1 thg 11, 2015

TƯỞNG TƯỢNG


        Một bé gái chừng năm tuổi vừa nhảy nhót vừa vỗ tay, reo:
        “Ông nội đi lạc… hay quá… ông nội đi lạc!”.
        Ông Hanh ngồi xổm trong góc phòng ngủ, lần mò sờ soạng cái tủ cao bên phải rồi cái bàn thấp bên trái:
        “Ông nội tìm giường hay tìm cửa ra?”
        “Như ơi, dẫn ông tới giường”.
        Con bé càng vỗ tay mạnh, cười ngặt nghẽo.
        “Cái giường ở sau lưng ông nội ơi!... Sao nội cứ đi về trước mặt… Ông nội đi lạc… phía trước là bức tường”.
        Ông Hanh chỉ cần quay lại, bước hai bước là tới giường. Nhưng ông không định được phương hướng. Mân mê cái chân bàn một lúc rồi ông ngồi bệt xuống sàn, thở dốc, như vừa làm một việc nặng nhọc.
        “Như ơi, giường ngủ ở đâu cháu?”
        Ẩn đến đỡ ông Hanh đứng lên, dìu ông tới giường.
        “Ai đấy?”.
        “Thưa bác, cháu đây. Cháu là Ẩn”.
        Hai con mắt lòa cố nhướng lên.
        “Ẩn, Ẩn nào? Để tôi nhớ xem”.
        “Dạ, Ẩn ở Châu Thành đấy, bác Ba”.
        “Nhớ rồi, cháu là con của Thanh Cao… Như ơi, đem trà cho ông”.
        Con bé chạy đi đâu mất. Ẩn ra phòng khách bưng khay trà vào. Ông Hanh vẫn cao lớn, khỏe mạnh, da dẻ hồng hào. Nhưng trông đã khác xa ông Hanh ngày trước, chủ yếu là do đôi mắt. Lần cuối cùng Ẩn gặp ông, trước đây tám năm, ông còn là một chủ nhiệm, thoạt nhìn như Tây, trẻ trung, hơi ồn ào.
        “Nói cho bác biết, hiện giờ ngoài đường thế nào?”
        “Dạ bây giờ 9 giờ, trời nắng nhạt, người xe dày kín ạ”.
        “À, nắng, không gió… trời trong, trời đẹp, cảnh đẹp… Thiếu thị giác, bức bối không chịu được, cháu ạ”.
        “Dạ, đó là giác quan cần thiết”
        “Không thấy thì nghe cũng vô ích, biết cũng bằng thừa… Hai năm rồi bác không còn nhìn thấy ánh sáng”.
        Có một thời gian dài ông Hanh được nhắc đến trong làng như một người học cao, thành đạt. Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng ở huyện.
        “Nay cháu làm ăn ra sao, vợ con thế nào?”
        “Thưa bác, vợ chồng cháu được một bé trai hai tuổi. Chúng cháu làm tạm đủ ăn. Là công nhân tầm tầm, lương thấp nên sống cũng hơi chật vật”.
        Ông Hanh cầm lấy bàn tay trái Ẩn, nắn nhè nhẹ, bóp mấy cái, cười:
        “Tay cháu mềm, nhưng hơi lạnh, phải ấm một chút mới tốt… Bác đang cố nhớ lại nét mặt cháu, và ba cháu… Ông bạn Thanh Cao vẫn khỏe chớ?”.
        “Cảm ơn bác, ba cháu khỏe”.
        “Cha mẹ là bằng hữu, là chỗ dựa của con… Sau này, khi đứng tuổi, bạn sẽ thấy rõ điều đó”.
        “Dạ, ba cháu vẫn là điểm tựa vững chãi của cháu. Không có điểm này thì cháu đã ngã chỏng cẳng nhiều lần rồi”.
        Ông Hanh uống cạn ly trà, trầm ngâm hồi lâu.
        “Cháu nghe những gì ở đây? Tiếng máy xe ầm ầm, không ngớt, tiếng người lao xao, rối nùi, và một thứ tiếng hỗn tạp ù ù vang vang, phải không? Ngày trước ít khi bác để ý tới nó… Cháu châm cho bác điếu thuốc”.
        Cô bé Như chạy về, đứng ở cửa nhìn vào, xong lại chạy đi.
        “Làm con phải kính trọng, mến yêu mẹ cha. Ai cũng được dạy như thế, nhưng không phải ai cũng làm được như thế. Dường như phần đông người ta chỉ kính trọng chớ không yêu mến các đấng sinh thành?... Cháu ạ, nay nằm một chỗ, có thì giờ để suy ngẫm chuyện đời, bác mới thấy rõ các lầm lỗi của mình… Ngoài xã hội có thể nói bác tốt, làm được nhiều việc hay, nhưng trong nhà thì chẳng ra gì… Nói thế nào đây? Bác lỗi đạo làm con, bất hiếu, dù bác vẫn nuôi ông thân đầy đủ. Nuôi là “nuôi” suông, không “phụng dưỡng”… Đến nay, 78 tuổi mới biết, kể cũng muộn, phải không? Khi mù mắt, sẽ sáng lòng!”.
        Một tốp học sinh đi ngang qua trước thềm, nói cười lớn tiếng.
        “Bác ân hận. Thời đó lắm lúc bác không nhớ đến cha mình, dù người ở ngay trong nhà… Khi có việc đi xa, ở lại lâu ngày bác nhớ vợ, nhớ con, nhớ nhà, nhưng không nhớ cha… Có lần bác nghe người ta kể chuyện một ông lớn, giàu to nhưng để bà mẹ phải ngồi trên hè phố bán thuốc lá lẻ. Người ta chê bai ông triệu phú ấy, bác cũng chê”.
        Ẩn hỏi về Huấn, anh con trai duy nhất của ông Hanh. Ông lắc đầu, ngao ngán:
        “Nhắc tới nó thì mệt, phiền lắm. Không thể biết được nó đi đâu, làm gì, lúc nào về. Nó như con chim, như làn gió, con Thoa còn thua nữa là”.
        Ẩn cười:
        “Gần mười năm rồi cháu không gặp anh Huấn”.
        “Dường như nó làm việc gì đó ngoài chợ, và ở bến cá… Ở chợ có ông lớn không?... Huấn ít khi nói chuyện với bác. Nếu có thì nó nói, nói, nói, còn bác thì nghe, nghe, nghe!”.
        “Nay gặp lại có thể cháu sẽ không nhận ra anh ấy!”.
        “Huấn nghiêm, khó tính. Mấy lần nó nói với bác: nhiều cụ mới sáu mươi nhưng đúng là đã được sinh ra từ giữa thế kỷ 19… đấy, nói năng văn vẻ như thế… Nó làm bác nhớ đến ông thân mình. Ông cụ bảo bác: “thỉnh thoảng con để cho cha nói vài câu, con có thể nghe hoặc không nghe cũng được”.  Lúc đó, bác nghĩ: lẩm cẩm, tại sao không thèm ăn, không thích đi chơi lại muốn nói!”.
        “Người lớn tuổi có những ý thích mà lớp trẻ không muốn có, hoặc chưa hiểu được”.
        “Trước đây hễ nghe nói về những chuyện như đạo làm con, công ơn cha mẹ, chữ hiếu là bác bực mình, chửi: đạo đức giả… Quanh năm ông thân bác cần mẫn cắm nhang trước cổng nhà, trên các bàn thờ, lúc xẩm tối, chẳng sót một ngày. Vào Tết Nguyên đán cụ diện khăn đóng áo dài, mang giày, cắp dù trịnh trọng đi chúc Tết hai bên nội ngoại mất mấy ngày liền. Bác không chịu được, bèn quây dồn tất cả những cái đó vào chiếc rọ “mê tín”… Giờ nghĩ lại, thương ông cụ, hiểu tuổi già, thương con người vô cùng”.
        Gian phòng rộng, cái giường lớn ba người nằm cũng vừa. Giá sách ngăn nắp, có tới cả ngàn quyển sách, bụi phủ mờ xám, chắc đã lâu không ai sờ đến. Ông Hanh chỉ cái radio cũ trên đầu giường:
        “Đây là ông bạn thân nhất của bác. Nghe suốt ngày đêm, nhưng thực ra bác chẳng nghe gì cả… Đã hai năm bác không bước ra đường… Làm sao ta có thể chơi cây cảnh?... Bao giờ ta lại được dạo phố chiều chiều?... Không bao giờ. Chẳng còn gì. Không thể được”.
