17 thg 11, 2013

Tạp ghi CŨ MỚI

               Tay nào che kín bầu trời
        Hữu sanh hữu diệt, bao đời đảo điên.
                   (Đạo Dừa – Cồn Phụng 1964)


       
       ÔNG PARK: Thành công hôm nay của Nam Hàn có nền móng từ 50 năm  trước, khi ông Park Chung Hee (1917 – 1979) nắm quyền tổng thống.
        Ông Park chủ trương một nền chính trị vừa đa nguyên vừa độc tài (đa nguyên làm Hàn lớn mạnh, độc tài làm ông chết, vì ám sát). Ông thành công khi vực nền kinh tế Hàn từ con số không lên hàng cường quốc số 11 thế giới.
        Cái chết trong nghèo khổ của ông Park là tấm gương về văn hóa sống, Hàn Quốc còn lưu giữ đến hôm nay. Người Hàn tự hào vì công nghiệp của họ lớn mạnh, vì các siêu thị, hàng quán của họ không cần người đứng thu tiền, canh giữ kẻ gian, vì trong công việc họ thường sử dụng nhân công ít nhất mà thu hiệu quả cao nhất – Về kinh tế, ông Park lập ra các tập đoàn kinh tế (chaebol) tư nhân với những con người giỏi, ưu tú đứng ra điều hành. Ông cho lớp trẻ du học để mang kiến thức mới về cho tập đoàn và đất nước.
        Có thể thấy, con đường thành công của Nam Hàn là biết dựa vào khoa học kỹ thuật và làm đúng các quy luật (hợp lý và ưu việt), trong đó nổi lên yếu tố lớn: có một tầng lớp lãnh tụ giỏi, liêm khiết, có tâm, yêu nước thực lòng, có tầm nhìn xa.
        Ông Park lập ra các chaebol năm 1963, các tập đoàn này ngày càng hùng mạnh và chiếm lĩnh thị trường toàn cầu, nó góp phần đưa Nam Hàn vào nằm trong nhóm G20, các nước kinh tế mạnh. Tại sao Hàn làm được như vậy? Có nhiều lý do, trong đó nổi bật là trách nhiệm của các chính khách đối với nền kinh tế, và khống chế được tham nhũng – Tham nhũng ở đâu cũng có, nhưng ở một chế độ đa nguyên, tản quyền, nó dễ bị phanh phui hơn. Còn ở các chế độ tập quyền, các tập đoàn kinh tế là của chung, dễ bị các nhóm lợi ích bu vào đục khoét. (Ông Park là cha bà Park Geun Hye, tổng thống Hàn hiện giờ).
        (Hồ Hải, theo Asia Clinic 17/10/2013).
        
      CÁI CHẾT LỚN: Một người trẻ vừa mất. Em chưa đến 20, nhưng cái chết của em lớn, một sự hy sinh cảm động, rực rỡ. Em là Nguyễn Nam, học sinh lớp 12T7, trường THPT Đô Lương 1, tỉnh Nghệ An.
        Vào chiều 20-3-2013, tám em học sinh ở xã Trung Sơn (huyện Đô Lương, Nghệ An) rủ nhau ra sông Lam tắm. Trong lúc vui đùa trên đoạn sông ở bến đò Cung, 5 em bị nước cuốn trôi. Ngay khi đó, Nguyễn Nam tình cờ đi ngang qua. Thấy nhóm học sinh nhỏ chới với giữa dòng nước, Nam nhảy xuống cứu. Sau khi đưa 4 em vào bờ an toàn, thấy còn em Nguyễn Hữu Đô đang ngụp lặn tuyệt vọng ngoài xa, Nam lại phóng ra cố gắng đẩy Đô vào bờ, nhưng lúc này Nam đã kiệt sức nên bị dòng nước dữ nhấn chìm.
        Một lúc sau, một số dân làng chạy tới tìm cách cứu Nam, nhưng đã muộn. Đến cuối chiều, thi thể em được tìm thấy trên khúc sông cách nơi xảy ra sự việc khoảng trăm mét – Nam là con thứ hai của một cặp vợ chồng nông dân nghèo có ba con. Học kỳ 1 vừa qua, em được nhận học bổng “học sinh nghèo vượt khó” của trường Đô Lương 1. Chỉ còn vài tháng nữa đến kỳ thi vào đại học, vậy là Nam không được dự kỳ thi đó.              
        (Hải Quyên, Tổng hợp, 24/3/2013).
        
       VẠN TUẾ: Lý thuyết mới bảo rằng: các hệ thống độc tài có xu hướng dân chủ hóa khi thu nhập quốc dân tăng lên, và việc tạo ra một tầng lớp trung lưu đông đảo sẽ đẩy nhanh quá trình đó. Kế tiếp: tình trạng suy thoái kinh tế sau một thời kỳ tăng trưởng nhanh sẽ khiến quá trình chuyển tiếp đó dễ xảy ra. Sau cùng:  tình trạng bất bình đẳng trầm trọng, ngày càng tăng, sẽ là động lực dẫn đến thay đổi.
        Tất cả các yếu tố này hiện có ở Trung Hoa (T.H), nhưng nhiều chính trị gia lại thấy độc tài ở TH khác với độc tài của thế giới Ả Rập, do đó có thể nói: làn sóng sụp đổ khó lan đến T.H – Nhưng thời buổi ta đang sống có nhiều thứ mới lạ, trước đây chưa từng có, trong đó có sự biến chuyển nhanh của khoa học kỹ thuật và tâm lý con người. Rất nhiều điều đã và sẽ diễn ra bất ngờ, không ai có thể đoán trước.
        Đối nghịch với ý kiến TH sẽ còn sống lâu (hoặc trường thọ), một luồng nhận định khác cho rằng: nạn tham nhũng trầm trọng, phần lớn dân chúng không được hưởng các phúc lợi xã hội, tâm trạng người dân luôn thấy bất an và thất vọng, xã hội hỗn loạn bất ổn, sự chia rẽ bè phái trong tập đoàn chính trị, sự bất bình đẳng to lớn trong thu nhập… sẽ kéo TH rơi xuống một vùng mà họ (và thế giới) đều không, hoặc chưa nghĩ tới, và vùng đó có tên là lụn bại, phát triển, tiến hóa, văn minh. Vấn đề còn lại là tiến hóa thế nào, phát triển tới đâu, có tan biến không.
        (GS Lâm Triết, blog Hồ Hải 23/7/2009).
        
