lâu rồi, lúc chị ta chưa lấy chồng… Còn sáu ngày nghỉ, anh không biết sẽ làm gì cho hết những ngày ấy”.
        “Rồi anh đi đâu?”.
        “Ra Thanh Hóa một tháng, sau đó quay vào Dak Lak”.
        “Thích thiệt, đi nhiều biết nhiều.”
        “Em ở với anh ba ngày, nghe?”
        Nàng không trả lời ngay, Nghê nhắc lại lần nữa.
        “Tiếc, mai em phải về quê”.
        “Cần lắm à, ở đâu?”
        “Phú Vinh, cách Đông Bình hơn trăm cây, về phía bắc”.
        “Uổng, anh mê Lily nhím!”.
        Báu có bà dì – dì Năm – chị ruột mẹ, cô độc. Dì không chồng, sống với một thằng con, nhưng chẳng may thằng nhỏ mất sớm, lúc mới ngoài hai mươi. Dì làm ruộng, làm mướn, sống tàm tạm. Nhưng về sau, càng già, mức sống của dì càng tụt xuống, xuống mãi, đến ngày gần bảy mươi dì vướng phải hai chứng bệnh già thì nó, cái thực trạng xám xỉn ấy, rơi sát đáy… Thế nên, khi mẹ chết, Báu đem dì Năm về nuôi. Do nhớ mẹ, Báu thương dì. Mới đây, dì lại rước thêm một bệnh nữa. Tính ra, cặn kẽ, nay tiền nuôi ăn, chi phí thuốc men cho dì nhiều hơn tiền ăn uống của Báu. “Có điều buồn cười, anh ạ. Hồi trẻ, những lúc giận nhau, dì Năm hay chửi má em: con đĩ thúi! Thuận miệng, bực tức thì chửi cho hả, má em không làm đĩ!”
        “Em nói chuyện vui lắm”, Nghê khen. “Mai cho anh theo về thăm dì”.
        Báu phân vân: “Làng em xấu hoắc, đang bị hạn hán, buồn chết, chẳng có gì để ngắm cả”.
        “Đâu cần đẹp, anh muốn thay đổi không khí. Cứ nằm mãi trong phố này thì hết chui vào quán nhậu lại lê la trong mấy nhà ngủ… ngủ ngày ba buổi!”
        “Được thôi… anh hơi “mát” đấy!”
        Nghê hôn cái miệng cong vênh đang nhai chewingum. “Em biết anh đang nghĩ gì không?” Báu lắc đầu. Nói em đừng giận: ghế làng hồn nhiên, cóc nhái ễnh ương mà có lòng nhân ái”.
        “Dì Hợi dạy: để ý, đứa nào hôn ta nhiều thì mến ta thực lòng, nó sẽ còn đến gặp ta lai rai”.
        “Bà ấy nhận xét hay”.
        “Cái động đó, nhìn phớt qua có vẻ ngăn nắp, nhưng bên trong thì bèo nhèo, giả trá, quanh quẹo. Giả ngay từ tập menu chọn mặt gởi vàng. Em không cao không nặng như mấy con số ghi trong đó!”.
* *
        Báu có hai ngôi nhà khá to. Dì Năm sống với hai con chó ở nhà dưới, nhà trên đóng cửa. Báu nhờ bà Khả, người hàng xóm, lo phần việc ăn uống cho dì… Vắng ngắt, buồn hiu, cả làng buồn. Ở đây đất vườn rộng, nhà cửa thưa thớt. Cây thì dừa, xoài, cau, me. Thời nay còn giữ cau làm gì?