        Ẩn thấy cần nói một điều gì đó để ông Hanh vui lòng.
        “Có lần bị bệnh, chỉ phải nằm trong nhà một tuần, cháu đã khiếp. Tù túng, ngột ngạt làm sao”.
        “Nằm trên giường là khỏe, nhưng cũng là héo tàn… Mọi kiếp người rồi sẽ mục rửa trên giường cả… Ờ, cháu thử nghĩ xem, nếu phải ngồi một chỗ, phải tự giam mình trong phòng một tháng, cháu sẽ ra sao? Vậy mà bác ở đây, chìm trong biển tối, hàng năm”.
        “Người già thường phải khổ bác ạ. Người thì ốm đau rề rề, kẻ thì điếc, người khác lại loay hoay bận rộn quanh năm với cái bộ máy bài tiết của mình, chắc chẳng ai mạnh lành toàn vẹn đâu”.
        “Phải chi bác được chết vào độ tuổi sáu lăm, bảy mươi, hay lúc hăm bảy như mẹ bác… Ở ta có nhiều nhân tài từ trần khi chưa được bốn mươi”.
        “Số bốn mươi của họ bằng một ngàn của chúng ta”.
        “Nghe con Thoa nói nay thứ bảy, bác nhớ ngay đến những buổi dạo chơi trên bãi biển Vũng Tàu, trên đồi Đà Lạt… Nghe bé Như nói hôm nay chủ nhật bác lại nhớ tới những lần cùng anh em đấu láo trong câu lạc bộ Cây cảnh, và các buổi xem phim”.
        “Dần dà rồi bác sẽ quên, sẽ quen”.
        “Cháu lầm, có những thứ người ta không thể quen như sự khổ, nỗi buồn; không thể quên như vợ, tuổi xuân, cha mẹ”.
        Một tiếng còi xe bỗng vang lên, to chát, như ở ngay trước thềm.
        “Xe cộ, đường sá, chim chóc, cuộc sống còn đó… mà ta… không còn!”.
        Có tiếng chân người đi vào phòng khách. Một thiếu phụ hiện ra ở cửa. Ẩn nhận ra ngay chị Thoa, vợ anh Huấn. Chị đứng yên, tay cầm chiếc mũ rộng vành, nhìn sững Ẩn, nhíu mày, mắt chớp nhanh mấy cái, rồi cười:
        “Ẩn, thế mà tưởng ai! Bé Như nói: có một ông lạ cao cao là!”
        Chị Thoa xách bình trà đi châm nước. Ẩn đỡ cho ông Hanh nằm xuống giường, xong qua phòng khách. Chị Thoa đem bánh ngọt, thuốc lá, ly nước khoáng tới đặt trước mặt Ẩn. Ẩn hỏi về anh Huấn, về công việc làm ăn của gia đình. Chị Thoa trò chuyện vui, có vẻ chân tình, hoạt bát. Ẩn nói mấy nhận xét về sức khỏe ông Hanh, chị cười:
        “Ông cụ có tâm sự về hoàn cảnh, có than van về tật bệnh không? Nói nhiều chớ gì?”.
        “Vâng, khá nhiều, tội ông cụ, mệt cho tuổi già”.
        Và Ẩn kể lại vụ ông Hanh “đi lạc” lúc nãy.
        “Ông cụ bị mù, nhưng nhiều lần cụ đã dẫn dắt chúng tôi – những người sáng – đi lạc, vui lắm!”.
        Chị Thoa cười xòa. Chị cho biết ông Hanh mới thật sự mù bốn tháng nay thôi, không phải hai năm như ông nói. Và những chi tiết về cha mẹ, nhà cửa của ông ngày trước đều là chuyện ông mới tưởng tượng ra gần đây. Xưa kia ông là đứa trẻ bị bỏ rơi, được một người nhà giàu hảo tâm – ông Cửu Tấn – lượm về nuôi, lúc mới biết bò. Nên ông không biết nguồn gốc, thân tộc, cũng như mặt mũi cha mẹ ruột mình. Ẩn hết sức ngạc nhiên.
        “Thì ra tôi cũng đi lạc hơi xa! Ông cụ bày đặt như thế để làm gì?”.
        “Chúng tôi cũng tự hỏi như vậy – Chị Thoa gõ nhẹ trán mình - Ẩn biết không, nay ông cụ vừa 68, nhưng cụ nhất mực bảo mình 78… Rồi thêm chuyện cụ nuôi dưỡng cha mẹ hoặc chuyện mẹ đẻ của cụ qua đời năm 27 tuổi. Một mớ bòng bong!”.
        Ẩn bật cười”
        “Chết thật! Vậy thì làm thế nào biết đâu là thật, đâu là không?”.
        “Khó lắm, phải sống chung mới biết. Anh Huấn nói, có lẽ bực tức do bị tước mất đôi mắt nên ông cụ sinh tật như thế”.
        “Vậy cụ than thở suốt ngày?”.
        “Không, trái lại. Cụ nín thinh, im thin thít như pho tượng. Hết nằm trên giường, cụ đến ngồi ở bàn nước. không muốn đi đâu, không nghe đài, nghe nhạc. Thỉnh thoảng cụ lại bảo: hãy trả mắt cho tôi! Anh Huấn đọc báo cho nghe thì cụ ngủ. Bảo bé Như dẫn nội dạo quanh trong vườn, cụ nói chân run chẳng bước được. Cụ hét lên: “Thăm thẳm, chông chênh, mịt mờ, nghe làm gì, đi làm gì!”… Cụ phàn nàn anh Huấn bỏ bê gia đình, coi cha như cục nợ. Đó cũng là điều cụ vẽ ra. Anh Huấn ngoan hiền, yêu cha lắm. Làm được gì cho ông vui thì khó mấy anh cũng làm. Nhưng hình như ông cụ không nhận thấy điều đó. Hiếu hay bất hiếu, xấu hay tốt đều được khỏa bằng, xếp ngang hàng. “Không còn nhìn thấy thì ta là gì… ngày giờ quay mòng… đất trời ở đâu? Tao có còn là người không… Mắt đâu?... Tao đâu?”.
        Chị Thoa cắn một miếng bánh. Ẩn bưng ly nước lên uống, và cảm thấy những tiếng kêu “tao đâu”, “mắt đâu” nghe vừa buồn thảm, tuyệt vọng, vừa bi thiết rờn rợn ./.
       

MẦN ĂN

  
        Tí Em nhanh nhẹn bước vào gian phòng lộng lẫy quen thuộc. Ông Hải Long vẫn nằm dài trên giường như mọi khi. Ông nói, mệt nhọc:
        “Chào cháu, mời ngồi”.
        Tí Em ngồi xuống ghế bành, đặt chiếc kính đen lên chồng sách.
        “Cháu uống nước. Việc thế nào?”.
        “Thưa chú, tốt. Gặp họ rồi ạ”.
        “Gặp à, ở đâu?”.
        Tí Em nhìn cô ca sĩ cười tươi trên tấm lịch treo tường, nói nhỏ:
        “Cháu lùng suốt ngày mới thấy… Buổi sáng cháu tới tiệm Hữu Tâm hai lần, không có thím Út, chỉ có mấy cô bé đứng bán. Cháu bèn gọi thêm hai thằng em, rồi ba đứa bung rộng, đi khắp quận 3, quận 5, đến các nhà quen, các chỗ thím hay lui tới”.
        Thím Út là Mai Ly, vợ ông Hải Long.
        “Hãy nói chậm rãi, tôi nghe không kịp”.
        “Dạ. Đúng 6 giờ chiều cháu gặp họ, tại nhà hàng Lạc Viên”.
        “Lạc Viên ở chợ cũ? Rồi sau đó?”.
        “Bọn cháu phục chờ đến 10 giờ đêm, đứa nào cũng đói mờ mắt, nhưng không thấy họ ra. Cháu xông vào xem thì họ không còn… như biến vậy”.
        “Biến mất!”.
        Ông Hải Long trở người, nằm nghiêng – “ôi, cha!”. Ông kêu, đau đớn, không rõ là đau thân xác hay tâm hồn. Im lặng. Chắc có đến ba, bốn phút trôi qua trong im lặng. Tí Em cảm thấy nóng bức.