      ĐỒNG BÀO: 40 phút sau khi chiếc xe chở tương ớt bị lật, những người hiếu kỳ kéo tới xem chẳng thể nào biết được xe này chở gì, bởi trước mắt họ chỉ còn bác tài ngồi ôm gối buồn rầu và chiếc xe trống hoác.
        Anh Dương Hải, tài xế (32 tuổi, quê ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An) không biết trị giá số hàng mất là bao nhiêu. Anh nói, xe chở hơn 70 thùng tương ớt, trong đó có 30 thùng lớn, hơn 40 thùng nhỏ. Một lúc sau, anh lại nói (với những người khác) số hàng hơn 80 thùng. Các con số xê dịch chút ít, có lẽ do anh Hải rối trí, nhưng xem ra 70 hay 80 cũng chẳng còn mấy ý nghĩa, vì lúc này nó đã thành con số không.
        Hôm đó là ngày 12/7/2011, xe anh Hải gặp nạn, lật vì mất lái, khi đang chạy trên quốc lộ 1A, đoạn qua huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Xe lật, số tương ớt đổ xuống đường. Thấy vậy, ngay tức thì, những người đi đường vội vã đến hôi của. Anh Hải cố gắng bảo vệ tài sản nhưng không được, vì “đồng bào” đông quá. Anh nói đi nói lại: đồng bào đông quá!
          (Kim Thanh, tổng hợp 15/7/2011).
        
       THƯƠNG HIỆU: Hãng xe hơi Toyota vừa tuyên bố đã thu hồi 8,2 triệu xe Prius với chi phí khoảng 2 tỷ đôla Mỹ. Lý do, chân phanh và tấm trải sàn xe có vấn đề.
        Đây không phải lần đầu, vì uy tín và thương hiệu, người Nhật bỏ số tiền rất lớn để xử lý lỗi kỹ thuật – Còn nhớ, năm 2000 hãng Mitsubishi đã thu hồi 45.000 chiếc tivi, vì số máy này có thể cháy nổ. Qua năm 2007, hãng Sharp sửa miễn phí cho nửa triệu máy giặt (sản xuất năm 1998) vì sợ số máy này gây ra cháy. Còn rất nhiều ví dụ khác về cung cách làm ăn của các công ty Nhật.
        Ngày xưa, võ sĩ đạo Nhật tự mổ bụng nếu thua trận. Người Nhật hôm nay có thể nhảy lầu nếu để công ty mất uy tín.
        Thu hồi hơn tám triệu xe hơi, vì nghi ngờ chân phanh và tấm trải sàn có vấn đề, quả là tinh thần võ sĩ đạo trong thương trường. Đó cũng là lý do trên khắp mọi nẻo đường thế giới người ta thấy sự hiện diện của xe hơi Nhật.
        (Hiệu Minh, blog HM  4/3/2010).
       
        NHỚ
                 Cứ tưởng đàn bà người nào cũng như người nấy
                 Nên ta bảo lòng, thôi hãy quên em
                 Nhưng không phải đàn bà người nào cũng như người nấy
                 Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên.
                                                          Nguyễn Bắc Sơn
        
       GIỎI: Trước đây, hàng năm từ tháng 2 đến tháng 8, các tỉnh Trung bộ thường chở xoài, dừa, dưa hấu ra các tỉnh phía Bắc (có lúc sang tận Trung Quốc – TQ) bán. Từ năm 2008, con đường làm ăn này tắc nghẽn, vì trái cây TQ nhập ào ạt vào VN.
        Vậy là diễn ra một cuộc nước chảy ngược dòng. Những năm đầu, trái cây TQ đổ vào các chợ miền Bắc, nhiều nhất là cam, lê, táo, về sau tăng lên thêm cỡ 20 loại, rồi gần đây lại có mặt gừng, tỏi, rau muống, khoai tây, hành, gần như không sót thứ gì! Về mức độ, khu vực, ban đầu chỉ gói gọn ở phía Bắc, mới đây vào đến tận Tây Nam bộ. Cuộc xâm lấn này ngày càng đông, càng mạnh, chẳng còn thấy, còn hiểu được gì – Lời lãi thế nào mà chúng qua lắm thế? Gọi là hàng lậu mà sao nhiều hàng chục, hàng trăm tấn thế? Họ có phép thuật gì mà con gì, củ gì cũng to béo, mập tròn, đẹp đẽ thế? Sao chuyên chở xa xôi, năm bảy trăm, cả ngàn cây số mà lại bán rẻ thế?... Tha hồ thắc mắc, tha hồ đặt câu hỏi, để cuối cùng chỉ rước lấy cái đáp số: tha hồ buồn. (Đây là mới nói về trái cây, chưa đề cập những heo, gà, cá tầm, những cua, lươn, ốc, ếch).
        (Đức Phương, Chính luận  29/6/2011).
        
