1 thg 11, 2015

EM ĐI THÊM MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG



        Phòng khách nhỏ, vuông vắn, mỗi bề chừng bốn mét, có một cái bàn thấp, sáu chiếc ghế, vài tờ báo cũ, trên tường treo một đồng hồ tròn, chỉ vậy, chẳng còn thứ gì khác. Thiên Thanh bảo Đạt: “Anh đọc báo, đợi tôi chút.” Cô nàng vào phòng riêng trang điểm. Đạt đã ngồi trước thềm hơn một tiếng, giờ lại đợi ở đây… Thiên Thanh làm cao, đỏng đảnh, không xài điện thoại. Ai muốn gặp phải đến tận nơi, điều đình trực tiếp.
        Đạt lái xe cho ông Phước Hải, công việc ít, nhàn hạ, nên anh kiêm luôn vai “tùy phái”, làm các chuyện râu ria, không tên, trong đó có những cuộc rước gái. Ông Phước Hải gắn kết với Thiên Thanh đã lâu, hơn hai năm, và cô gái bao này đem lại cho ông nhiều niềm vui cùng lắm điều phiền toái… Hơn nửa giờ, Thiên Thanh ra. Vẫn chưa xong. Nàng bê theo chiếc gương lớn và hộp son phấn.
        “Ông Hải về lúc nào?”.
        “Sáng nay”.
        Đạt ngán ngẩm. Thiên Thanh chăm chú sửa sang cái mặt loang lổ của mình. Cô nàng mặc chiếc áo hở cổ, cực mỏng, da thịt vú móm thỗn thện.
        “Chán quá, tôi chỉ muốn ngủ”.
        Để tránh nhìn bức tranh cận cảnh lồ lộ, Đạt giả vờ đọc báo, nhưng tất nhiên chẳng đọc được gì.
        “Có khi nào anh buồn đến muốn chết không?”.
        “Chưa”.
        “Tôi thì thường, có lúc gặp luôn,  bác sĩ bảo tôi mắc chứng trầm cảm… Người béo tốt, ham hố như ông Hải chắc chẳng bao giờ biết buồn?”.
        “Có lẽ”.
        Mùi nước hoa thơm gắt. Phiền thực, rườm rà như sắp phải lên sân khấu. Sao lại tạo ra lắm thứ dây nhợ, rối mắt, làm khổ mình như thế?... Đã quá 7 giờ. Đạt hẹn với Trâm 7 giờ tối sẽ về dự bữa cơm thân mật, tiệc chia tay, do Trâm đãi. “Vậy mà lúc này ta còn chôn chân ở đây”. Đạt than thầm. “Thế nào anh cũng phải có mặt đấy, chúng mình tâm sự lần chót, mai kia dễ gì gặp lại nhau”. Không phải bà con, Đạt và Trâm chỉ có tình hàng xóm. Trâm mướn một căn phòng nhỏ của ông Cường, cạnh nhà Đạt, sống với đứa con trai. Dạo đó Đạt còn sửa xe gắn máy, chưa làm cho ông Phước Hải. Anh không để ý đến đám tạp khách của ông Cường. Phần lớn họ là dân lao động chân tay, từ bốn phương đổ về, đa số còn trẻ, làm đủ thứ nghề… Đạt đoán Trâm dân miền Trung, qua giọng nói, nhưng không biết cô làm gì. Ở lâu thành quen, vào những ngày bận rộn hoặc đi làm xa Trâm gửi bé Ca nhờ Đạt giữ giùm. Thời giờ qua mau, thường mau hơn người ta tưởng. Ba năm. Những ngày đầu bé Ca bước chưa vững, nay nó lớn phổng, đã chạy đi chơi khắp các ngõ ngách của khu phố, và thuộc hàng chục bài hát. Rồi, khá bất ngờ, mai đây “mẹ con nhà cò” sẽ cuốn gói đi!... Mấy năm qua Trâm sống trong cảnh không chồng có con, nay nàng theo một ông tầm tầm, cỡ bốn mươi tuổi. “Em đi lấy chồng”, kiểu như băng ngang qua con đường tắt, chẳng xe pháo cưới hỏi gì!
        “Con người vất vả cũng phải, tài xỉu chỉ hai mặt ta còn thua liểng xiểng, huống chi đời hàng trăm mặt”.
        Thiên Thanh “triết” như mụ già chai sạn. Đạt không thích nghe, anh muốn về, chắc Trâm đang mong.
        “Anh thấy đời có bao nhiêu mặt, anh Đạt?”.
        Đạt giật mình.
        “Đời à? Tôi chưa nghĩ… còn tùy!”.
        “Nói vậy hơi yếu, lừng khừng – Thiên Thanh cười – Tôi mới nghĩ ra một ý rất tuyệt: mai mốt tôi sẽ mua tặng ba tôi một máy hút bụi!”.
        “Máy gì?”.
        Thiên Thanh cười lớn: “Biết mà, anh kinh ngạc! Ngạc nhiên quá đi chớ, anh đâu phải tượng đồng! Nào, để tôi nói nghe, hôm qua xem một phim truyền hình Pháp tôi thấy một bà cụ loay hoay, khổ sở vì vớ phải cái máy hút bụi hỏng hóc, hài hước lắm… Thế là bật ra sáng kiến này, vậy đó!”.
        Trâm coi Đạt như ân nhân, nàng gọi sự giúp đỡ của anh là ngọn núi ơn nghĩa. Trong thành phố xa lạ, rộng lớn, giữa hàng triệu người ngược xuôi chóng mặt, đâu dễ tìm được nơi nhờ cậy. Trâm muốn nói đến những lần Đạt trả giúp tiền mướn nhà khi nàng thất nghiệp, mấy lần anh cho mượn tiền để nàng lo thuốc thang lúc bé Ca đau bịnh. Thực lòng, Đạt coi đó chỉ là chuyện nhỏ, bình thường, như nghĩa vụ tự nguyện, nhưng Trâm bảo nàng sẽ nhớ mãi, không được phép quên. “Làm sao em trả ơn cho anh?”. Đạt gạt đi: “Tình xóm giềng, giúp nhau chút ít, em đừng để ý”. Dù vậy, Trâm vẫn không quên, thỉnh thoảng nàng lại hỏi: “Mẹ con em lấy gì đền ơn anh?”. Đạt đùa: “Khi nào giàu em tặng anh vài viên kim cương, hoặc chiếc xế hộp”.
        “Nếu em gái anh nói cô ấy muốn đi tu hoặc ra hoang đảo sống cu ki, anh nghĩ sao?”. Thiên Thanh hỏi.
        “Tôi không tin”.
        “Nếu biết gần đây tôi thường nghĩ vậy, anh tin chăng?”.
        Đạt không đáp ngay, bởi thấy cần suy tính kỹ, câu này tế nhị.
        “Anh cứ nói thẳng, tôi thích thế”.
        “Có thể”.