        Tí Em là cháu họ của ông Hải Long. Mối dây họ hàng hai nhà còn khá gần, nhưng trước đến giờ do ít qua lại nên tình có phần lạnh nhạt. Ông Hải Long vẫn coi Tí (và Tí Anh, anh hắn) là những tên lấc cấc, vô tích sự. Nhưng gần đây, khi nổ ra vụ Mai Ly nổi loạn, bộ mặt anh chàng lông bông bỗng được tô hồng, sáng trưng… Ông Hải Long thừa nhận Tí Em năng nổ, được việc. “Nó sinh ra là để làm những công việc như vậy!”.
        “Có tiền dưới chồng sách, cháu lấy để uống nước, cảm ơn vô cùng”.
        Trên cái bàn tròn gần chỗ Tí Em ngồi có một chồng sách khá cao, ông Hải Long cất tiền dưới đó, bốn triệu. Tí Em nhấc chồng sách, lấy phong bì tiền nhét vào túi quần.
        “Này, cháu giúp tôi mấy hôm nữa. Hãy tìm tiếp. Khi gặp, bám theo xem họ làm gì, ngủ đêm ở đâu, ngủ mỗi nơi mấy đêm… theo thật sát”.
        “Dạ”.
        “Cứ hai ngày tới đây gặp tôi một lần, cho tôi biết công việc tiến bộ ra sao”.
        Tí Em đứng lên, dợm bước, nhưng không đi ngay.
        “Thưa chú, cháu nghĩ rằng… cháu thấy là nếu mình chỉ chạy theo họ như cái bóng thì buồn nản quá”.
        “Cháu muốn sao?”.
        “Dạ, mình có thể làm một chút gì đó, như là dằn mặt… như đập họ một trận, đập cảnh cáo, nhẹ thôi”.
        Ông Hải Long khục khục trong cổ, không ra cười, cũng không phải ho. “Tôi cũng đã nghĩ tới chỗ đó, nhưng thấy kẹt… chơi vậy dễ tới phường bắt tay với cán bộ lắm. Đây là một cuộc chiến, nhưng không phải đánh nhau bằng dao búa, súng ống, mà bằng cái này… cái đầu!”.
        Tí Em chào nhỏ, đi ra.
        “Này, Tí ơi!” Ông Hải Long nói vói theo, “ráng làm tốt, tôi sẽ thưởng”.
        Rồi ông thêm một câu gì đó, Tí Em nghe không rõ, một câu nói, hay chỉ là những tiếng rên khẽ.
*
        Ông Hải Long góa vợ lúc 56 tuổi. Bốn năm sau ông cưới Mai Ly, cô gái chỉ lớn hơn con gái đầu của ông năm tuổi. Ông coi đây là cột mốc quan trọng trong đời mình, một thành công ngoạn mục trong chuỗi thành công dài của ông. Nhưng hai năm nay, từ lúc ông lâm bệnh nặng, niềm hãnh diện đó đã biến thành một “vấn đề phức tạp”. Ông không được yên ổn trên giường bệnh. Những tin tức bất lợi từ nhiều nơi nối đuôi nhau bay về. Tất cả đều là tin đen. Tất cả tụ lại, vẽ nên chân dung một Mai Ly trẻ trung, sôi nổi, khác lạ. Mai Ly ngoại tình!
        Lúc đầu ông Hải Long không tin. Suy luận mãi ông vẫn chẳng tìm ra nguyên cớ khiến “nàng” có thể phản bội ông. Lấy ông, nàng được sống trong nhung lụa, không kém các bà hoàng. Tiện nghi: nhà cửa nguy nga, xe cộ sang trọng. Trang sức: vàng ngọc đủ cả. Ăn uống: chỉ còn thiếu gan trời! Ông biết mình yếu một khâu, là tuổi tác. Nhưng chẳng lẽ bao nhiêu sức mạnh trên không bù được chỗ đó?... Những tin mới lại tới tấp bay về, ông đâm ngờ lòng tin của mình. Em ông nói: “Thời buổi này cái gì cũng có thể xảy ra”. Chị ông nói: “Con người ta khi no cơm thì rửng mỡ. Ngoại tình là bệnh đã xuất hiện từ thời trung cổ”. Ông lo lắng, vội nhờ người quen chạy quanh dò xét, tìm hiểu giùm chuyện vợ trẻ nổi loạn. Thế rồi, chỉ ít lâu ông đã biết được những điều ông muốn biết. Sự thật phũ phàng! Ông đau khổ.
        Không rõ từ bao giờ, Mai Ly đẩy ông ra khỏi cuộc sống của mình. Đúng là cô ta đã thành một “nàng” tiểu thuyết, một cô gái tự do, thảnh thơi. Ở chung nhà, nhưng lắm lúc bốn ngày Mai Ly không gặp ông, mọi việc lớn nhỏ nàng giao phó cho bà ôsin. Cũng qua bà giúp việc này, ông biết lịch sinh hoạt của vợ. “Vợ, cô ấy có còn là vợ ta?”. Mọi chuyện tiến triển âm thầm, chậm chắc, xô đẩy hai người xa nhau, mỗi ngày xa thêm một ít. Đỉnh điểm của vở kịch buồn diễn ra cách đây hai tháng, Mai Ly đi du lịch hai mươi ngày, ra Bắc và lên Tây Nguyên, nhưng không nói qua với ông một tiếng. Tới đây ông mới thấy tận cùng nỗi đau của sự bất hạnh, tuy to đùng, đen sạm, nhưng nó không nằm trong thân thể xộc xệch của ông. Nó giấu mặt, ở đâu đó, trên cao, như một “hiện thực ảo”.
        Vốn tính cả ghen, ông Hải Long nhấp nhổm trên giường, như có đàn kiến đỏ bò rậm rật dưới lưng, như bị bầy ong lớn khiêu vũ trong đầu. Nhiều đêm ông thức trắng, chong mắt đếm thời giờ trôi. “Đâu có thứ thuốc nào chữa được bệnh gió trăng của đàn bà! Dẫu có uống chục lít thần dược chắc đầu óc ta cũng không bình ổn lại như trước”… “Buồn chết được”, người ta hay nói thế. Một hôm, thấy ông chết lịm trong cơn buồn tình, bà ôsin khuyên can: “Ông chớ nên nghĩ nhiều về bà chủ, hãy lo cho sức khỏe của mình. Em em, vợ vợ, lợi lộc gì, ông cho tôi được bàn hỗn mấy câu”. Phải, bà ta nói đúng, ta xoay tít, nổi sùng để làm gì!
*
        Tí Em đẩy cánh cửa khép hờ, bước vào căn phòng quen thuộc. Đại Khánh và Mai Ly đang châu đầu xem một tập an-bom. Mai Ly mặc đồ ngủ. Đại Khánh diện đồ lớn, như vừa dự tiệc ở đâu về.
        “Mời ngồi. Thế nào, Tí Em?”.
        “Thưa anh, tốt ạ”.
        “Tốt?”. Mai Ly hỏi.
        Tí Em ngồi, đặt kính đeo mắt xuống bàn, ho khẽ một tiếng.
        “Em nói đúng như anh dạy, lão ta ngã vật ra, thở dồn như người hấp hối, mặt mũi tái tím”.
        Đại Khánh gật gù. “Lão có bảo chú mày theo dõi tiếp anh chị không?”.
        “Thưa anh, vẫn tiếp tục”.
        “Thế lão chi cho chú mày mấy ghim?”.
        “Bốn triệu ạ”.
        “Trọc phú sắp chết vẫn kẹo”. Mai Ly nói. Đại Khánh xoa tay. “Vậy là tình hình sáng sủa! Thế này nhé, từ mai ta áp dụng bài mới. Chú mày hãy nói là vừa trông thấy anh chị mùi mẫn với nhau ngoài bãi biển, biển nào cũng được suốt bốn ngày”.
        “Thưa anh, hiểu”.
        “Nên nói thấy trong khách sạn, nghe mặn hơn”. Mai Ly xen vào.
        “Ừ, thì trong khách sạn. Nói là chỉ một buổi anh chị đã hôn nhau hai chục lần, bất kể giờ giấc, bất chấp nơi ít người hay đông người. Hoặc là, tả rằng nay chị Ly phốp pháp, trắng đẹp như đầm, sống kiểu Tây, giữa phố mà ăn mặc cứ như không mặc gì vậy! Nhớ diễn tả sao cho hấp dẫn, gợi tình, ướt át!”.
        “Dạ, anh tin ở em”.
        “Còn cái bài chúng ta giả vờ choảng nhau toé máu, như đã bàn hôm trước, thì dời lại tuần sau”.