        ĐỌC ĐỂ BIẾT: Về hưu rồi, tôi mới có điều kiện đọc nhiều, tại Saigon tôi say mê đọc sử nước mình suốt những thời kỳ cũ. Thật ra ở Hà Nội người ta viết sử rất kém, từ lúc tôi đi học đã… không có sử.
        Rất xấu hổ phải nói là những người viết văn, trí thức như bọn tôi, mà chưa bao giờ tiếp xúc một cách nghiêm túc với những bộ sử rất quan trọng của chúng ta như bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Cương Giám Khâm Mục, hay những bộ sử sau này như Đại Nam Thực Lục, hay sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tất cả những trang sử ấy, bọn tôi biết quá ít, sự thật là chúng tôi có những định kiến sai lầm, những thành kiến, rồi cứ nuôi những thành kiến đó mà cứ tưởng đó là chân lý… Tôi may mắn tìm ra được niềm vui đọc lại những cái đó và từ mảng ấy, tôi hiểu được đời sống hôm nay – Việc mà trước đây nền văn nghệ miền Nam làm được: thứ nhất là tiếp nhận di sản cũ, nối tiếp truyền thống các nhà văn cũ, thứ hai là tiếp nhận một cách bình thường văn học, văn hóa nước ngoài, coi đó là nguồn góp ý cho mình.
        (Vương Trí Nhàn – “Nói chuyện với nhà phê bình”, blog VTN  30/4/2009).
        Lời bàn: Không sử? Có, đó là loại sử móp méo, viết theo sách lược: “nếu ta tâng bốc, đề cao, ca tụng một vật thể đen thui hôi hám trong thời gian dài, thì đám quần chúng đáng yêu (tội nghiệp) sẽ thấy vật thể ấy thơm tho cao đẹp”. Đúc kết: sản phẩm của sách lược này là một nồi lẩu thập cẩm to đùng nấu bằng nước cống. (Chiêu nhồi sọ này Goebbels của Đức Quốc Xã đã xài nát).
        
       CHÔM CÔNG KHAI:
        Chị Đặng Hải Hà, 27 tuổi, bị trọng thương trong vụ một chiếc “xe điên” tông hàng loạt xe máy (làm 2 người chết, 14 người bị thương) vào ngày 9/10/2011, trên đường Lý Thái Tổ (Quận 10, Saìgon).
        Chị Hà bị hôn mê, được đưa vào điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đến khi tỉnh dậy (sau 22 giờ bất tỉnh) chị mới biết số tài sản, gồm tiền và vàng, khá lớn, chị cất trong cốp xe mất sạch.
        Về sau, được biết, không riêng chị Hải Hà, tất cả những người bị thương nặng lúc đó đều mất của. Thủ phạm chính là những người đi đường và dân ở gần đó… Những người có mặt tại hiện trường cho biết, trong lúc hỗn loạn có nhiều người xúm vào sơ cứu, giúp đỡ nạn nhân, nhưng số người hôi của có vẻ đông hơn. Họ bu vào giành giật nhau để lấy những ví tiền, túi xách, điện thoại, tư trang nằm vung vãi trên đường.
        (Hà Linh, Đức Giang, Tin sáng, 12/10/2011).
        
       ĐI TRƯỚC: Mười mấy năm nay, năm nào người ta cũng bàn tính chuyện đi lên mặt trăng và sao hỏa. Chốt lại, họ nói chỉ có cái tên lửa có thể lên đó được, điều cần là phải dự bị những gì. Các nhà khoa học dám nói rằng, có lẽ vài chục năm nữa người ta sẽ thành công việc đi xa ấy.
        Tôi trông cho chuyện đó mau thành công. Dân An Nam mình ít đi du lịch nước ngoài, nếu có đường lên trăng ta cũng nên lên chơi, không hại gì – Nói vậy chớ An Nam mình đi là đi chơi, chưa vội mấy, vài chục năm nữa đi cũng được, nên để cho người Tàu đi trước.
        Mới đây, qua điều tra, thấy con cháu vua Hoàng đế đã đông tới năm trăm triệu. Bởi vậy người Tàu mới rủ nhau ra ngoại quốc làm ăn. Hiện nay, trên mặt đất chẳng nơi nào không có dấu chưn người Tàu. Bởi chỗ nào họ cũng mò tới nên người ta vừa ngại vừa sợ, từ đó nhiều nước đã làm khó dễ hoặc đuổi họ –Mới năm ngoái, chánh phủ Xiêm và Miến Điện ra lệnh hạn chế người Tàu nhập cảnh, và gây khó trong việc làm ăn của họ. Bên Huê Kỳ, mỗi khi đến nơi, người Tàu phải nộp tiền ký quỹ mấy trăm đồng vàng, mới được lên bờ. Vừa rồi, ở nước Cu Ba, mấy vạn Huê thương phải xách gói về nước vì bị đối xử tệ bạc. Giờ tới phiên Phi lip pin, đầu năm nay chánh phủ Phi ra thể lệ mới, buộc người Tàu ở dồn một chỗ gần Ma Ni, không cho ở nhiều nơi như trước – Nghĩ thương họ, thực ra họ không gây ra lỗi lớn, tội của họ là đông người. Vậy nên, nếu có đường lên trăng, ta nên nhường cho họ đi trước.
        (Phan Khôi, Phụ nữ tân văn số 158, 7/7/1932).
        Lời bàn: Ngay thời 1920 người ta đã tính chuyện lên trăng – 1930 dân Trung Hoa 500 triệu, đến 2004 đã 1,3 tỷ.
        