        “Ôi, có thể, buồn quá chừng! Thảo nào bác sĩ bảo tôi trầm cảm… Vậy là những nét bất thường đã lộ rõ trên mặt tôi?... Thôi, hoàn chỉnh, xỏ váy vào nữa là xong – Thiên Thanh nói với cái mặt mình trong gương – rồi tiếp: Trước kia tôi từng nghĩ, người có nhiều tiền chắc lúc nào cũng phơi phới, vui sướng, nay nhận ra chưa hẳn vậy… Hiện giờ tôi dửng dưng với tiền bạc, chẳng muốn mua sắm, xây cất, cũng không lo nghĩ về bất cứ vấn đề to lớn nào, thế mà người vẫn mệt, phải gọi đúng tên nó là mỏi và mệt. Có vậy mấy lão bác sĩ mới mập ú… Hay tại mình ăn no rửng mỡ?”.
*
        Đạt đưa Thiên Thanh về đến nơi. Phòng ông Phước Hải, phòng khách, hành lang đều sáng đèn. Đã quá 8 giờ. “Chắc Trâm mong mình lắm, có lẽ bữa tiệc gần tan… Ta phải xin lỗi, sẽ nói như người ta thường nói: anh lấy làm tiếc!”.
        Ông Chút – người làm vườn của ông Phước Hải – cho Đạt biết: Trúc Ly mới về. Thật bất ngờ. Đạt lúng túng.
        “Đưa Thiên Thanh sang nghỉ tạm bên phòng tôi”. Ông Chút bảo. “Ông Hải mới chạy qua bên nhà hàng Đại Nam, lát nữa về”.
        Trúc Ly là con gái ông Phước Hải, ở Huế. Cô ta vào Đà Lạt lo công chuyện làm ăn, qua ngang đây ghé thăm cha.
        Thiên Thanh không chịu đến nhà kho chứa đồ cũ, chỗ ngủ của ông Chút. Cô nàng la lớn: “Về, chán chết… hôm nay là ngày gì!”. Lại lên xe, quay về điểm xuất phát. Tới nơi, cơn giận chùng xuống, Thiên Thanh dịu giọng:
        “Phiền anh quá, tôi không muốn thế, mời anh vào chơi”.
        Đạt lại vào cái phòng khách quen, ngồi xuống chiếc ghế cũ. Thiên Thanh thay áo, thật nhanh, rồi mang ra một dĩa bánh kẹo, mời Đạt.
        “Giờ này mới đúng khỏe, chỉ còn một việc nhẹ: ngủ”.
        Đạt ăn kẹo, Thiên Thanh uống thuốc an thần.
        “Không lúc nào tôi thiếu thuốc trong nhà… Phí công làm đẹp! Chẳng ai buộc cả, anh ạ, trang điểm đã thành thói quen. Cũng khéo bày vẽ, tô son trát phấn! Tôi sẽ giữ nguyên cái mặt mo này cho đến sáng… Tốn bao công sức, khổ như đi cày, để lừa gạt người, và lừa cả mình!”.
        Đạt ngồi nghe, còn biết nói gì. Khuya muộn, bữa tiệc của Trâm chắc đã kết thúc từ lâu, “Anh là ân nhân của em. Biết lấy gì đền ơn anh đây?”. Dịu dàng, khắc khoải như con đa đa!
        “Tháng trước về thăm nhà, tôi gặp lại một cô bạn cũ… Chậc! Bằng tuổi mình, nay nó ba con, làm nông, buôn bán lặt vặt, nuôi heo gà… nom nó chẳng già lắm, nhưng săn chắc xám mốc như cây bonsai! Thế nên, nhiều ngày sau đó, hễ nằm xuống nhắm mắt là tôi thấy nó… nó và cái làng quê ấy, cái tuổi thơ ấy”.
        Nhìn Thiên Thanh, chẳng hiểu sao Đạt nhớ tới mấy chị bán chè dạo với gánh hàng lỉnh kỉnh xoong chén, cất tiếng rao buồn, len lỏi vào các hẻm tối trong đêm khuya. “Cô nàng trưởng giả mới này làm mình lỡ hẹn với Trâm”. Đúng là trưởng giả! Thử nghĩ xem hai cô ả có gì giống nhau? Cũng dễ thấy. Điểm nổi rõ nhất là nguồn gốc xuất thân, cả hai cùng con nhà nghèo. Nhưng hiện giờ họ khác nhau nhiều, và có lẽ càng về sau họ càng xa nhau, như hai mũi tên bay ngược chiều.
        “Rồi tôi sẽ chết dần mòn vì thuốc nhức đầu, thuốc an thần, vì nhịn ăn, lo rầu, buồn vô cớ… tóm lại, vì cái chứng trầm cảm của bọn “từ mẫu”… Trầm cảm, trầm mặc, nghe cũng hay! Anh Đạt thấy tôi thế nào, kỳ cục, chán mứa, hay đáng ghét?”.
*
        Ra khỏi nhà Thiên Thanh, Đạt ghé vào một quán cà phê. Về lúc này chẳng làm gì, cũng chưa ngủ được. Quán thưa khách, nhạc hay, nghe bằng tai, không nhìn hình ảnh… Mười một giờ Đạt mới về nhưng Trâm vẫn còn thức đợi. Xung quanh vắng lặng, thiên hạ đã trò chuyện với chiêm bao. Trâm mời Đạt qua phòng mình. Nàng bưng ra mấy tô thịt xào, nộm, gỏi, và vài chai bia. Bình bông tươi rói trên bàn và mùi nước hoa ngập phòng, là hai thứ thường ngày không có ở đây.
        “Mai em lại đi thêm một đoạn nữa trên đường… đường gì anh?”.
        Trâm diện bộ đồ ngủ xanh nhạt, mỏng “khủng khiếp”, lộ rõ những món đáng lẽ phải che giấu, giống như Thiên Thanh lúc sẩm. Nàng ngồi sát vào Đạt, gắp thịt, rót bia, bắt anh ăn, ép anh uống. Ân nhân mà lại! Đạt vốn yếu kém về môn nói, câm đặc về chuyện tâm tình tâm sự, nên anh chỉ uống, và cười. Và anh thấy thú vị về cái kết quả mà lòng tốt của mình đem lại.
        “A, em nhớ rồi, đường đời! Em sẽ đi trên một khúc đường đời mới… đấy, phải nói rõ như thế!”.
        Đạt gục gặc, ừ à, hỏi:
        “Anh ấy, chồng em, ở đâu vậy?”
        “Đồng Nai, mà cũng không hẳn Đồng Nai… nó nằm đâu khoảng giữa Biên Hòa và Bình Dương, đại khái thế, em chẳng rõ nữa!”.
        “Khá mơ hồ, cái bên nhà trai!”.