        “Dạ, nhưng thế nào cũng trình diễn tiết mục em bị què chân, rách mặt, để em moi túi lão kiết thêm vài triệu”.
        Đại Khánh cười. “Chú em chớ lo, anh không quên đâu, sẽ có cách… sẽ còn lắm màn đặc sắc, hay không chịu được!”.
        Hạ thấp giọng, Đại Khánh nói với Mai Ly: “Em đưa chú Tí ít tiền”. Mai Ly mở xắc, đếm tiền: “Đây em, bảy triệu”.
        “Chú em đớp một lúc hai mâm, gian nhé!... Đùa chút, cố gắng lên, anh bạn trẻ”. Đại Khánh vỗ vai Tí Em. “Khi xong xuôi anh chị sẽ hậu tạ”.
        Tí Em cầm kính đứng lên, cười toét. Đại Khánh tiễn khách ra cổng, siết chặt tay Tí Em.
        “Trông em giống thám tử 007 lắm!... Còn chuyện này nữa. Ngoài tiền bạc, anh chị sẽ dành cho em một phần thưởng tuyệt diệu. Đó là cái gì, cho phép anh được giữ kín. Có điều chắc chắn là em sẽ thích mê!... Cái đó mọi người thích, tỉ phú thích, vua chúa thích, thì Tí Em cũng sẽ khoái… kha kha! Tạm biệt Tí, nhớ bảo trọng”.
        Tí Em cười híp mắt. “Em bảo đảm, chỉ vài tháng nữa lão già sẽ về thượng giới, sẽ bò vào nằm trong cột “phân ưu” của các báo!”.
        “Ừ, thì ta cũng mong cho hắn xuôi tay êm ái, sống thế đủ rồi!”.
        “Thưa anh, chắc lão sẽ ngoẻo mau chóng, lão là vua ghen”.
        “Máu ghen sẽ nổi lên như sóng thần, hắn nghẹt thở, huyết áp vọt lên 200, trợn mắt, đứng tim… kha, kha. Không ai giết hắn cả!”.
*
        Tí Em về nhà lúc 11 giờ rưỡi khuya. Bà Khả còn thức. Bà xuống bếp dọn cơm ra bàn cho con.
        “Má đi ngủ, để mặc con”.
        Tí Em tắm rửa mau lẹ. Mười lăm phút sau, hắn ngồi vào bàn ăn.
        “Chiều nay chú Song đến tìm con”.
        “Chắc chú nói về chuyện đóng giày”.
        “Phải. Chú muốn hỏi ý con lần nữa… Chỗ đó tốt, sau này lương khá. Người khác muốn vào phải lo lót, cầu cạnh”.
        “Nhưng nó không hợp với con”. Tí Em khịt mũi, đó là thói quen của hắn những lúc gặp chuyện khó xử. “Nghề kỹ thuật đòi hỏi mình phải khéo tay, mà con chậm lụt, lóng ngóng”.
        Bà Khả muốn Tí Em học nghề đóng giày. “Má biết con làm được. Hồi đi học con đâu thua kém ai”.
        “Con vụng về. Đinh với búa. Cắt với dán! Người ta học một năm, con phải ba năm!”.
        Bà Khả nói, giọng chùng xuống: “Má muốn con có một nghề, một việc làm ổn định”.
        Bà nhớ đến Tí Anh. Cứ nhắm mắt chừng vài phút, tập trung trí nhớ, bà có thể thấy ngay hình ảnh Tí Anh nằm sấp trên lề đường trong vũng máu, với con dao mỏng cắm trên lưng, cách đây hai năm… Băng đảng. Ân oán. Phi vụ. Hiềm khích. Lãnh địa. Thanh toán. Giờ đây lại đến Tí Em. Nó đi đi về về, mặt nghênh nghênh, mắt láo liêng. Thậm thụt. Quanh co. Những người khách lạ mặt. Những lần ăn nhậu từ sáng trước đến sáng sau. Và nguồn gốc mù mờ của những món tiền nó đem về.
        “Rồi con sẽ có một nghề, xin hứa với má… Chờ ít lâu, vài tháng nữa, con sẽ học. Bây giờ, trước mắt, phải có ngay một số tiền. Con đang gặp cơ hội tốt… Có tiền mới có quyền nói năng, mới no bụng, vững chân trong những ngày loay hoay, lúng túng này”.
        Cũng như mẹ, Tí Em không quên cái chết của Tí Anh. Không cần nhắm mắt, Tí Em vẫn dễ dàng thấy lại cảnh đám đông nhốn nháo, công an, xe cộ. Tí Anh nằm sấp trong vũng máu với con dao trên lưng.
        “Má sẽ trả lời chú Song thế nào?”.
        “Mai con sẽ qua nói chuyện với chú. Nhưng má ạ, cái nghề đóng giày… Con chắc không phải ai cũng làm thợ đóng giày được”.
        Bà Khả đi ngủ. Tí Em ngồi chống đũa nghĩ ngợi. Hắn nói nhỏ, nói với mình: “Má hãy để con bay chuyến cuối cùng. Nhờ trời, nếu trót lọt, số vốn của con sẽ tăng lên kha khá, rộng đường mần ăn… Lần này con là ông trí thức, chơi nhẹ nhàng bằng mưu lược, chẳng cần võ lực, má yên tâm. Con biết nhiều việc con làm không được đàng hoàng. Nếu má biết chuyện Mai Ly – Hải Long chắc má sẽ sợ con? Nhưng nếu suốt đời phải ngồi trong xó nhà làm anh thợ đóng giày gương mẫu thì… Từ nay con sẽ suy ngẫm, tìm kiếm việc gì đó để học, để thành một ông thợ. Chắc vẫn chỉ là thợ, nhưng không bằng phẳng như thợ đóng giày!… Con lười biếng, thiếu lương tâm? Sao con cứ thấy trước mắt mình không có chân trời? Có lần con nghe ông Hải Long than: “Con người ta đâu phải ai cũng điều khiển được vận mạng của mình”, phải vậy không má?” ./.

KHÔNG KHÓC

                  
Chiều hôm trước, lúc chạng vạng, ông Cho được một anh xích lô trẻ – bạn đồng nghiệp – chở về nhà. Ông say nhừ, nằm bất động, trông chẳng khác gì một cái xác.
Bà Cho ra đứng giữa sân gào to lên, như bố cáo cùng lối xóm. Bà trách cứ, nguyền rủa chồng bằng những lời nặng nề nhất. Bà nói ông là giống ăn hại, gánh nặng của vợ con – là người không đầu óc, có mắt như mù – là món nợ to bà mắc từ kiếp trước, nay bà phải trả… Những nhà xung quanh đã chán ngán, không ai buồn nghe. Vì dạo gần đây ông Cho thường say sưa, và bà vợ cứ tru tréo, chửi bới chồng như chiếc máy loại hảo hạng mở to hết cỡ.
Chiều hôm sau, vào khoảng 3 giờ, chiếc xe trắng của bệnh viện quận chở ông Cho về tận nhà. Ông đã chết. Ông bị một chiếc ô-tô tung phải ở Ngã Sáu, khi đang đạp xích lô.
Người ta khiêng ông Cho vào nhà. Hàng xóm chạy ùa đến xem. Lũ con ông Cho, bảy đứa, lăn ra khóc vang trời. Bà Cho thất đảm, mặt trắng chạch, chạy ra chạy vào quáng quàng, nhưng bà không khóc được.
Lúc 9 giờ tối, bà con tới phúng điếu đã về hết, bà Thúc đến. Bà là bạn tri kỷ của bà Cho, nhưng trong cái ngày đặc biệt này bà cũng khoác cho mình bộ dạng trịnh trọng, trông có vẻ ngồ ngộ, buồn cười. Sau khi thắp nhang, vái lạy trước bàn thờ, bà đến ngồi cạnh bà Cho.
“Đột ngột quá!”.
“Không ngờ!”. Bà Cho đáp, như tiếng thở dài.
Nhìn quanh quất khắp nhà, bà Thúc hỏi:
“Bọn nhỏ thế nào?”.
“Tụi nó không còn hơi sức để khóc”.
Muốn xua đuổi sự yên lặng khó chịu, bà Thúc kể những chuyện thường ngày ở chợ, nơi bà buôn bán. Nhưng, không giống những lần khác, giờ bà nói nhỏ, tránh pha trò cười cợt. Bà Cho nghe chăm chú, nhưng không hỏi, không bình phẩm.