       ĐỘC ĐÁO: Ngày 24 tháng 2 năm 2003, nhạc sĩ Đức Phương, chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh AB gởi một bức thư dài đến các cơ quan: Thường trực tỉnh ủy, Ban Tổ chức tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy AB, Sở Văn hóa thông tin AB, Phòng PA25 công an AB. Trong thư ông Phương phân tích, phê bình bài thơ “Bài hát ngày về” của nhà thơ Quang Thoại (QT). Xin trích (nguyên văn) vài đoạn:
        “Tôi xin có ý kiến về bài thơ “Bài hát ngày về” đăng trên báo AB số ra ngày 4/2/2003 với chủ đề mừng xuân năm 2003 – Về hình thức nghệ thuật, đây là bài thơ bắt chước lối thơ cũ của Tàu, dùng nhiều từ cũ kỹ, không có gì mới. Về nội dung, bài thơ này mang nội dung xấu, độc, nhằm bôi nhọ người lính, bôi nhọ chế độ ta. “Ta ngồi lại soi xuống dòng suối Rách, Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày, Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng, Giờ ta trở về trắng hai bàn tay”.
        Ngay từ câu đầu, tác giả đã lộ rõ ý đồ xấu khi viết “dòng suối Rách”. Bởi vì khi nhắc đến dòng suối, một cháu học trò cấp II cũng hiểu đó là nơi nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ ta từ chiến khu Việt Bắc đến suốt dải Trường Sơn, để làm cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng miền Nam. QT đã giũ bỏ hết, “Giờ ta trở về trắng hai bàn tay”. Câu thơ này chỉ rõ: đừng uổng công mà phấn đấu cho cách mạng. Tác giả lại viết: “Giá như người xưa gác gươm sườn đá, Tháo đôi giày cỏ thả trôi, Cởi áo vắt vai cười ha hả, Vời trông bốn hướng đất trời”. Chữ gươm ở đây là hình tượng nói về người lính. Vậy cái ngày xưa ấy là ngày xưa nào? Cái ngày xưa mà nhân dân ta vùng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng để chống lại Ngô Đình Diệm và bọn tay sai chém giết đồng bào ta. Lúc ấy QT làm gì, đi lính cho ai, ở đâu, mà gác gươm sườn đá, tháo đôi giày cỏ thả trôi, cười ha hả?
        “Ta một kẻ hèn, kẻ hèn đời mới, Hèn – không đáng mặt kẻ hèn, Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi, Sao còn vất vả đua chen?”. Tác giả muốn chửi bới ai đây, chửi quần chúng tích cực, quân nhân tích cực hay cán bộ CM sống trong sáng? “Dãy đồi bên kia là lau là cỏ, Có cây đa già tỏa mát trăm năm”. Cái dãy đồi, cái thiên đường mà QT mơ tới là ở đâu vậy? Có phải cái nơi tác giả sẽ được hưởng đô la khi bài thơ trở thành vũ khí tuyên truyền của các thế lực thù địch? – Hiện nay QT nằm trong ban biên tập tạp chí văn nghệ AB. Việc để cho người không nằm trong bộ máy nhà nước, chưa kinh qua một lớp biên tập, sáng tác nào nắm giữ vai trò đáng kể của báo Đảng là vô cùng nguy hiểm”.
        Ghi chú: Lúc này trên trái đất có cả ngàn chuyện to như núi, đọc lại vụ lùm xùm cũ thấy buồn cười – Tên hai nhân vật chính trong bài được thay đổi, vì một vị đã về trời, còn một tếch qua châu Âu ôm chân tư bản. Nếu để tên thật dễ bị mang tiếng nói xấu người vắng mặt.

        THẬT VÀ ẢO: Những tin tức gần đây cho thấy sự suy yếu của Trung Quốc (TQ): tăng trưởng kinh tế chậm lại liên tục, hàng hóa ứ đọng vì sản xuất ra mà không bán được, số nợ xấu ngân hàng đang gia tăng, bong bóng đầu tư bất động sản đang theo nhau nổ, và một cuộc tranh giành quyền lực ngấm ngầm nhưng thô bạo đang diễn ra ở chóp bu, những xì căng đan chính trị xảy ra bất tận… Các yếu tố trước đây từng thúc đẩy TQ lớn lên, như lợi thế dân số, lao động siêu rẻ, khả năng tiếp cận dễ dàng các thị trường nước ngoài thì nay đã thu hẹp lại, hoặc đang biến từ từ.
        Thật ra, không dễ thấy các nhược điểm của TQ, bởi nó được những đô thị lớn và mới che đậy kín đáo. Có thể tóm tắt các tệ nạn kinh tế của anh khổng lồ này: đó là một nhà nước luôn mạnh tay phung phí tiền vốn, là sự thiếu hiệu năng và thiếu sáng kiến có tính hệ thống, là một giai cấp thống trị tham lam vô độ, là một khu vực tài chính kém cỏi thảm hại.
        Tuy vậy, trong con mắt của nhiều nước, vẫn còn đó một hình ảnh TQ sáng đẹp, nhờ vào các bài bản tuyên truyền ranh ma khôn khéo. Báo đài, sách giáo khoa của họ nhồi nhét vào đầu óc thế hệ trẻ các món ăn tinh thần ảo, gồm những sự kiện bị bóp méo nhằm đề cao niềm tự hào dân tộc, những trò láo khoét trắng trợn về các huyền thoại yêu nước, những thủ thuật kích động người dân bài phương Tây và bài Nhật – Giờ đây, còn quá sớm để nói rằng TQ có thể đổi mới, phục hồi mạnh mẽ trong vài năm tới, hay tình trạng bất ổn sẽ mỗi ngày mỗi tồi tệ.
        (Minxin Pei, Foreign Policy, 29/8/2012, Trần Ngọc Cư dịch).
  
        ĐỪNG SỢ MẤT NGỦ
                   Ta đã ngủ triệu năm
                   Trước ngày oa oa khóc
                   Ta còn cả triệu năm
                   Để ngủ dài trong đất.
                                      Trần Mạnh Hảo

        BẦM DẬP: Lúc 3 giờ 10 chiều 12/9/2013, trước cửa UBND quận Ba Đình, đại sứ quán Hà Lan mở cuộc phát tặng 3.300 chiếc áo mưa cho dân Hà Nội.
        Khi những chiếc áo mưa được bày ra, dù vị đại diện Hà Lan phát biểu chưa xong, đám đông đã xô vào tranh giành nhau lấy quà. Ai cũng cố gắng giựt được càng nhiều càng tốt. Có người cầm trên tay ba, bốn chiếc áo mưa nhưng vẫn xô đẩy chen lấn để lấy thêm. Có người thu được một mớ bèn đem ra cất vào cốp xe, rồi chạy vô lấy tiếp. Có người giật áo mưa từ tay vị đại diện người Hà Lan và các tình nguyện viên. Hỗn loạn. Ngán ngẫm.
        Cuộc phát tặng phẩm này có chủ đích mong muốn nâng cao nhận thức chung của mọi người về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên sự kiện mang ý nghĩa tốt đã bị các hành vi bầm dập của dân ta phủ trùm lên một bóng đen lớn.
        (Quang Ngọc, Khoa học MT – Chánh Đạo, 14/9/2013).