        Trâm cười: “Em không lo đâu, anh ấy thực thà. Với lại, em đã chuẩn bị tinh thần rồi, dù cho gặp phải tình huống xấu em vẫn sẽ đứng vững… Giả như mai ảnh đưa em đến Đồng Tháp, không về Đồng Nai em cũng chẳng hốt hoảng. Trông thế này chớ em cứng cỏi lắm!”.
        Đạt ngắm cô nàng, ôi, đầy vun những vú vít, mông đùi gò đống! Trâm cũng ăn mạnh, cũng uống bia.
        “Hồi nãy tiếp mấy đứa bạn em chỉ cười nói suông, ăn qua quít, để dành bụng… giờ ăn với anh!”.
        À, ra thế. Đạt thấy ấm lòng, vui, vì được trọng vọng!
        “Uống nhiều vào! Em đã nói, mai sẽ xa nhau… biết đời nào gặp lại”.
        Đạt uống liền, nỡ nào từ chối người bạn chân tình thế này. Càng lúc Trâm càng ngồi sát vào Đạt, nói cười sôi nổi, phả vào mũi anh mùi nước hoa và mùi bia sực nức.
        “Anh tốt hiếm có… Em quê mùa, lại xấu, không thì em bắt xác anh rồi”.
        “Có gì đâu, em cứ nhắc mãi mấy chuyện cỏn con”.
        Trâm nắm tay phải Đạt, hôn thật lâu, thắm thiết, như các nhà quý tộc trong xinê hôn tay các mệnh phụ.
        “Ở lại ngủ với em, nghe anh… phải ngủ, chẳng còn dịp nào nữa đâu”.
        Đến đây thì Đạt hiểu: Trâm muốn trả ơn ./.

ĐT: (058) 224 64 34 – 098.362

TRÀ SAY


        Tôi theo hai anh bạn nhà giáo làm việc ở phòng giáo dục huyện ra thăm đảo Ngang vào một ngày hè, trong dịp các anh đi kiểm tra công tác xóa mù chữ của xã đảo.
        Ngay buổi chiều ngày đầu tiên, anh Phố – Hiệu trưởng trường đảo – đã đưa chúng tôi đi thăm hai thắng cảnh ở đây. Cảnh đẹp gần xóm dân chài nhất là Hòn Đội. Đó là một dải đá nằm sát biển, bên bãi cát dài, trắng phau, đẹp không kém những bãi biển đẹp nhất trong nước… Nổi bật giữa thế giới đá san hô này là hai tảng đá lớn, hình dáng giống hai trái dừa. Trái nhỏ nằm dưới lớn bằng một chiếc xe đò, trái lớn nằm trên to gấp hai chiếc xe ấy. Cái dáng nằm của tảng đá lớn tinh nghịch, chênh vênh, khiến người ta dễ nghĩ nếu mình tới xô nhẹ một cái chắc nó sẽ ngã tòm xuống nước.
        “Hòn Đội! Sao gọi là hòn Đội?”. Trưởng đoàn Lê Trữ kêu lên. “Chúng mình sẽ đặt tên mới cho nó là hòn Đẹp”.
        Và anh lôi máy ảnh ra, chụp cho chúng tôi mười pô liền một lúc.
        Ngôi đình của làng đảo, cảnh đẹp thứ hai, nằm cách khu dân cư chừng một cây số.
        “Tới đó các anh sẽ được chiêm ngưỡng dung nhan ông từ đình, “thắng cảnh” thứ ba của chúng tôi”, anh Phố giới thiệu “nhân vật này tuyệt hay, đặc biệt!”.
        Đình được xây cất cách đây ba mươi năm, khá lớn, đẹp, tương đương các ngôi đình lớn khác trong đất liền. Nét riêng của nó là nằm sát biển, thật u tịch… Khuôn viên đình rộng, vườn sau trồng dừa, 80 cây. Sân trước thoáng đãng, có thể đếm được hai cây phượng, bốn cây bàng. Quanh đình lá khô phủ dày. Điều kỳ lạ là một pho tượng Phật Bà Quan Âm cao lớn, tọa lạc giữa sân.
        “Tượng Phật trước sân đình!”. Khả ngạc nhiên, giơ hai tay lên trời. “Vui thực. Độc đáo… độc đáo!”
        Khoảng nửa giờ sau ông Cang, người giữ đình, lò dò đến. Mặt ông đỏ kè, mắt cũng đỏ, có vẻ say, đi như chiếc lá trôi trên sông. “Chào quí vị”. Ông đứng nghiêm trước chúng tôi, nói lớn: “Kính chào quí vị”. Ông mở cửa đình, thắp đèn, thắp nhang đem cắm ba, bốn chỗ. Xong đâu đấy ông mang bình nước, ly tách và một nải chuối ra đặt trên chiếc bàn đá dưới gốc cây phượng sum suê.
        Ông Cang mời chúng tôi uống nước – nước lã – ăn chuối.
        “Nay tôi sáu mươi sáu tuổi, coi sóc đình này đã được tám năm”.
        Ông già nói, nhìn ra biển, không nhìn khách.
        “Quí vị thấy đó, ở đây quạnh quẽ, chỉ có biển, trời, chim chóc, lẽ ra người ta nên dựng một ngôi chùa”.
        Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế tự tạo, là những gốc cây xù xì, không đẽo gọt.
        “Quí vị dùng tạm nước lạnh, lát nữa sẽ có trà”.
        Từ vườn sau đột nhiên lũ chim đồng loạt kêu rộ lên, lảnh lói.
        “Tôi không biết vì sao làng lại xây đình ở nơi heo hút thế này… Trước kia đã có một anh từ giữ đình trong sáu năm. Anh chàng tên Hải. mới ngoài hai mươi, cũng dân làng này. Anh ta bạo dạn, ăn ở hẳn tại đây một mình, ai cũng nể… Xưa kia Hải được cha mẹ cho vào thành phố học nghề sửa máy nổ. Nhưng sau mấy năm học hành, trở về, anh chàng lại không mở tiệm hành nghề, mà lánh ra đây làm ông từ. Mọi người chưng hửng. Thế là có hàng trăm câu chuyện thêu dệt xung quanh Hải. Nhưng mặc kệ dư luận, anh ta cứ khoác vào mình bộ quần áo thâm, quét dọn, nhang khói cho đình, giữ vườn dừa, như sư ông trụ trì ngôi chùa”.
        Ông Cang ngừng ngang, ngả người dựa vào gốc phượng, nhắm mắt lại. Ông ngủ! Ông ngủ nhanh, giỏi, kỳ cục! Anh Phố lắc đầu:
        “Bay rồi! Ổng có thói quen như thế. Bây giờ dù có súng nổ bên tai ổng cũng không nghe. Nào, chúng ta ăn chuối”.