“Có người nói tôi vô tâm, dửng dưng trước cái chết này, chị thấy lạ không?”.
“Vì sao?”. Bà Thúc hỏi.
“Cũng tại tôi cả, tôi không có một giọt nước mắt”.
Bà Thúc gật đầu.
“Hiểu rồi. Chị trầm tĩnh, chắc gan, có gì sai?… Nếu nhìn vào đôi mắt khô rồi bảo chị không thương anh ấy là cạn cợt”.
“Có bà còn nói lớn cho tôi nghe: sao đứng trơ ra thế, khóc lên một tiếng xem nào!”.
Bà Thúc xua tay:
“Trăm người trăm ý, họ nói mặc họ… Sống lâu thì thấy, lắm bà khóc như mưa, như lụt nhưng chỉ vài tháng sau đã cặp bồ mới!… Nhìn tờ giấy bao bên ngoài khi đánh giá đồ vật thì chẳng đúng đâu”.
“Tôi chẳng biết trời Phật định đoạt thế nào. Không thấy một dấu hiệu, dù nhỏ, báo trước sự bất hạnh… Hơn hai mươi năm sống chung… Còn chuyện vợ chồng va chạm, xích mích làm sao tránh khỏi”.
“Gần đây tánh tình ảnh ra sao?”.
“Bình thường, anh ấy vẫn vui vẻ. Mới tối hôm kia ảnh nói: lâu rồi mình chưa thăm tiệm bò vò viên chợ Xóm Chiếu, thứ bảy này cả nhà phải đi ăn mới được, không thì thằng Xiều nó buồn. Xiều là anh Tàu bán bò vò viên. Mấy năm trước, lúc có tiền, tối thứ bảy nào chúng tôi cũng ăn món ấy. Nhớ tới đó là tôi nghẹn. Có điều, chẳng hiểu sao nước mắt vẫn… không chịu chảy ra!”.
*
Bốn ngày sau khi ông Cho được an táng, có một người khách lạ đến thăm bà Cho. Anh tên Sáng, lái xe lam, nhà ở quận 5. Anh chính là kẻ đã chở ông Cho đến bệnh viện, hôm ông gặp nạn. Sau khi tự giới thiệu và nói mục đích đến thăm, Sáng nói:
“Anh Cho bị xe đụng ngay trước mũi tôi. Tôi bốc anh lên xe chở đi cấp cứu tức khắc. Nhưng vết thương quá nặng, máu ra dầm dề. Khi đến bệnh viện, anh nói với tôi: “Tôi mệt quá, không biết sẽ thế nào. Nếu tôi không qua được thì nhờ anh vui lòng giúp cho việc này: gần hai năm nay tôi có để dành được một số tiền, theo cách trẻ con bỏ tiền vào heo đất, cả nhà không ai biết. Tôi muốn dành cho mọi người một cú ngạc nhiên. Tiền được cất giấu ở phía sau bức ảnh cầu Tràng Tiền treo trên cửa sổ… Anh biểu vợ tôi hãy lấy số tiền ấy để mua một chiếc kính lão loại tốt. Đó là thứ bà ấy mơ ước nhiều năm nay. Và mua một cái đồng hồ Nhật cho con Thu, con gái lớn của tôi. Đó là món nó ước muốn từ lâu”.
Xong, anh cho tôi biết địa chỉ. Anh quằn quại, có vẻ đau đớn lắm. Anh thở dốc, và tự vuốt ngực mình lia lịa, trông rất dễ sợ. Chỉ vài phút sau anh lịm đi, rồi mất”.
Bà Cho mang ghế đẩu đến bên bức ảnh lấy tiền, một gói tiền khá lớn. Bà mở to mắt nhìn những tờ giấy bạc. Bà nghe sống lưng ớn lạnh như có một dòng điện nhẹ vừa chuyền vào. Mắt bà mờ đi. Rồi một cảm giác ứ nghẹn dâng lên trong ngực bà, tựa như sửng sốt, tựa như choáng váng, tựa như nghẹn ngào. Nhưng chẳng hiểu sao, bà không khóc được ./.

 

KHÔNG BIẾT


        Đúng như chị Trà giới thiệu, Khánh Hạ có gương mặt thanh tú, nụ cười vừa trẻ thơ vừa hóm hỉnh, nói chuyện khá vui. “Cũng lạ, đẹp thế này mà ba mươi chưa chồng”. Tôi nghĩ.
        Chúng tôi chuyện trò như đôi bạn thân, dù đây mới là lần đầu gặp nhau. Thật ra, trước kia tôi cũng đã biết Khánh Hạ, lúc nàng mười hai, mười ba tuổi. Từ đó đến nay quá lâu.
        “Anh khác hồi nhỏ nhiều lắm” Hạ nói.
        “Em cũng vậy, chẳng còn một nét nào của bé Hạ ngày xưa, mà hao hao giống Dương Tử Quỳnh”.
        Khánh Hạ nhướng mày.
        “Tử Quỳnh, ai thế?”.
        “Đó là nhận xét của chị Trà. Chị bảo em giống cô diễn viên Hong Kong Dương Tử Quỳnh”.
        “Sướng quá, nhưng em không biết cô ta… Có một thời em cũng ước mơ trở thành diễn viên, ca sĩ”.
        Theo như chị Trà nói, Khánh Hạ đang trải qua những tháng ngày nhạt nhẽo, u buồn trong tòa nhà thênh thang. “Chị em Hạ đang tự giam nhốt, tự giết mình. Sống không mục đích, không hy vọng như thế thật đáng sợ… Tuần nào chị cũng đến nhà Bình, Hạ vài ba lần, để tán dóc, đánh cờ, đánh bài, chị em nó rất mừng… Tòa nhà như trụ sở quận mà chỉ có hai chị em với hai người làm công”. Chị Trà giục tôi: “Em đến đó chơi, Khánh Hạ sẽ thích lắm, nó cần bạn”. Chị bảo tôi hàng chục lần. Tôi trì hoãn bằng cách hứa hẹn, như khất nợ. “Khánh Bình nói, cô ấy sẽ tìm cách sống thật nhộn thật ồn ào trong mười năm nữa, đến khoảng bốn hai, bốn ba thì tốp, hạ màn, tự kết thúc đời mình… Bình không muốn kéo rê một cuộc sống làng nhàng, mốc meo, vô vị. Ích gì mấy chục năm cuối đời, thân thể khô rúm, ăn không tiêu, đi đứng xiêu vẹo, đau nhức xương cốt… Nghe mà sợ. Nghĩ như thế thảm quá… Sống mãi giữa mấy cái máy hát và giá sách cũng nản. Con người dễ trở nên bạc nhược, còn ngày giờ thì rỗng không, dài ngoẵng… Khánh Hạ bỏ ra nhiều năm nghiên cứu, nghiền ngẫm khoa chiêm tinh, các tôn giáo lớn, triết học đông tây, nhưng rồi nó nói, cuối cùng vẫn không trám hết thời gian, không bịt kín được cái câu hỏi: tất cả những thứ này liệu rồi sẽ đem đến cho ta lợi lộc gì, đưa ta tới đâu?”. Chị Trà kết luận: chúng ta nên giúp hai đứa nó.
        Chị Đố – người giúp việc – bưng lên hai ly cà phê.
        “Đêm nào em cũng uống hai cữ cà phê… Xem tivi, đọc chút gì đó, mười một giờ đi ngủ, quanh năm như thế” Hạ nói.
        Chiếc bình cổ cò đặt giữa bàn cắm một cành hồng với một đóa hồng nhung to. Chỉ một bông và sáu chiếc lá. Chắc là cắm hoa theo kiểu Nhật?
        Tôi nhớ chuyến đi Cao nguyên mười bốn năm trước. Thành phố núi đồi, rừng thông, những vạt hoa bên đường.
        “Đà Lạt có nhiều hoa, đi đâu cũng gặp hoa. Lắm nơi hoa mọc hoang bên vệ đường, hồng, mimosa, bươm bướm”.
        “Thích nhỉ, em chưa được lên đó. Theo anh, nó có những gì đáng nhớ?”.
        “Đồi thông, thác nước, và những biệt thự của người Pháp để lại”.
        “Xưa giờ em chỉ thấy cây thông trên phim ảnh và trong sách”.
        “Nhưng ta khó ở lâu trên đó, chừng năm hôm hoặc một tuần là vừa, nếu hơn nữa sẽ nhàm, buồn”.