        SAO HỎA: Phi thuyền thăm dò sao hỏa của Ấn Độ được phóng lên không gian ngày 5/11/2013. Nó sẽ làm cuộc hành trình dài 300 ngày, trên quãng đường 784 triệu km, và sẽ đến sao hỏa vào tháng 9/2014.
        Sự kiện này được xem là thành tích mới nhất trong cuộc chạy đua về công nghệ không gian của Nhật, TQ, Ấn Độ, Hàn Quốc. Nếu chuyến thăm dò này thành công, Ấn sẽ vượt Tàu trong lãnh vực thám hiểm sao hỏa – Sau khi được phóng đi, phi thuyền Mangalyaan (nặng 1.350 kg) gặp trục trặc là chỉ đạt được tầm cao 71.620 km, kém xa tầm cao cần thiết, vì vậy phi thuyền phải bay vòng quanh quỹ đạo trái đất đến cuối tháng 11 này, chờ khi đạt được vận tốc cần thiết (là 192.000 km) để thoát khỏi trọng lực của trái đất.
        Theo dự kiến, phi thuyền Mangalyaan sẽ thẳng tiến đến sao hỏa vào ngày 1/12 và bắt đầu vào quỹ đạo sao Hỏa ngày 24/9/2014. Chương trình này trị giá 74 triệu USD, sẽ đem về cho Ấn nhiều ích lợi trong các lĩnh vực phòng chống lũ lụt, dự báo bão, quản lý ngư nghiệp, quản lý rừng.
        (Trúc Lâm, Le Figaro và BBC, 12/11/2013).
        Lời bàn: Nhật, Ấn, Tàu, Hàn đều khốn đốn trong thời kỳ 1935 – 1953 nhưng chỉ vài chục năm sau họ lên như phép lạ –  Nhìn họ lại nghĩ đến xứ An Nam 4.000 năm ruồi muỗi.

        TRẺ ĐẸP: Sáng ngày 7/8/2013, thi thể anh Trần Hữu Hiệp (SN 1987, ở thôn 3, xã Thạch Long, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) đã được an táng tại quê nhà.
        Hiệp là con thứ hai trong gia đình có 3 anh em. Năm 2009 anh tốt nghiệp trường Cao đẳng Phú Thọ, sau đó vào làm tại Công ty sản xuất ống thép dầu khí Tiền Giang… Hiệp chí thú làm ăn, sống tằn tiện, dành dụm tiền lương gởi về giúp cha mẹ già yếu. Anh gặp nạn khi đi dự đám cưới cùng bạn bè – Lúc canô bị chìm trên biển Cần Giờ (20 giờ 25 tối 2/8/2013 tại khu vực xã Lý Nhơn) anh Hiệp đã cởi áo phao của mình nhường cho một phụ nữ mặc, và anh bơi, dìu ba người khác, giúp họ bám vào thành canô, đợi tàu cứu hộ, sau đó anh qua đời vì đuối sức.
        Canô bị nạn (H29) chở 30 người đi sự đám cưới, bị sóng lớn đánh chìm trên đường từ Gò Công Đông về Vũng Tàu. Nơi ca nô chìm cách bờ biển Cần Giờ chừng 24km. Đến 9 giờ sáng 4/8 các toán cứu hộ đã cứu được 21 người, 9 người còn mất tích, (sau đó xác định là chết) – Nguyên nhân tai nạn có thể do thuyền chở quá tải. Ca nô H29 chỉ được chở 20 người, mà chở đến 30. Nhưng lý do lớn nhất là sự chậm trễ khó hiểu của việc cứu hộ. Nếu các thần cứu người đến trong vòng hai, ba giờ sau khi ca nô chìm thì số người chết không nhiều như thế.
          (Thu Phong, Hải Hưng, Bangkok Post, 10/8/2013).

        TỰ HÀO: Dân Trung Quốc (TQ) có lý do để tự hào. Họ chỉ mất 30 năm để đạt tới đích công nghiệp hóa, trong khi châu Âu phải mất 200 năm mới được như vậy. Cứ sau 8 năm, quy mô nền kinh tế TQ lại tăng gấp đôi.
        Chính phủ TQ hiện nay là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc hơn là sản phẩm của ý thức hệ mác – xít… Nếu bóc đi “ánh sáng dẫn đường” của tư tưởng Mao Trạch Đông, thì chỉ còn lại chủ nghĩa dân tộc như chất keo kết dính toàn xã hội – Thanh niên TQ được kết nạp đảng sớm, nhanh chóng, dễ dàng. Ở trường họ học ba môn quan trọng là Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Mao và lý luận Đặng Tiểu Bình.
        Chính quyền TQ muốn người dân nắm rõ chiến lược “trỗi dậy hòa bình”. Năm 2006, truyền hình trung ương TQ cho chiếu loạt phim 20 tập “Sự trỗi dậy của những dân tộc vĩ đại”. Thông điệp của bộ phim này là đoàn kết dân tộc, thành công về kinh tế và công nghệ, sức mạnh quân sự, một nền văn hóa sáng tạo và quyến rũ. TQ cũng vẽ nên trong mắt người dân, nước họ là nước yêu hòa bình và sẽ vươn lên vị trí bá chủ theo kiểu hòa bình, hấp dẫn – Lòng ái quốc, tinh thần dân tộc luôn phát huy hiệu quả tốt nếu được đặt đúng vị trí. Cho đến bây giờ, Bắc Kinh vẫn khéo léo trong việc truyền bá, huy động chủ nghĩa Trung Hoa vào việc phát triển kinh tế và giữ vững khối đoàn kết dân tộc.
        (Đoan Trang, blog ĐT 5-2009 và 3/11/2013).