        Nhưng chúng tôi ngồi yên. Gió thổi rào rào. Nhìn ra xa, mặt biển xanh sẫm, tàu đánh cá qua lại ngang dọc. Phố nói:
        “Nay ông Cang còn trơ một mình, không vợ con, không nhà. Vợ ông mất sớm. Đứa con gái lớn bỏ nhà theo một anh ghe bầu nào đó đi biệt tăm. Vào mùa biển lặng ghe tàu tứ xứ nườm nượp ghé vào đây nghỉ chân. Không thể biết kẻ quyến rũ cô gái là ai, già hay trẻ, Nam hay Bắc. Sau ngày con gái bỏ đi ít lâu, hai thằng con ông vượt biển. Nhưng chuyến đi không êm xuôi nên chỉ một đứa, thằng nhỏ đến nơi, còn thằng lớn chết giữa biển, vì đói khát. Mấy năm sau, tai họa chụp xuống thằng nhỏ, nó chết ở Canađa, do tai nạn xe cộ. Hết biết. Ông Cang trở thành một hỗn hợp của tiên ông – dở hơi – tu sĩ. Ông nhớ nhớ quên quên. Ông tưởng mình là áng mây, là con sóng, là pho tượng”.
        Ông Cang thức dậy, lặng yên nhìn chúng tôi một lúc, rồi nói:
        “Tới một ngày cuối năm, anh từ trẻ bỗng nhiên bỏ đình dông mất. Chẳng ai biết anh ta đi đâu. Vậy là thiên hạ bàn tán rần rần. Có thể Hải đã tìm đến một hang động, một am cốc kỳ bí, khuất tịch nào đó. Có thể anh chàng đã chán cảnh ẩn dật, theo một ghe thuyền lạ tới một vùng xa xăm, mưu tính đổi đời. Có thể anh ta đã bị một người đẹp hồ ly dẫn vào các khu rừng ma quái huyền bí để ám hại. Người ta nói, tha hồ nói đến hết hơi, đến phờ người trong một năm, trước khi quay ra kiếm người giữ đình mới. Thế là tôi tới, chiếm lấy chỗ trống đó”.
        Ông nghỉ, ngồi thẳng đuỗn, hai tay đặt trên đùi, mắt mở to, đứng tròng, không chớp, như người ngồi đồng lúc bị hồn nhập.
        “Cụ lại thăng. Đây là một cách ngủ khác của ông cụ. Giờ ta có hét vào tai, lấy kim chích vào bụng cụ cũng không nhúc nhích”. Anh Phố nói.
        Khả nhìn ông già không chớp mắt, ngạc nhiên cực độ.
        “Hay nhỉ, nhân vật này, quả là một hiện tượng thú vị. Chúng mình phải nghiên cứu sâu mới được”.
        Lê Trữ nói:
        “Sau này, về già, nếu có điều kiện, có lẽ mình nên ra đây dựng một am cỏ bên hòn Đẹp. Ái cha, sống những ngày cuối cùng ở đó, phiêu bồng biết mấy!”.
        Tôi và anh Trữ xuống bãi thăm giếng đình. Cái giếng nước ngọt nằm chỉ cách mép biển năm bảy bước chân. Nó đen xỉn, rêu phong, dường như bị bỏ quên đã nhiều năm. Trữ chụp một pô ảnh. Tôi định rượt đuổi bầy còng thì nghe Khả gọi. Ông Cang đã thức. Chúng tôi chạy lên. Khả và ông Cang tranh luận gì đó có vẻ sôi nổi. Ông Cang chỉ tay ra biển:
        “Về phía này – hướng Nam – ngồi ghe máy chừng non một giờ ta sẽ gặp mũi… mũi gì xưa kia người ta thiêu con nít để cúng tế ấy”.
        “Mũi Gió”. Khả nhắc.
        “Phải, mũi Gió. Trước đây sáu mươi năm bọn man rợ còn thiêu sống đồng nữ tế thần ở đó. Bây giờ thì không cần phải tới mũi Gió. Trên khắp mặt biển chỗ nào người ta cũng đem người sống tế thần, ông thần Số Phận, tế nhanh gọn, nghi thức dễ dàng, chẳng đòi hỏi nam nữ, chẳng cần thiêu đốt… Trời ơi! Biển rộng lớn, tôm cá rộng lớn, thần thánh linh hiển, con người dị thường!”.
        “Chúng tôi không ở đây, nên chúng tôi chỉ nghe chứ không biết những rộng lớn này!”. Lê Trữ nói.
        “Hãy nhìn lũ chim trời kia, chúng bay vào các rặng núi, bay ra tít tắp khơi xa, lặn vào chân mây. Không như ta đây chỉ xê dịch từ làng chài tới đình, rồi từ đình về làng chài, chẳng hơn con cua, hòn đá mấy tí”.
        Bỗng ông ngã ngửa ra sau, dựa lưng vào gốc phượng, gác hai chân lên bàn đá, đè bẹp luôn nải chuối.
        “Con nhỏ phù thủy nói sẽ mang ấm trà ra, tới giờ này vẫn chưa thấy mặt mũi… đúng là quân hà bá lười biếng!”.
        “Ở đây mát mẻ, chúng cháu không thấy khát!” – Khả nói.
        “Tôi cũng đã từng nghĩ đến một ngày ra đi như anh chàng Hải… Vợ tôi, mấy đứa con tôi không còn. Họ đã đến đâu, làm sao biết! Từ lâu tôi nghĩ rằng chỗ của tôi chắc cũng không phải ở đây. Tôi còn bám lấy làng đảo, còn đi lại trên mặt đất là trái cựa, không đúng chỗ, như tượng Phật Bà đặt trước sân đình”.
        Gió rì rào. Lá phượng bay lả tả. Ngôi đình trầm ngâm. Tiếng biển xa gần, xa gần, bí hiểm.
*
        Đêm cuối, trước khi về đất liền, chúng tôi đến chơi nhà ông Quyến – “già làng” của đảo Ngang – chào từ biệt. Nghe anh Trữ muốn ăn còng gió, Phúc – con ông Quyến – xung phong đi bắt còng. Tò mò, ham vui, tôi theo Phúc đi soi, giữ vai xách giỏ. Những người ở nhà nấu nướng, chuẩn bị mồi cho cuộc nhậu thân mật, trong đó các món chủ lực là sò, mực, tôm.
        Từ bến ghe – trước nhà ông Quyến – đến giếng đình, trong vòng một tiếng, Phúc bắt được nửa giỏ còng gió. Những con còng, giống như cua nhỏ, cẳng cao lênh khênh, chạy rất nhanh. Người lạ khó bắt được chúng, nhưng đối với Phúc, đây là chuyện vụn vặt… Gần 9 giờ đêm, trước sân đình vẫn còn đèn sáng, và nghe có tiếng người nói chuyện. Ở nơi hẻo lánh, vào giờ này, mà cũng có khách. Phúc cho biết, nhiệm vụ chính của ông từ đình là giữ đồ thờ và vườn dừa. Ông Cang sống bằng cơm gạo của làng, cá mắm do ông tìm. Ở đây cua, sò, ghẹ, ốc, hàu, cá nhỏ nhiều, rất dễ bắt. Ông Cang nói, đình nằm xa xóm làng, yên tĩnh, ông có thể dưỡng tâm và thường xuyên “gặp” vợ con, những người đã khuất.