        “Cà phê ngon” Tôi khen.
        “Anh khen thật, không xã giao chớ?”.
        “Ngon lắm, hơn ngoài quán nhiều”.
        Hạ cười rạng rỡ, và nói một câu bất ngờ:
        “Cám ơn anh, chính em mua đấy. Tối nào anh cũng đến chơi, uống cà phê nhé”.
        Chúng tôi thân nhau nhanh chóng. Vậy mà mới trước đây vài giờ cái tên Khánh Hạ không có trong danh sách bạn bè của tôi… Lúc xẩm tôi định đi Tân Cảng, đến nhà ông anh ruột của Thông dự một dạ tiệc. Thông là bạn thân của tôi. Hắn bảo tôi chuẩn bị, 7 giờ hắn đến đón. Tôi chờ, ra vô sốt ruột, hơn 8 giờ vẫn không thấy bóng Thông. Chị Trà nói: “Thông không tới thì đi chơi với chị, ngủ sớm mục xương”. – “Em ra cà phê Phượng ngồi ngắm xe cộ”. – “Đến nhà Khánh Bình chơi, vui lắm, uống cà phê khỏi tốn tiền!” Tôi ậm ừ: “Hồi giờ em không tới, lạ hoắc, lóng ngóng, biết làm gì”. Chị Trà cười: “Đến rồi khắc biết… Khánh Hạ vẫn thường hỏi thăm em đấy”. – “Khánh Hạ… Khánh Hạ… nay cô ấy thế nào?”. – “Cao ráo, xinh, trí thức hâm… 30 vẫn còn nằm trong trạng thái “mống chuồn”.
        “Những kệ sách kia anh đọc thoải mái, nhiều lắm, hơn hai ngàn cuốn đấy”.
        Tôi ngắm Khánh Hạ. Nàng đẹp. Dáng người, nước da, khuôn mặt, nụ cười đều đẹp. Và tôi lại tự hỏi: người thế này cớ sao cô đơn.
        “Chị Bình không sờ đến chúng” Khánh Hạ nói về những cuốn sách “chị bảo nó cũng phù phiếm như chiếc nơ, cái cà vạt, bộ râu đàn ông!”.
        Chị Đố lên, bảo: “Chị Trà nói, cậu ở chơi, khoảng mười một giờ về”. Tôi đùa:
        “Mấy thì mấy, ở tới sáng cũng được!”.
        “Hai bà rất mê bài, có thể đánh quên ăn, suốt ngày thâu đêm. Em thì ngồi chốc lát đã mỏi lưng, quáng mắt” Hạ nói.
        Tôi bảo chị Đố:
        “Nói giùm với chị Trà, cứ chơi thả giàn, 12 giờ về”.
        Khi chị Đố ra khỏi phòng, Khánh Hạ nói một câu bất ngờ:
        “Tới đây thì ở lại đây. Anh ở chơi, sáng về”.
        Đồng hồ trên tường chỉ mười rưỡi. Khánh Hạ đưa tôi một cuốn truyện dịch. Truyện tình yêu và chiến tranh, của Đức, in trước đây 30 năm. Nhưng tôi không đọc được nhiều, vì Khánh Hạ vẫn nói chuyện.
        “Anh Khâm ngủ thường thấy chiêm bao không?”
        “Chẳng mấy khi, vì anh ngủ say. Nằm xuống lúc 12 giờ, dậy lúc mặt trời mọc. Ngủ muộn thì ít mộng mị”.
        “Anh giỏi, vô tư… thế có phải là hạnh phúc không?”.
        “Hạnh phúc là thế nào, anh không rõ”.
        “Hai từ đó dành cho những kẻ may mắn… Lúc nào có dịp em sẽ đi Đà Lạt một chuyến, để biết rừng thông, gặp hoa bươm bướm, mimosa, ngửi mùi Cao nguyên”.
        Một lát, Hạ tiếp:
        “Anh biết không, nay anh Tiến rất giàu. Nhà cửa xe pháo sắm đủ từ lâu. Năm 2003 anh ấy đã được bầu vào Hội đồng quản trị của một cơ sở sản xuất bơ sữa. Vậy mà anh vẫn kêu khổ, chán đời, cho rằng mình còn thua kém bạn bè”.
        Tiến là anh cả Khánh Hạ, ở Anh đã hơn ba mươi năm.
        “Em nói với anh Tiến: em mong được vắt sữa cho đàn bò của anh… em muốn có một việc làm lao động chân tay thú vị, vừa sức mình”.
        Tôi nghĩ: “Phải đấy. Nếu có việc làm, ngày hai buổi, Hạ sẽ khỏe ra, vui lên. Nếu lâm vào cảnh túng bấn, phải chạy đôn chạy đáo kiếm gạo kiếm tiền, chắc nàng sẽ phấn chấn, yêu đời hơn?”.
        “Ôi, sống lơ mơ, chẳng biết vì sao mình sống quả là điều nhọc nhằn! Cảm giác lẩn quẩn, bệch bạc, tù đọng cứ bám sát gáy mình, và lan cả vào những giấc mơ… Một dạo, khá lâu, em chiêm bao toàn thấy những cánh đồng cỏ bằng phẳng, xám ngoét; và trời mưa, mưa như mười năm dồn lại một ngày”.
        Gần 12 giờ, chị Đố bưng lên mâm thịt vịt, cháo vịt. Chị nói, chị Trà thắng giòn giã, đang rất phấn khởi. Dĩa thịt lớn tướng, bốn người ăn chưa chắc hết. Khánh Hạ mở tủ lạnh lấy mấy lon bia. Trong tủ có nhiều bia. Nàng nói:
        “Bia để đãi khách. Tiếp khách mãi rồi em cũng quen. Nay em uống hai lon không say. Mời anh”.
        Chúng tôi uống với nhau. Hạ hỏi tôi về công việc làm ăn, sở thích, những dự định tương lai. Rồi nói về quãng thời gian tươi hồng của mình, là giai đoạn từ lúc mới lớn đến những năm đi dạy. “Hồi đó sao mà thảnh thơi, hồn nhiên. Mua chiếc áo mới, sướng rơn – Đi dự tiệc cưới của bạn, vui cả nửa tháng!” Hạ chống cằm, nhìn ra cửa sổ. Tôi ngắm nàng, ngắm không chán mắt. Tôi uống chậm rãi, từng ngụm. “Món quà này – hoa khôi của câu lạc bộ gái ế chồng – chị Trà hay trời tặng mình?”.
        “Mọi đêm vào giờ này ta làm gì nhỉ? Đọc báo, xem tivi, hay uống ly cà phê cuối trong ngày” Khánh Hạ nói với chính mình “Men đang bốc hơi trong dạ dày. Tất cả các loại bia đều sản xuất từ lúa mạch!... Nay em hiểu vì sao người say thích nói: cái thứ lúa mạch quỉ quái ấy nó lắm mồm!... Ai sinh ra người? Ông Trời. Ai làm ra nhà cửa, đường sá, bia rượu? Con người. Dễ hiểu thôi… Nhưng cũng có nhiều điều khó hiểu, như tại sao chúng ta ở đây mà không ở một nơi nào khác. Tại sao em quen anh, không quen anh Dũng, anh Tuấn nào đó. Tại sao mình không là con trai, cũng không phải là một chị ngày ngày quảy gánh đậu hũ đi bán rong… Anh Khâm, anh đang nghĩ gì?”.
        “Không nghĩ, anh uống”.
        Khánh Hạ nhìn tôi, nheo mắt nhìn thật lâu, rồi lắc đầu:
        “Nay mai em sẽ biết anh, hiểu anh!... Vì sao anh tới đây hôm nay, không phải hôm kia hay năm ngoái… Và em không biết mai anh có còn đến chăng”.
        “Đến, chắc chắn, để uống bia!” Tôi đùa.
        “Uống cà phê, và đọc sách nữa”.
        Tôi nhớ đã từng nghe người ta bảo rằng, tại các nước giàu có một số thanh niên do dư dật, sung túc chẳng biết làm gì, mất phương hướng, đâm ra khủng hoảng tinh thần, quậy phá, nổi loạn.
        “Hôm trước bà Tư Rồi khuyến cáo chị Bình: coi chừng, tháng 7, tháng 8 tới cô có thể mất một món tiền lớn. Sau đó bà nói với chú Tâm: cuối năm chú sẽ nhận được hai tin vui. Đúng cả. Sao bà ấy biết?”.