        Báu giới thiệu Nghê với dì Năm: “Anh Nghê, bạn trai của con”. “Rõ rồi, bạn trai”. Dì nói, chậm và nhỏ. Báu hỏi dì về bệnh tình, thuốc men. Tai, mắt dì tốt, nghe rõ, nhìn rõ, nhưng khâu ăn hơi xộc xệch. Mỗi lần dì chỉ ăn một chén cơm, nên mỗi ngày phải ăn sáu bảy lần… Báu tặng ba đứa con bà Khả nhiều bánh kẹo, đồ chơi, để ban đêm chúng sang ngủ với dì Năm. Chu đáo. Dì như mẹ. Biết vậy, nhưng không phải ai cũng thương chú bác cô dì. Thử hình dung, người sống một mình trên đời, không nhà cửa, không cha mẹ chồng con, bệnh quặt quẹo…
        Nghê đứng bên bờ ao, nhìn đồng ruộng khô rang trước mắt. Không trâu bò. Không heo gà. Ba, bốn người đội nón, che mặt đi lại, thơ thẩn. Mùa khô, ngó đâu cũng thấy eo xèo, héo úa, bệch bạc. Không thấy những cánh cò bay nhởn nhơ trong ráng chiều. Không có đàn trâu đỏ chạy ngang dọc, nổ máy vang trời. Cùng là người, nhưng những người sinh ra ở đây, sống trong tình cảnh này… Không lâu đài dinh thự cao sang, không phố xá đông đúc xe cộ sáng choang. Nắng nôi, liêu xiêu, mùa khô sẽ còn kéo dài bao lâu.
        Về đây Báu sắm bộ mặt khác. Cô nàng nhét bộ quần áo diêm dúa vào giỏ, lôi đồ cũ ra mặc, “Nhân vật vẫn là nông dân, những con người có gốc rễ lâu đời ở đây, nhưng ông trời (đạo diễn) đã khác”, chỉ cái giếng nước cạn khô, Báu nói. “Trước kia trời thuận, mười năm gần đây bỗng nhiên trở chứng, gió nắng nhiều, mưa ít, năm nào cũng thiếu nước bốn, năm tháng. Ở quê mà phải mua nước uống, một ngàn ba chục lít, ốt dột!”
        Bà Khả ngồi làm cá kế bên, góp chuyện: “Lão trời ác ôn, nói thêm mệt, than thở cho lắm chỉ tổ hao hơi!” Nghê đùa: “Trời xanh tâm thần”. Báu và bà Khả trò chuyện suốt buổi. Thì ra cái xứ èo uột này (Phú mà trơ xác, Vinh lại tối tăm) cũng có nhiều thứ để nói. Toàn chuyện vụn, nho nhỏ, phập phù, là lạ. Nghê ngồi nghe, như trẻ con nghe cổ tích… Bà Khả vào bếp. Nghê nói nhỏ: “Cách đây ba hôm Phú Vinh không nằm trong đầu anh”. Báu không nghĩ về chuyện làng, nàng nhớ bà động chủ.
        “Ngủ với Mộng Hợi anh thấy thế nào?”
        “Thế nào là sao”, Nghê ngạc nhiên “thì cũng vậy vậy, nồng nàn, nhiệt tình, rất… đàn bà”.
        “Kể cũng buồn cười!”
        “Nếu còn bơi trong môi trường đó, em sẽ gặp nhiều chuyện tréo ngoe, trái ngang, rối nùi… Này, người đẹp, hãy quên nó đi, coi như anh chưa nói”.
        Anh chị ra chợ xã ăn tối. Quán nhỏ, tám cái bàn, hai bàn có khách. Một người nấu, một người bưng bê. Đồ ăn ngon, có mấy món lạ. Chị tiếp viên đến tán gẫu với Báu một lúc. Chị hỏi Báu ra phố làm gì, ở đâu, lương lậu thế nào. Chị nói, chồng chị vào Biên Hòa làm mướn đã hơn nửa năm. Gặp gì làm nấy, do anh chỉ biết cày bừa, không rành nghề nào khác. “Lương tháng chỉ hơn bốn triệu, nặng nhọc, làm phờ râu, cũng phải làm, vì nắng hạn, ruộng nẻ đất, ở nhà làm gì. Hai bạn thấy không, trai trẻ đi hết, làng xóm chỉ còn rặt đàn bà trẻ con, đồng khô cỏ cháy… Con gái vùng này đi làm nhiều. Làm gì. Không nghề, ngơ ngác, nghe nói lên đó toàn ở đợ, nói cho đẹp là giúp việc nhà, bán buôn lông nhông, làm điếm”.
        Chị bỏ đi, nhưng âm hưởng buồn của mấy tiếng làm điếm, đồng khô cỏ cháy như vẫn còn lởn vởn quanh bàn ăn… Ra đường, lên xe, Nghê nói bâng quơ “mưa dội nắng thiêu, nắng lửa mưa dầu”. Có lẽ đây cũng là nguyên nhân khiến nàng Báu mạ non biến thành em Lily Ha mướt rượt ./.