        “Anh muốn coi ông Cang diễn kịch không?”. Phúc hỏi.
        “Kịch à?”.
        “Hay, lạ, vui lắm”.
        “Xem cho biết, sợ gì”. Tôi gật, vượt lên đi trước.
        Ông Cang ngồi một mình bên cái bàn nhỏ. Trên bàn có bình trà, hai cái ly. Cây đèn bão tỏa ra một vùng sáng vàng, tù mù. Chúng tôi đứng nép bên gốc một cây bàng cỗi… Ông Cang ngồi như ngủ gật, hai tay chống cằm, nhìn xuống bàn. Bỗng ông nói lớn:
        “Uống đi, say rồi à?”.
        Ông hỏi ai vậy?
        “Thôi, rượu lạt phèo”. Chính ông trả lời, bằng giọng khác, nghe như tiếng người nói ngọng.
        Im lặng. Vài phút sau, ông Cang hỏi:
        “Hải, bạn thấy mấy đứa con tôi ở đâu không?”. Vậy là ông trò chuyện với chàng Hải, vị từ đình tiền nhiệm.
        “Hai đứa chết, một sống. Đứa sống ở An Giang”.
        “An Giang nào?”.
        “Mệt, An Giang là An Giang, một tỉnh của Nam Bộ”.
        “Sao nó không về?”.
        “Ông vào mà hỏi nó!”. Hải đáp nhấm nhẳng.
        Ông Cang rót nước vào ly, đẩy lên phía trước, mời: “Làm thêm vài hớp, đừng buồn… Đây là rượu quán ông Đề, ngon, mười bốn ngàn một lít đấy”. Hải chẳng nói gì.
        “Trên chỗ bạn ở ra sao, vui không?”.
        “Không phải thượng giới, tôi ở dưới”.
        “Dưới âm ti?”.
        “Đúng, địa phủ… Đông đảo, nhộn nhịp lắm”.
        “Sợ quá!”.
        “U ám, dữ dội, đen đúa, nhưng ở vài năm sẽ quen, quen tất… Rồi ít lâu nữa ông cũng xuống đó”.
        Ông Cang im thít , có lẽ vì sợ. Cái giọng thụt lưỡi lại nói, chậm, rõ: “Ông có vẻ hãi, yếu quá. Đã bảo, đừng sợ, người ta chịu được mình chịu được!... Hơn nữa, nghĩ lại xem, ông đang sống thế nào? Vô vị, chán mứa, như con gián, con dế!”.
        Ông Cang châm rượu cho mình, nâng ly, ngửa cổ nốc cạn, khà một tiếng rõ to. “Này Hải, giờ bạn nghĩ gì về trần gian?”.
        Hải đáp, có vẻ bực mình: “Câu này ông hỏi trăm lần rồi… Tâm tính, sở thích, tình cảm của tôi vẫn như xưa. Tôi thích ở miền núi, thích nghe ca hát. Tôi ghét kẻ dối trá gian xảo lừa lọc… Ngoài người thân trong gia đình, tôi thương những người khổ nghèo làm sáng ăn chiều, những người già còn phải bán buôn liêu xiêu giữa phố chợ nhộn nhạo, những trẻ thơ không cha không mẹ”.
        “Gì nữa?”.
        “Thương những người tật nguyền trọn đời chìm đắm trong bóng tối – người không nghề, không nhà, không đất, tương lai trắng xóa… Nghĩa là tôi vẫn nhớ, nhưng hình như cái sự nhớ mỗi ngày mỗi teo tóp lại”.
        Chúng tôi rời chỗ nấp. Phúc đến ngồi đối diện ông Cang, không chờ mời. “Chú Ba thức khuya quá”. Ông già nhìn chúng tôi bằng cặp mắt lờ đờ.
        “Thức khuya. Tuổi già khó ngủ, cháu à”. Ông rót nước, mời Phúc. “Làm vài hớp rượu thuốc cho thông cổ”. Phúc uống một ngụm, nhưng vội phun ra: “Nước gì, không phải rượu!”. Coi lại, nó là nước trà.
        “Trà mà say mời đã!”. Ông Cang cười khoái trá. “Tối nào tôi cũng cụng ly với bạn Hải… tay ấy uống yếu, say luôn”.
        “Say trà?” Tôi hỏi.
        “Say quắc cần câu, thế mới sướng!... Thường thì khoảng 2 giờ sáng tôi ngủ, ngay tại đây, chẳng cần giường chiếu!”.
        “Thôi, tạm biệt, đại sư!” Phúc nói lớn.
        Chúng tôi về. Ra khỏi đình một quãng xa, quay lại nhìn, tôi thấy cái đốm sáng leo lét trước vườn dừa vẫn còn.
        “Vừa rồi ông Cang đóng hai vai. Những lúc trò chuyện với vợ con, ông ấy ôm một lúc bốn vai, đối đáp qua lại kéo dài hai tiếng, nghe sợ lắm!”. Phúc nói.
        Tôi nghĩ, ông Cang không đóng kịch. Dường như ông rơi vào một cơn mộng du dài ./.


HÔM QUA NÓ CÒN ĐI HỌC

   
        Mỹ Dung đến lúc tôi đang loay hoay chấm bài. Vốn là chỗ quen thân nên sau khi chào hỏi, Dung tới ghế bành ngồi đọc báo, tôi tiếp tục làm việc.
        Chấm xong bài cuối cùng, tôi hỏi:
        “Sao sáng nay cháu không đi học?”
        “Thưa, cháu bận việc nhà, xin nghỉ ạ.”
        Mỹ Dung là bạn thân của Thiên Thanh, con gái tôi, đang học lớp mười một.
        “Cháu đọc gì đấy?”
        “Thưa chú, Đôrêmon ạ.”
        Tôi cười:
        “Cháu qua thời Đôrêmon rồi. Nay đọc Mực Tím, Hoa Học Trò chứ?”
        “Dạ, cháu mua thường xuyên Tuổi Hồng, Áo Trắng. Và cháu cũng đọc cả Tiền Phong, Thanh Niên của anh Duy nữa. Cháu ráng đọc nhiều vì cháu yếu văn… Nhưng nếu nói về ý thích thì cháu thích các bộ truyện tranh: Tây Du, Đôrêmon, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Sơn Tinh Thủy Tinh.
        Mỹ Dung cười. Tôi cũng cười.
        “Dạ, có thể nói, cháu chưa được lớn lắm!”.
        Tôi đưa một bài tập làm văn cho Dung xem:
        “Cháu đọc thử bài này, của đệ tử ruột chú, hay lắm.”
        Đọc xong, cô bé hít hà, trầm trồ:
        “Quá hay, như các bài văn mẫu. Lớp tám mà viết tuyệt thế này!”.