        DẠI KHÔN: Có thể nói, người Việt rất khôn khéo, mưu mẹo, tài tình. Vậy mà sao VN lại cứ lẹt đẹt, luôn bị xếp hạng dưới trung bình về mọi mặt trên thế giới, không những thua xa Hàn Quốc, Đài Loan, mà còn thua cả những anh láng giềng ngố hơn ta như Thái Lan, Mã Lai. Có thể đổ lỗi cho ngoại cảnh, cho lịch sử, nào là thực dân, nào là Bắc thuộc, Tây thuộc, nào là chiến tranh, nhưng có một điểm mấu chốt mà nếu không công nhận, thì vẫn sẽ thua mãi, đó là ta “khôn chinh dại đồng”.
        Cái khôn của “ta” là gì? Là khôn về mưu mô, thứ khôn để luồn lách, lạm dụng, để ngụy biện, tranh giành, nhập nhèm. Về khoản đó có lẽ dân các nước khác thua xa “ta”. Nhưng một xã hội toàn người khôn như vậy là xã hội khó phát triển. Vì quá khôn nên mới dại về một vài nguyên lý cơ bản. Còn người ta “ngố” nên người ta chú trọng đến các quốc sách thực tế, thiết thân, nhờ vậy họ tồn tại và lớn lên. Có thể hỏi: “nguyên lý” là nguyên lý gì? Trả lời: có nhiều, như “tam quyền phân lập” chẳng hạn. Đó là văn minh, chân lý. Thiếu nó là còi cọc, suy dinh dưỡng, chống nó là chết chậm, chậm và chắc. Đó là, thứ dã nhân Darwin gọi là người thực ra không phải người, bởi càng sống lâu lông lá nó càng rậm đuôi càng dài ra.
        (Lê Dũng, blog Ánh sáng 19/7/2010).
Lời bàn: Đọc những dòng của tiên tri Nostradamus viết về Do Thái, Bắc Hàn, Trung Đông, ta thấy khó nghĩ, hoang mang – Giờ đây đóng vai khán giả khỏe hơn làm diễn viên – Lười nhác, ù lì mấy cũng phải nghĩ: mai này sẽ còn những tuồng tích lạ nào diễn ra, khi mà phù thủy cứ hát ca trù sầu thảm, còn âm binh thì chơi rock điếc tai.

        HIẾM CÓ: Ông Mozart (1756 – 1791), người nước Autriche, giỏi về âm nhạc, người đời tôn là “nhạc thánh”. Có một lần ông đi dạo chơi ngoài đồng nội của kinh đô Genève, thấy một người ăn mày mà bộ tướng khôi ngô lắm, bèn vừa đi vừa nói chuyện gẫu cùng người ấy. Lúc nghe người ăn mày bày tỏ thân thế của mình, vị nhạc thánh động lòng thương xót, nhưng rủi thay trong túi ông chẳng có đồng tiền nào.
        Ông Mozart bèn dắt người ăn mày vào một quán cà phê. Ngồi đoạn, ông moi túi áo lấy ra mấy tờ giấy, viết gấp một bài hát theo nhịp múa chậm, kêu bằng Minue, rồi đưa cho người ăn mày, bảo cứ việc đem tới nhà in, sẽ được tiền.
        Số là, lúc đó người ta coi những bài hát của ông Mozart đặt ra như tờ chi phiếu (chèque), đem các chi phiếu này đến nhà in nào cũng được họ đón nhận nồng nhiệt – Người ăn mày đem bài hát của ông Mozart tới một nhà in, ông chủ nhà in liền trả cho va hai chục đồng bạc, đó là số tiền rất lớn.
        (Phan Khôi, Trung lập, Saigòn số 6893, 11/12/1932).

        BUNG RA: Từ năm 1998 đến nay, ở châu Phi đi đâu người ta cũng gặp dân Trung Hoa (TH). Tại vùng Trung và Nam Phi người Tàu dày đặc. Vùng bình nguyên này có 47 nước, với 310 triệu dân sinh sống. Đây là khu vực nghèo đói, lạc hậu, đa số dân kiếm được chưa đến 1 USD mỗi ngày. Dưới góc độ kinh tế, con cháu Mao vĩ đại nhìn thấy ở đây nhiều dạng “hầm mỏ” hấp dẫn.
        Đợt xâm lấn thương mại này được coi như một cơn sóng thần, rộng khắp và mãnh liệt. Người Tàu đi trên đường phố, ngồi trong quán ăn ở Zambia, Ghana, Mozambique, Angola, Gabon, Nigeria, Cameroon, Tanzania, Congo, Zimbabwe, Sudan… Họ làm đường cao tốc, xây sân vận động, thăm dò dầu khí, khai thác gỗ, xây đập nước, cố vấn cho nhà nông. Ban đầu dân địa phương vui vẻ, thích thú khi chứng kiến những thay đổi đẹp, những hình ảnh mới diễn ra quanh họ. Nhưng dần dà, về sau, họ phát hiện ra những ông khách da vàng này chưa hẳn là bạn, rồi sau nữa họ thấy rõ đây là các tập đoàn thực dân mới – Gần đây, từ 2009 đến nay, người Phi ở nhiều nơi đã nổi lên chống lại sự xâm chiếm khéo léo trắng trợn của doanh nhân TH. Khá nhiều chuyên gia Tàu bị giết. Có những khu khai thác gỗ, công nhân bí mật mua súng đạn, đem về bắn chết hàng loạt người Tàu. Tháng 2/2012, chính phủ Ghana công bố: tất cả các khu mỏ người TH đang đào bới khắp Ghana là bất hợp pháp, và đã trục xuất 220 “chuyên gia”. Họ nói, người Tàu gây ô nhiễm đất đai, bóc lột dân địa phương. Công nhân Ghana dùng súng, dao rựa tấn công, sát hại hàng chục vị khách châu Á – Qua tháng 4/2012, hai vụ chống Tàu bùng lên trong các khu rừng Mozambique. Số công nhân da đen đông đảo đã đập đổ, đốt phá những khu trại đốn gỗ, và bắn chết hơn 30 ông Tàu, khiến số “khách” còn lại phải phóng nhanh về nước.                       
               (Văn Hà, The Times of India, 18/6/2012).