        “Bà ta là chiêm tinh gia?”.
        “Chẳng nghề nghiệp gì, ai mướn chi làm nấy, không biết chữ”.
        “Mấy thứ này nằm trong dạng những chuyện huyền bí. Nhưng các trường hợp đó thường chỉ được vài năm, rồi hết giỏi, mất linh… Chúng ta gặp nhau hôm nay cũng lạ, không giải thích được, phải không”.
        Chị Bình hỏi bà Tư Rồi: “Bà xem, chừng nào tôi chết?” Bà Tư kêu lên: “Khổ, làm sao biết được!”. Chị Bình cười, trêu: “Không khó, tôi biết đấy!”.
        Khánh Hạ nhìn tôi hồi lâu:
        “Mặt anh sáng… mắt, miệng. mũi, trán, tóc tai đạt tiêu chuẩn nhan sắc… nhưng anh chẳng giống một diễn viên nào hết!”
        Nàng phá ra cười.
        “Được bốn lon, vượt chỉ tiêu! Nhưng em không say… Anh có nhớ cái ông linh mục phụ trách nấu rượu cho tu viện, do phải nếm rượu lâu ngày nên thành nghiện, thường say bí tỉ, trong truyện ngắn của Daudet?”.
        Nàng không chờ tôi trả lời.
        “Em yêu ông ta. Đấy là một con người với đầy đủ các mặt phải trái tốt xấu của nó… Người ta sống trên đời, ăn uống, đi đứng, vui buồn thì dứt khoát không phải là thánh… Em đây, được cưng chiều, học hành nhiều năm, ở nhà to, đi xe đẹp nhưng cơ bản cũng là người trần tục như bà Tư Rồi, như chị Muộn, sao em lại được số phận ưu ái hơn những người đó?”.
        Gần 2 giờ sáng. Tôi uống hết lon bia thứ bảy.
        “Anh Khâm biết không, có lần chị Muộn – người giúp việc – bảo: “Trước nay cô có gặp tiên chưa? Cô là tiên đấy! Sướng như tiên. Bà hoàng chắc cũng đến như thế là cùng, cô có đủ mọi thứ”. Em làm mặt nghiêm: “Bà chị lầm to rồi, tôi còn thiếu nhiều, buồn khổ chất chồng. Chẳng hạn, tôi thiếu tình, tất thảy các loại tình!”.
        Tôi tới ván nằm nghỉ, ngồi lâu mỏi lưng. Khánh Hạ ngồi nhìn xuống bàn, tốc xõa che kín một bên má. Tôi ngủ chập chờn. Điện sáng lóa, sáng kì lạ, tưởng có thể dòm thấy cả vi trùng… Có một giọng nói nhỏ, hay giọng hát, thì thầm, đâu đây. Ai nhỉ? Khánh Hạ không thể hát được rồi, nàng đã thanh toán bốn lon bia! Ai nói gì đó, nho nhỏ, bên tai tôi. Tôi mở mắt nhìn. Khánh Hạ ngồi gục đầu xuống bàn, một lon bia ngã đổ lênh láng. Chết thật. Tôi dậy, Phải giúp Hạ, không khéo nàng say, té ngã thì nguy. Tôi nhìn quanh tìm miếng giẻ lau nước bia. Khánh Hạ không ngủ, không hát, nàng khóc. Làm như các diễn viên trong những phim truyền hình, tôi cúi xuống ôm vai nàng, hỏi nhỏ:
        “Sao em khóc?”.
        Khánh Hạ không ngẩng lên, nàng vẫn khóc. Tôi bối rối, chẳng biết nên làm thế nào. “Gặp tình cảnh này, các diễn viên trong phim sẽ đối phó ra sao”. Tôi nghĩ, và suýt bật cười.
        “Hạ, sao em khóc”. Tôi lại hỏi, vụng về, ngô ngố.
        “Không biết! Đừng hỏi, em không biết!” ./.
 


30 thg 10, 2015

TẾT NĂM ẤY, SAU CUỘC CHIẾN

   

        Chưa đầy nửa tháng sau ngày hòa bình, tôi rời Sài Gòn, trở lại Tây Nguyên làm công tác quy tập hài cốt liệt sĩ. Đầu năm 1976 thì được giải ngũ, ra Bắc. Ra theo xe của 559, tới Vinh (Nghệ An) lên tàu hỏa. Sáu năm trước, tiểu đoàn chúng tôi rời Hà Nội hành quân vào Nam. Chặng đầu đến Vinh được ngồi tàu hỏa. Ngày đó, trong đội hình tiểu đoàn có 51 người là dân thủ đô. Giờ đây trên chuyến trở về thành phố quê hương thì chỉ còn có một tôi mà thôi.
        Tôi xuống Hàng Cỏ buổi trưa, 26 tháng Chạp. Một ngày chủ nhật lạnh giá. Mặc dù biết rằng ngôi nhà ga có từ đầu thế kỷ XX và có kiến trúc rất đẹp này đã trúng bom hồi cuối năm 1972 mà nhìn thấy đống đổ nát vẫn sững cả người, tôi phải ngồi lại định thần một lúc lâu trên sân ke. Từ ga về nhà, tôi đi dọc đường Nam Bộ. Trời mưa lất phất nhưng tôi bỏ mũ cối ra, mở cúc áo ngực, đón nhận căng tràn hương vị của thành phố thân yêu sau bao năm trời xa cách. Tôi rảo bước theo nhịp tim đập dồn. Qua chợ cửa Nam, rồi vừa vượt chỗ chắn tàu, tôi khựng lại bởi nghe thấy tên mình ai đó kêu rú lên gọi. Một người đàn bà từ sau quầy hiệu may nơi mặt tiền nhà 44 nhào ra chụp lấy quai ba lô của tôi. “Cháu về đấy à, cháu đã về đấy à, cháu ơi!...”. Rồi từ “cháu ơi”, bà kêu lên, khóc: Kế ơi, bạn con về rồi đây này, con ơi, mà con thì sao không, không bao giờ nữa… Tiếng khóc dữ dội, cuồng dại mà như đang lặng ngất. Đấy là bà mẹ của Kế, bạn học một lớp Trường Bưởi với tôi. Nhập ngũ trước Kế nên tôi không biết rằng Kế cũng đã vào bộ đội… Người trong nhà chạy ra đỡ lấy bà mẹ. Tôi thì cứ đứng thần ra, không thốt nổi lời nào. Cầm lòng không đậu, cơn thổn thức rát bỏng lồng ngực.
        Nước mắt ngày gặp mặt trước cửa nhà Kế khiến tôi bất giác thấy sợ khi đứng trước cổng nhà mình. Chỉ riêng cái chung cư một chục gia đình này cũng đã góp vào cuộc chiến 4 chàng trai, cô gái sàn sàn tuổi tôi, mà không chừng chỉ duy nhất một mình tôi trở về mà thôi. Linh cảm ấy khiến lòng tôi se lại, chỉ dám hé cổng sắt ra, rón chân đi ngang qua sân. Buổi trưa, trong giấc thiu thiu, ngôi nhà lặng như tờ.
        Mẹ tôi, cha tôi không hề hay tin tôi về, đột ngột trông thấy tôi ở ngưỡng cửa, vậy mà không reo lên, cũng chả thốt kêu lên. Tôi ôm lấy mẹ. Mẹ tôi lặng khóc. “Bảo nó chết rồi, vừa báo tử tuần trước”, đấy là lời đầu tiên mẹ tôi nói với tôi. Rồi mẹ lại nói: Còn Hưởng thì báo tử năm ngoái”. Tối hôm ấy, mẹ tôi làm bữa cơm đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên ai nấy nói khẽ. Cửa sổ khép lại. Đèn tắt bớt ngọn. Ngay bên kia tường là tang tóc gia đình Bảo. Bên kia sân thì bố mẹ Hưởng…
        Ngày hôm sau và nhiều ngày sau đó nữa, lặng lẽ những ông bố, những bà mẹ, người vợ, người chị trong khu phố đến mừng tôi còn sống và hỏi thăm tin tức người thân. Nào tôi biết nói gì đây. Tôi là lính Sư 10, trận mạc chủ yếu ở Tây Nguyên mà các ngã đường của chiến tranh, những nơi anh em bộ đội đã nằm xuống thì khôn xiết kể, bao la mờ mịt trùm phủ thế gian này. “Cháu có hay tin gì của thằng Đức nhà bác không, đơn vị nó chiến đấu ở cánh đồng Chum…”, “Thư cuối anh trai em nói đang ở mặt trận Long An,,,”. Chắc rằn bất kỳ ai trở về sau chiến tranh đều gặp những câu hỏi như thế nên hẳn là cảm thông được cho nỗi “đau nhói hòa bình” trong lòng tôi, một kẻ gần như là đã một mình sống sót trở về hồi ấy.