        Ngẫm nghĩ một lúc, Dung nói: “Cháu đọc nhiều sách tập làm văn,vô số bài mẫu, nhưng sao cháu viết vẫn không hay. Trọn năm lớp mười cháu chỉ được một bài văn 6 điểm, số còn lại là dưới 5 điểm… còn năm nay… Cháu thấy văn là môn khó nhất, chú ạ”.
        “Chắc thế, nó rộng, lại có tính “co giãn”, cho nên đôi khi hơi phức tạp!”.
        Mỹ Dung lấy trong mũ ra một chiếc phong bì màu hồng.
        “Nhờ chú trao giùm cái thiệp cưới cho Thanh”.
        “Thiệp hồng? Ai thế, Dung?”.
        “Thưa chú… của cháu ạ.”
        Tôi hết sức ngạc nhiên. Nói cho đúng là tôi sửng sốt. Dung lấy chồng! Thật sao?… Nó còn nhỏ quá. Sao tôi chưa hề nghe Thiên Thanh nói tới chuyện này? Lúng túng, bối rối, tôi hỏi Dung dồn dập: “Chuyện này bắt đầu từ bao giờ? Cậu ấy là ai, làm gì, ở đâu?” Dung nói lí nhí, ấp úng, tôi chỉ nghe loáng thoáng: “Ông ấy là… má cháu nói… má cháu bảo… ở Tân Thành.”
        Mỹ Dung ra về. Tôi tới võng nằm, nhìn chồng truyện tranh bừa bộn trên bàn. Tôi chẳng nghĩ được gì. Tôi vẫn còn ngạc nhiên.
        Chừng nửa giờ sau, Thiên Thanh về. Tôi phẩy phẩy tấm thiệp, chờ xem phản ứng của nó:
        “Con có thiệp mời ăn cưới”.
        “Của Mỹ Dung phải không, ba? Con biết rồi”.
        “Chính Dung đem đến. Nó chờ con khá lâu”.
        “Chúng con cũng mới biết sáng nay, ba ạ. Mỹ Dung giấu kỹ… Trời ơi, tội nghiệp nó biết chừng nào”.
        Tội nghiệp nó? Lấy chồng sao giống như gặp chuyện xui rủi.
        “Bốn hôm nữa Dung lấy chồng. Thật chẳng khác gì chuyện con gà đẻ ra cái thúng! Ba biết không, chồng của nó, một ông ngót nghét bốn mươi, có hai con.” – Thiên Thanh nghẹn lời. “Ông ta không có vợ, nhưng không phải góa vợ. Bà vợ bỏ đi đã lâu, biệt tăm, vì không chịu nổi sự hà khắc… Ông ấy cộc cằn, hung tợn, mắng đánh vợ đều đều”.
        Tôi nghe, và cứ nghĩ “thật vậy sao… lẽ nào như vậy”.
        “Biết thế, nhưng vẫn nhào vô. Nhắm mắt lăn vào, cố đấm ăn xôi… Nhưng tụi con biết đây là quyết định, là sự tính toán “cao siêu” của mẹ Dung. Nó có biết gì đâu. Nó mới mười bảy tuổi mười tháng. Người ta nói, ông ấy giàu nhất nhì Tân Thành, có nhiều xe chở khách, có nhà máy nước đá, máy xẻ gỗ.. Rõ ràng nó liều mình lấy hai cái nhà máy và những chiếc xe đó.
        Thiên Thanh tới bàn, ngồi úp mặt xuống chồng sách, dường như nó khóc. Lát sau, nó nói: “Tối qua Dung đến từ giã cô Hồng, giáo viên chủ nhiệm, cô trò ôm nhau khóc mùi… Thời nay mà còn gả bán kiểu ấy, như cách đây nửa thế kỷ… Mỹ Dung đáng thương… Trời ơi, hôm qua nó còn đi học!”
        Tôi xuống nhà dưới rửa mặt, thấy rằng mình vừa biết thêm một chuyện thuộc loại “vô lý mà có thật”./.
 

CỔ CAO MẮT TO

  
        Trâm đứng ở thềm giếng gọi: “Hương ơi, qua chơi”. Hương nhìn đồng hồ, mười giờ rưỡi. Còn sớm. Mọi đêm mười một giờ mới nghe Trâm gọi “Hương ơi, qua chơi”, lúc nào cũng thế.
        Hương chui rào qua, liếc nhìn vào quán. Chỉ còn hai ông khách ngồi ở một bàn trong góc xa. Máy mở nhỏ một bài hát cũ: “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa? Người ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò. Còn đó tiếng tre êm ru. Còn đó bóng đa hẹn hò…” chậm, thủ thỉ, bâng khuâng. Trâm vớt chồng ly trong xoong nước sôi ra xếp lên bàn, bảo Hương: “Em ăn chè đi”.
        “Để em phụ rửa với chị”.
        “Đừng, gần xong rồi”.
        Chè còn nhiều. Tối nay vắng khách, đa số khách uống cà phê, không ăn chè. Trâm nói: “Không mưa mà ế. Chị cho Mỹ và Phụng về sớm. Kiểu này chị em mình ăn hai ngày không hết”.
        Nhà Hương ở kế quán Trâm, hai người thân nhau từ nhỏ, như chị em ruột. “Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ. Dù đã quên lời hẹn hò. Thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha.” (Cung Tiến), tâm sự, gần như nói, giọng nam trầm ấm. Một trong hai ông khách là Giai.
        “Em thấy Giai không, đang ngồi nhìn ra đường ấy… Tuần này Giai đến đây không sót đêm nào, thường ngồi lại rất khuya”.
        “Thế à, chắc có đột biến gì đấy, trong bụng, trong đầu anh chàng”.
        “Chị đoán biết được một phần của cái đột biến ấy”.
        “Chị tài quá”.
        “Hôm qua Giai hỏi: Hương dạy ngày mấy buổi. Chị có thấy cổ Hương thật cao, thật sang không. Sao mắt Hương to và buồn thế!”.
        “Ấy chết, thật sao chị?... Các đấng nam nhi nhạy bén, quan sát giỏi đáng sợ lắm”.
        Dọn dẹp xong, Trâm pha một ly cà phê nhỏ cho mình. Máy bắt qua một bài ca khác, một cuộc tình khác. Có quá nhiều chuyện tình. Làn tóc rối – bờ vai gầy – thắm duyên – sóng mắt – vòng tay ấm! Hương đùa: “Ông Khôi có khen chị cổ cao không?”. Trâm ôm bụng cười, hỏi lại:
        “Em có chuyện gì vui không?”.
        “Một ngày như mọi ngày!”.
        “Thế cũng quí, còn sống là được!... Chúa ban cho em sự bình an”.
        “Yên ổn và lặng lờ, êm xuôi và tẻ nhạt… Nhàm chán ở trường, buồn nẫu ở nhà… Ông Khôi có đến không chị?”.