        LÀM ĂN: Ở vùng biển Hòn Câu (xã Diễn Hải, Diễn Châu, Nghệ An) mấy năm trở lại đây có tình trạng nhiều người dân bỏ nghề đi biển chuyển sang kinh doanh “dịch vụ sung sướng”.
        Vùng biển này có trên 150 kiốt tạm bợ, hầu hết số hàng quán này kinh doanh mại dâm. Gái ở đây chủ yếu là dân các huyện miền tây Nghệ An như Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương. Thượng vàng hạ cám, trăng non trăng tròn có hết. Hàng đa dạng, giá mềm.
        Nơi đây ngày đêm náo nhiệt với những đoàn xe máy, ô tô của khách đổ về tìm của lạ… Có nhiều quán cả chủ lẫn gái ra mời khách rất nhiệt tình, sống sượng: “Các anh ơi, chơi đâu cũng mất tiền, vào đây chơi em cảm ơn”. Rồi họ rao to những câu khuyến mại, giảm giá một cách trơ tráo, lộ liễu. Rồi lại ngoác mồm đọc thơ inh ỏi: “Không chơi uổng cả đời trai, Cái già ập đến phí hoài tuổi xuân”! Quang cảnh ở đây chẳng khác gì một phiên chợ huyện đông đúc, tấp nập, như kiểu mua bán thịt cá, rau quả vậy – Được biết, vào mùa hè, lúc cao điểm vùng biển này đón cả ngàn cô gái đổ về làm ăn.
        (Bảo Hà, Thời Đại,28/3/2011).
        Lời bàn: Cảnh này y chang mấy khu động nhện cây số 9 Cam Ranh (Khánh Hòa), Phú Tài (Qui Nhơn), Gò Vấp (Saìgon) thời loạn lạc 1967 – 1972.

        SÔNG MÊ
                   Cùng chung một chuyến đò ngang
               Kẻ thì sang bến, người đang trở về
                   Lái đó lái mãi thành mê
               Sang – về, chẳng biết mình về hay sang.
                                                                    Bảo Sinh

        XUỐNG: Có những bất cập trong xã hội ta, nó làm cho đời sống tinh thần ngày một xuống, người đông thêm nhưng chất lượng nhân phẩm sa sút, thừa thãi ý thức đấu tranh mà nghèo tính trung thực, nghèo lòng trắc ẩn. Bao giờ ngắt được căn bệnh này thì xã hội lại phát triển lành mạnh. Trẻ sẽ bớt nông nổi, già sẽ bớt nông cạn, giấc ngủ thường đêm sẽ ít mê thấy quỉ nhập miếu.
        Chìm nổi vốn là chuyện thường thấy với mỗi người cũng như với một dân tộc. Điều đáng nói là cần phải biết hy vọng, vững vàng niềm tin, vững vàng nghị lực để vượt lên, chìm mãi rồi cũng có lúc phải nổi.
        (Đỗ Chu, blog Văn Công Hùng 3/9/2013).

        BÀNH TRƯỚNG: Bên cạnh kinh tế và quân sự, các nước lớn còn có tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Pháp, Đức là hai nước rất chú trọng tới vấn đề bá quyền văn hóa này. Các hoạt động xuất khẩu văn hóa của họ được tiến hành liên tục, mạnh mẽ.
        Chúng ta dễ dàng nhìn thấy các sách lược ngoại giao văn hóa của Trung Quốc (TQ) đang làm ở Việt Nam (VN) hiện nay. Phim truyền hình TQ tràn ngập các đài của VN, nên khán giả ta thuộc sử TQ hơn sử VN – Thực tế, TQ đã thực hiện bá quyền văn hóa tư tưởng với VN suốt mấy ngàn năm qua. Các học giả cho rằng, việc TQ tiến hành thành công bá quyền văn hóa ở VN phụ thuộc vào cách đối phó của VN. Thí dụ, mới đây (ngày 14/10/2013) VN cho TQ thành lập học viện Khổng Tử.
        Theo một thống kê trên tờ China Daily, năm 2004 TQ nhập 4.000 đầu sách của Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu sang Mỹ được 14 đầu sách. Cùng lúc, họ nhập 2.000 đầu sách của Anh, nhưng chỉ xuất qua Anh được 16 đầu sách – Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở TQ, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật TQ sang Nga biểu diễn. Giai đoạn 2000 – 2004, TQ nhập khẩu hơn 4.000 phim và chương trình truyền hình của nhiều nước, nhưng số phim xuất khẩu của họ quá nhỏ, không đáng kể. Và, có thể nói, số phim xuất khẩu của TQ chỉ được tiêu thụ ở VN và vài nước Đông Nam Á… Cần phải phổ biến các số liệu trên đây, để dân ta biết TQ không phải là “đại gia” văn hóa của thế giới.
        (Đoan Trang, blog Đoan Trang 16/10/2013).

        ĐẦU TIÊN: Một ngày giữa tháng 4 năm 2008, Phan Thanh Tuấn (29 tuổi, ở Mê Linh, Hà Nội) cùng một gã bạn thân rủ chị Lưu Thị Nguyệt (26 tuổi, làm nghề bán rau và hoa quả) đi ra ngoại thành chơi, rồi ra tay hạ sát chị để cướp tài sản. Khi thấy chị Nguyệt chết chắc, hai tên cướp ném nạn nhân xuống một mương nước cạnh tỉnh lộ rồi bỏ trốn. Ngày 21/9/2009, Thanh Tuấn bị bắt. Ngày 28/3/2010 hắn bị tuyên án tử hình với hai tội giết người và cướp tài sản.
        Sáng ngày 6/8/2013, Thanh Tuấn trở thành tử tù đầu tiên nhận hình phạt tử hình bằng tiêm thuốc độc – Thuốc được tiêm vào cánh tay. Những người thi hành án không trực tiếp tiêm thuốc độc vào tay tử tù, mà chỉ bấm nút tại các bàn điều khiển. Khi nghe khẩu lệnh của người chỉ huy, 5 cảnh sát (đứng tại bàn điều khiển, ở phía ngoài) bấm nút. Thuốc tự động tiêm vào tay tử tù.
        Tính đến cuối tháng 10/2013, đã có 4 phạm nhân bị tử hình bằng thuốc độc, trong đó 2 người ở Hà Nội, một ở Sơn La, một ở Hải Phòng. Hiện còn 664 phạm nhân mang án tử hình.
        (Nam Bình, Tổng hợp 3/11/2013).