        Vì thuộc diện ra Bắc sớm nhất đơn vị nên tôi mang theo trong ba-lô rất nhiều thư của các đồng đội quê Hà Nội gửi về nhà. Vui nhất, sung sướng nhất đối với tôi trong mấy ngày trước Tết là đi rải những lá thư ấy, mang đến cho gia đình của các bạn tôi niềm hạnh phúc vô bờ.
        Hơn hai chục lá thư, hơn hai chục địa chỉ, khắp trong thành phố, mà đều là do ba tôi lọc cọc chở tôi đi. Ông nhất định không để tôi đạp xe đạp tự đi lấy một mình. Hồi đó, Hà Nội đâu có kìn kìn xe máy như ngày nay. Nhưng ba tôi vẫn sợ, nhỡ... thì...
        Đưa thư tới các gia đình bộ đội cũng là đi dạo phố. Ba đưa tôi đi thửa đôi giày ở tiệm giày “chui” ngõ Phất Lộc. Loanh quanh dạo phố, cha con tôi đi ăn phở “chui” trên gác xép nhà họ Cồ phố Hàng Đồng, rồi vào cà phê phin, cũng “chui”, trong ngõ Gạch. Xưa, ngay trước ngày nhập ngũ, tôi cũng được ba đưa đi ăn phở và uống cà phê những chỗ ấy. Ngày đó, chiến tranh, ly biệt, ba tôi buồn, nặng trĩu nỗi âu lo nên âm thầm. Nhưng nay tôi sống sót trở về mà ba tôi vẫn vậy, ưu tư, mặc dù dĩ nhiên ông vô hạn mừng vui.
        Cha con tôi lặng lẽ uống cà phê, lặng lẽ dạo phố, lặng lẽ rẽ vào chợ hoa Hàng Lược chọn một cành đào. Ông tránh, không hề nói gì tới chiến tranh, không đả động hỏi tôi về trận mạc, tấn công Buôn Ma Thuột thế nào, tiến đánh Sài Gòn ra sao... Ba hiểu tâm trạng tôi đang rất muốn quên đi để được êm ả trong lòng mà vui Tết. Từ năm 1965, hơn 10 năm chiến tranh, tới Bính Thìn Tết ấy trong gia đình chúng tôi mới có lại giò hoa thủy tiên, chậu cúc, cành đào. Tôi cũng mua một bánh pháo song tới giao thừa thì lại thôi, nghe lời ba mẹ, không đốt nữa. Tiếng pháo quá rộn rã, trong khi biết bao gia đình không thể làm sao rộn rã cho nổi dẫu đã hòa bình rồi.
        Từ mùa đông 1946. Đằng đẵng ba chục năm trời đau khổ da diết cầu mong tàn cuộc binh lửa, vậy mà Hà Nội đã chào đón mùa Xuân hòa bình đầu tiên một cách chừng mực. Tôi cảm nhận thấy thế. Ở đâu tưng bừng hoan hỷ, rầm rộ ăn mừng không biết, chứ như tôi thấy thì Tết ấy, khắp các phố xá của người bình dân Hà thành, một bầu không khí trầm tư của những nông nỗi mừng vui lẫn lộn. Trầm tư, bởi có biết bao nhiêu là niềm mặc tưởng trong lòng khi mùa Xuân tới.
        Giao thừa Bính Thìn, tiếng pháo ran lên nhưng nghe hiền hòa và đầm ấm chứ không dữ dội đinh tai nhức óc cuồng lên phô trương như tiếng pháo của những cái Tết về sau. Vừa giã từ vũ khí mà bánh pháo Hà Nội hồi ấy khi lạch tạch nổ tỏa mùi thuốc pháo nhà quê Bình Đà hiền lành dễ chịu chứ không nồng nặc mùi thuốc đạn của loại pháo hung tợn những năm sau đó nhập khẩu về.
        Có một điều rất lạ, tôi còn nhớ rõ, là ca nhạc mừng Xuân Tết ấy rất êm đềm. Tết ấy là Tết hòa bình và cố nhiên là cả Tết chiến thắng nữa, vậy mà từ các loa phóng thanh của phường phố tới những sân khấu văn nghệ quanh bờ hồ Gươm không nghe vang lừng lên những khúc quân hành. Tưng bừng chiến công chiến thắng chỉ có bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, còn thì người ta hát Nối vòng tay lớn, hát Mùa xuân đầu tiên và nhất là Bài ca hy vọng.
        Cũng rất lạ nữa là các rạp xi-nê dịp Tết ấy không thấy chiếu những phim anh hùng chiến công này nọ. Ở rạp Kinh Đô gần nhà tôi đang phải chiếu cái phim Lửa hận rừng dừa lòe loẹt và huyên náo, giáp Tết người ta thay bằng phim Cánh buồm đỏ thắm. Rạp Tháng Tám và Công Nhân cũng vậy, chiếu bộ phim thơ mộng ấy. Kim Đồng chiếu Con chim vành khuyên, tuy là phim thời chiến nhưng ẩn chứa sâu sắc tình yêu hòa bình. Còn cái rạp Bắc Đô bình dân, náu mình ở gầm cầu, thì moi từ đáy kho phim Đàn sếu bay qua ra chiếu.
        Chiều 30 tết, các bạn cũ lớp 10 tới hội ở nhà tôi, cơm tất niên cùng ba mẹ tôi. Buổi tối cả lớp kéo nhau đi dạo bờ hồ. Trước giao thừa, ra bờ hồ trẩy hội, đi bộ, ngắm đèn, ngắm người là cái lệ, là nếp quen từ xưa của tuổi trẻ Hà thành. Chìm trong đông đảo nườm nượp, trong trùng điệp tươi vui, tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tôi ngây ngất hạnh phúc. Dường như tới buổi tối đó, tôi mới thực sự thấu cảm niềm hạnh phúc còn sống trở về và được hưởng hòa bình. Tôi như trở lại với thời học trò 17 tuổi. Các bạn lớp 10 ngày xưa quây quần ríu rít quanh tôi, ai cũng muốn đi sát vào tôi, khoác tay tôi. Tôi được thương mến, được hưởng tình thân ái của các bạn còn hơn là hồi đang đi học với nhau.
        Sau một vòng quanh hồ, cả hội vào Thủy Tạ giữ 2 bàn bên lan can kề mặt nước. Thủy Tạ mở cửa đến 22 giờ, mà lúc đó đã quá nửa tiếng rồi nhưng do chúng tôi có Lan là con gái của bác cửa hàng trưởng nên được ưu tiên ngồi nán. Dù trời rất lạnh, kem thì tê buốt mà xúm xít với nhau vẫn thấy ấm lòng. Chỉ có điều, tới lúc chia tay để ai nấy về nhà đón giao thừa cùng gia đình thì Lan bật khóc. Nhà của Lan ở đầu Hàng Gai, cách một đoạn, đầu Hàng Cân là nhà Cường, trưởng lớp 10C chúng tôi. Cường hy sinh ở Quảng Trị, năm 1972. Vì ai đó nhắc tới Cường khiến Lan khóc...
        Tôi lặng người. Cho đến lúc ấy tôi mới nhận ra rằng gọi là “cả lớp” hội với nhau ở đây mà thực ra chỉ có 16 “tên”. Và chỉ duy nhất tôi là con trai. Sĩ số của 10C chúng tôi ngày thi tốt nghiệp chẵn 40. Mười lăm nữ, 25 nam. Tất cả bọn con trai đều đã lên đường ra trận, sao bây giờ chỉ có một tôi có mặt ngồi đây cùng bọn con gái?
        Được sống và hưởng hòa bình là hạnh phúc tột đỉnh đời người song niềm hạnh phúc ấy lại đồng thời là nỗi đau thương tột cùng. Tôi nghĩ về đời mình, về cuộc đời của thế hệ mình như thế, từ buổi tối ấy, khi đoàn tụ sum vầy bên hồ Gươm với phần còn sống sót của lớp học ngày xưa ./.

                                                                                        (Người lao động Tết Ất mùi – 2/2015)