        “Không, ba đêm rồi”.
        “Chắc ông ta bận đi xa”.
        “Cũng có thể do bị vợ quản thúc, cấm đi đêm… Bà Thanh rao rùm beng: ông Khôi đến quán Thu Trâm tám đêm mỗi tuần!... Chị sẽ cho em coi cái này”.
        Trâm mở tủ ly chén lấy ra một chiếc máy ảnh. “Ôi, đẹp quá!”. Hương reo.
        “Khôi tặng đấy. Chị không nhận, ông ấy cứ vứt lại”.
        “Ông ta thích chị mê mệt”.
        Trâm cười buồn: “Mê mệt! Rồi ai mê bà Thanh?... Chắc ông ta muốn chơi nước cờ chai lì, lập lờ, hàng hai”.
        Khôi định trồng ở đây một cây si cổ thụ? Đã lâu, gần hai năm rồi, ngày nào ông ta cũng tới quán này ít nhất một lần. Ông ấy có vợ, ba con, ba đứa con gái. Mọi sự lằng nhằng bắt đầu từ chỗ những đứa con gái này. Theo quan niệm xa xưa, nếu chỉ có con gái là chưa đủ. Sinh năm con gái tương tự như chưa có con! Nên Khôi luôn miệng nói: “tôi chỉ có ba con gái”, để người nghe hiểu rằng: “tôi muốn tìm vài đứa con trai!”. Nhưng Thanh, vợ Khôi, nghĩ khác. Chị ta không coi chuyện trai, gái là vấn đề. Chị ta chỉ thấy ở đây mầm mống một vụ ngoại tình.
        Thanh, người đàn bà mần ăn chắc thiệt, mướn một sứ giả đến gặp Trâm. Đó là một chàng trai trẻ cao to, mắt xếch, đầu tóc bùm sùm, nói chuyện vòng vo khéo léo đúng điệu một nhà ngoại giao. Trâm đáp lại đơn giản, thẳng thắn: “Đây là hàng quán, em ạ, làm sao tôi cấm anh ấy đến”.
        “Nhưng chắc chị dư biết anh Khôi đến đây không phải vì những chén chè, những ly cà phê?”.
        “Biết thế nào được, em. Tôi không phải chiêm tinh gia. Và quán này có hàng trăm khách”.
        “Nhưng, chị Trâm à, loại khách có mặt tám ngày một tuần chắc không nhiều?”.
        Trâm kêu trời, nói như thề bồi: “Trời đất chứng minh cho lòng dạ tôi. Tôi luôn muốn đi trên con đường quang đãng, để làm ăn dài lâu”. Anh thanh niên nhếch mép, cười. Miệng anh ta vẽ phác nên một nét cười, nhưng ánh mắt thì nghiêm, lạnh. “Tôi là em bà Thanh. Chị Trâm à, xin cho tôi được nói rõ mấy ý lớn này: chúng tôi muốn chị không thân thiết, không chuyện trò, không tiếp anh Khôi nữa”. Anh ta đặt ly đánh cộp xuống bàn, bỏ đi thẳng.
        Trâm thường nói không muốn dính líu tình cảm với ông Khôi. Nhưng Hương thấy, lắm lúc thái độ, hành động của chị bộc lộ nhiều điểm mập mờ, mâu thuẫn, khó hiểu. Trâm đã nhận quà tặng của ông ấy nhiều lần, một chiếc đồng hồ kiểu mới, một cây bút máy lạ, vài cuốn sách. Chị nói, có vẻ khổ tâm: “Chị không nhận, nhất định không sờ tới mấy món đó, nhưng anh ta cứ quẳng đại lên quầy… Sao quỉ ma không bắt xác anh ta đi! Khổ, người đâu mà dai nhẵng, như sợi dây thun!”. Hương góp ý:
        “Em nghĩ, chị nên cương quyết hơn, dứt khoát không nhận. Chị đâu cần các món đó. Nhất quyết không nói chuyện lâu với ông ấy”.
        “Khó quá, anh ta là khách quen”.
        “Chị cố gắng thêm tí nữa. Phải biết ghét ông ta, đừng nhìn thẳng mặt, không cười”.
        Trâm nhăn nhó, đau khổ.
        “Em có lý. Chị cũng thấy, Khôi có thể đem đến cho mình nhiều phiền toái, hoặc những bất trắc khó lường… Sao anh ta không đi đâu lại cứ chui vào đây?”.
        “Chị hiền dịu, dễ bị lung lạc”.
        “Sao Khôi cứ lặp lại mãi: ba đứa con gái, toàn con gái!”.
        Hương cười: “Dễ hiểu thôi. Ông ấy muốn nói: em hãy hợp tác với tôi để sản xuất ra những đứa con trai!”.
        “Khôi cũng đàng hoàng, đáng thương, nhưng chị không phải là một thứ phương tiện, công cụ”.
        “Chị nghĩ đúng đấy… ôi, các đấng đàn ông lắm mưu mô!”
        “Anh ta là con rắn trong vườn địa đàng… nhưng chị sẽ không ăn trái cấm”.
        Hương nắm hai tay Trâm, lắc mạnh.
        “Hoan nghênh chị bé bỏng của em, có thế chứ!”.
        “Chị lạc lòng, chẳng bao giờ muốn làm người khác buồn. Em biết không, có lần Khôi đã quì xuống bên chân chị, cầm tay chị…”
        “Lạy Chúa tôi! Quì à?... Rồi ca bản gì?”.
        “Ừ, quì, như người ta kịch!... Khôi nói, nếu chị đồng ý chung sống, ông ta sẽ coi thằng Vinh của chị như con ruột, sẽ bảo đảm hoàn toàn về mặt vật chất, sẽ dàn xếp với bà Thanh, sẽ vân… vân, chị không nhớ xuể!”.
        Hương giậm chân: “Tức chết đi được! Nếu gặp em, em đã cốc lên trán ông ta một cú rõ mạnh và bảo hãy chạy về mà quì tạ lỗi trước mặt vợ!”.
        “Ông ấy khen thằng Vinh tướng thông minh, đẹp như thiên thần, rồi hôn tới tấp lên tay chị”.
        “Chết mất, hỏng cả chị ạ!... Tất cả đều là những lời đường mật. Xưa con rắn cũng nói với bà Eva như thế! Chẳng lẽ chị không hiểu, ông ta có thể đem lại cho chị vô số điều tệ hại?”
        “Khôi làm vậy chị thấy kỳ kỳ, và chị muốn khóc, mừng quá hoặc buồn quá chị đều muốn khóc!... Cái lạ là, chị cũng biết mình đang quờ quạng, dại dột… Lần đổ vỡ trước để lại cho chị thằng Vinh và nỗi cay đắng đậm đặc. Chị không muốn có thêm một thằng Vinh và một vố cay đắng mới!”.
        Giai gọi: “Chị Trâm ơi, cho vài điếu ngựa trắng”. Hương đem gói thuốc ra. Giai kéo ghế mời:
        “Hương ngồi đây chơi vài phút… Nhờ Hương cho thay băng nhạc khác, có băng mới không?”.
        “Dạ có, “Ca khúc da vàng” hay “Tâm ca”?”.
        “Còn gì nữa?”.
        “Dạ nhiều, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đoàn Chuẩn, Cung Tiến”.
        “Hay quá, cho nghe Cung Tiến, Từ Công Phụng trước”.
        “Rồi nghe tất cả các người kia. Tiếp đến, ta nghe ả đào, bài chòi, quan họ, ca trù cho tới sáng!”. Người bạn của Giai nói, và cười ngu ngơ.
        “Dường như Hương dạy ở thị trấn?”.
        Hương gật đầu.
        “Dạy học hợp với phụ nữ, một nghề mỏng mảnh mà cao đẹp!”.
        “Đàn ông hợp với phụ nữ, và cũng hợp với rượu!”. Người bạn nói.
        “Nó bình lặng, buồn anh ạ”.
        “Anh có nhiều bạn giáo viên”.
        “Tôi cũng yêu thích nghề giáo, yêu tất cả các cô giáo!”. Anh bạn say lại nói.
        “Yên nào, Định! Để mình nói chuyện. Mới nhắp sơ vài ly đã say sao?”. Giai quay sang Hương: “Định đã nhậu bên Mây Hồng suốt chiều nay… Thấy bọn anh rượu chè thế này Hương có chê cười không?”.
        “Các anh uống bia, đâu có uống rượu”.
        Giai nhăn mặt: “Hương đừng mỉa mai. Cái khổ là, chúng ta là con người, không phải những cỗ máy, nên đôi khi cũng…”.
        Định cười hì hì: “Em nói móc nó chi tội nghiệp. Nó là tín đồ tôn sùng em hết cỡ đấy”.
        Giai nói nhỏ: “Hương có đôi mắt thật buồn”.
        “To, đen, và buồn!”. Định nói.
        Hương che miệng cười: “Nhưng tính em vui lắm. Mọi người thường bảo em nghịch, nhộn… Gương mặt buồn thì sang nhưng khổ, anh ạ”.
        Định chen vào: “Bà xã tôi lúc nào cũng cằn nhằn, buồn xo, nhưng chả sang tí nào!”
        “Anh ngồi lại đây thật khuya cốt để chờ Hương… Chị Trâm nói, Hương đoan trang, hiền, chị coi Hương như em”.
        Một giọng nữ khàn khàn cất lên hát về một cuộc tình. Lại tình! Có biết bao nhiêu cuộc tình trên đời này… Lạ sao, người ta hay nói về những chuyện tình buồn.
        “Thiên hạ vẫn nghĩ tình buồn là tình đẹp, em nghe Thanh Thúy đấy, hay chết được!... Anh sẽ đến đây thường hơn để được gặp Hương”.
        “Em không bán quán”.
        “Anh biết, nhưng anh vẫn đến”
        Định đứng lên, bước loạng choạng. “Xin lỗi, nhị vị ngồi chơi nói chuyện, tớ nằm nghỉ một chút”.
        Anh chàng tới nằm nơi chiếc ghế dài cạnh quầy. Chợt có tiếng xe máy chạy đến gần, nhiều xe. Ba chiếc gắn máy đổ xịch trước quán. Ba thanh niên bước vào, trong đó có anh chàng cao kều hôm trước đã đến thương lượng vụ liên quan tới ông Khôi. Anh ta ăn mặc toàn màu đen, tay xách một thùng lớn, loại thùng đựng xăng. Họ đi thật nhanh đến quầy hàng. Một người tới vỗ vai Định: “Ông bạn, đồ nghề đâu?”.
        Định chồm dậy, lôi dưới ghế ra một chiếc giỏ nhỏ. “Nó đây, có đủ món, anh Ba”. Mặt Định vẫn đỏ, nhưng trông anh ta tỉnh khô, không còn dáng vẻ người say.
        “Tốt, vào mời nàng ra đây”. Anh Ba bảo, giọng chỉ huy. Định dạ. Rồi họ, ba người xông thẳng ra sau quầy, tới bao quanh Trâm. Người kéo tay, kẻ xô lưng, họ đẩy Trâm ra giữa phòng. “Anh Ba” đứng giạng chân, chống nạnh trước mặt Trâm, cười khẩy:
        “Đĩ bợm, mày phá nát gia cang người ta, mày là loài hồ ly”.
        Không để cho Trâm nói tiếng nào, hắn bảo đàn em: “Làm đi”. Ba tên xúm vào ấn Trâm ngồi xuống một chiếc ghế. Trâm gào la thất thanh. “Anh Ba” quát: “Câm mồm, quỉ cái, mày phải đền tội!”. Hắn rút trong cái giỏ của Định ra một chiếc kéo sáng loáng, và chỉ trong chớp mắt, hắn cắt phăng mái tóc Trâm. “Cạo nhẵn luôn, anh Ba!” Định nói. Hương hét lên hãi hùng. Giai ngồi như bị cột vào ghế… Trâm vùng vẫy, thét lạc giọng. “Ngồi im, không thì rách toạc da đầu mày”. Hắn vứt kéo, lấy tông-đơ ủi. Hắn làm thật gọn, rất nhanh. “Mưa có rơi và nắng có phai. Trên cuộc tình yêu em ngày nào. Ta đã yêu và ta đã mơ, mơ trăng sao đưa đến bên người. Một lần gặp gỡ đã như quen…” (N.T. Miên), cái máy hát hét lớn hết mức. Xong việc, “anh Ba” bảo các tay em: “Buông ra, cho nó thở”. Chỉ vào cái thùng nhựa, hắn phán: “Đây là nước mắm. Nay cảnh cáo, anh chỉ tô điểm đầu tóc mày thôi. Nếu còn ngoan cố, lần sau anh sẽ cho mày thưởng thức thùng bia Phan Thiết này!”. Trâm gào la như con heo bị chọc tiết. Bọn hung thủ bỏ đi, xách theo thùng mắm và giỏ đồ nghề. Định ra sau chót. Hương té quị xuống, khóc ngất. Giai vẫn ngồi chết sững, trố mắt nhìn. Hương bảo Giai: “Anh ra đường la lớn lên, cho cô bác người ta đến”. Giai phân trần:
        “Định không phải bạn anh, tối nay anh ngồi chung bàn với nó là do tình cờ… Thôi, không nên làm rùm beng, không hay”.
        Ra tới cửa, bỗng Định lại quay vào. Hắn đến góc phòng tắt điện. Tối đen! Cái quán đột ngột rơi tõm vào vũng tối mịt mùng. Tiếng khóc Trâm vang lên, loang ra, dập dềnh, như chuỗi âm thanh chết chóc, ghê rợn trong các phim kinh dị. ./.