        ÔNG LỚN BỆNH:
        Mười năm gần đây, nhiều người gọi Trung Hoa (TH) là siêu cường, thế lực mới, con rồng lớn. Sự thực thế nào? Một giáo sư ở đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh) nói: xã hội TH đang lâm trọng bệnh, không có hy vọng khỏe mạnh trở lại. Nó đang đứng trước sự sụp đổ. Sao vậy? Đang mạnh mà ngã ra qui tiên? Chỉ là những suy diễn lẩn thẩn? Muốn biết, quý vị nên tự tìm hiểu.
        Qua các cuộc thăm dò dư luận đa số dân Tàu cho rằng sự tham nhũng tràn lan trong giới quan chức là vấn nạn lớn nhất của nước họ. Họ thêm, cái nạn này ngày càng phình to, và rõ ràng chẳng thuốc gì có thể chữa trị được.
        Kế đến, hơn 80% người được hỏi bảo rằng, họ thấy bất an về cái hố ngăn cách giàu nghèo, hố này càng ngày càng lớn và sâu thêm – Trên 60% ý kiến buồn rầu lo lắng về sự suy thoái của các giá trị xã hội và đạo lý, khi mà tiền bạc là thước đo duy nhất cho mọi việc mọi chuyện. Một xã hội hài hòa, công bằng từ lâu đã chui vào nằm trong các cổ tích. Có quá nhiều điều sai trái, bẩn thỉu được rao giảng, truyền bá, được xem như các tín điều của một đạo giáo mới – Hơn 40% số người được hỏi cho biết, họ thất vọng lớn về mặt chăm sóc sức khỏe cho người già và tình trạng thất nghiệp trầm trọng của lớp trẻ.
        Có quá nhiều điều cần nói, quá nhiều căn bệnh giấu mặt trong một thân xác cồng kềnh cao lớn… Sự thực thế nào? Có nhiều cách lý giải, nhiều câu trả lời. Các chuyên gia am hiểu châu Á bảo rằng: gã Tàu này chỉ có sống hoặc chết, không thay đổi. Quý vị nên tự tìm hiểu, nếu muốn biết một kết quả rõ ràng và trung thực.
        (Yu Chien Kuan, Phan Ba dịch, blog Phan Ba 20/8/2011).

        ĂN MỘT MIẾNG: Một cửa hàng sushi trên đường Đoàn Trần Nghiệp (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) thông báo cho thực khách ăn miễn phí trong ngày khai trương 24/10/2013.
        Có tới cả ngàn người xếp hàng, chờ đến lượt vào ăn buffet Nhật. Càng gần giờ ăn, người kéo đến càng đông, tràn xuống lòng đường, gây ách tắc giao thông. Số khách này chen lấn, chửi bới, xô đẩy nhau, nhân viên cửa hàng làm việc hết công suất cũng không xuể. Dự định, sáng chiều sẽ đón 180, tối là 280 người, mà lượng khách quá đông nên vụ chiêu đãi rơi vào quá tải.
        Anh Minh Hiền, phụ trách cuộc đãi khách này, nói: chúng tôi không lường trước được số khách đến dự lại đông như vậy. Anh phàn nàn, nhiều khách hàng chen lấn xô đẩy, gây mất trật tự, và lấy thức ăn tràn lan, ăn một miếng mà lấy cả khay… nên dẫn đến tình trạng hỗn loạn.
        (Kim Dung, blog KD Kỳ Duyên 30/10/2013).
        Lời bàn: Thời Internet mà sao dân ta chưa rụng đuôi.

        HỢP TÁC:
        Trong chuyến thăm Nhật hồi giữa tháng 9/2013, ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói với báo giới: liên minh Mỹ – Nhật là nền tảng cho hòa bình, ổn định của châu Á – Thái Bình Dương. Hai nước sẽ lập một kế hoạch lâu dài (về chiến lược) cho tương lai 20 năm tới. Ông Kerry nhắc lại, Mỹ cam kết dùng toàn bộ khả năng quân sự của mình, kể cả hạt nhân, để củng cố cuộc hợp tác này.
        Mỹ – Nhật khẳng định, họ tạo ra liên minh mạnh mẽ trong bối cảnh hiện tại, bởi mấy năm gần đây Trung Hoa liên tục gia tăng phần chi tiêu quân sự, và mở rộng sự phát triển của hải, không quân.
        (Duy Quý, The Economist 24/9/2013).

        TOÀN DIỆN: Hội nghị Trung ương 3 khóa 18 của Trung Quốc (TQ) khai mạc ngày 9/11/2013 nhằm đưa ra những cải cách sâu sắc, toàn diện. Theo thông báo sau một phiên họp mới đây, điểm nổi cộm trong hội nghị này là “những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ”.
        Những lãnh vực sẽ cải cách mạnh mẽ: thủ tục hành chánh, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước. – Vài phác thảo cải cách: lãnh vực công nghiệp, nhà nước sẽ dỡ bỏ kiểm soát đối với việc nhập khẩu dầu khí. Công nghiệp viễn thông sẽ tổ chức lại để khuyến khích cạnh tranh. Khâu đầu tư vào ngành đường sắt sẽ được đa dạng hóa. Ngành điện và hệ thống giá điện cũng được cải cách… Sau mấy thập niên bưng bít, các ngành đường sắt, dầu khí, viễn thông, ngân hàng sẽ được trút bỏ gánh nặng độc quyền.
        Đọc những việc đổi thay mạnh, sáng của TQ, lại liên tưởng đến kinh tế VN. Qua các phát hiện vào năm 2011, người ta thấy Tập đoàn Xăng dầu cùng với Tập đoàn Điện lực là các thủ phạm đẩy nền kinh tế vào tình trạng tiêu điều do đầu tư trái ngành, tạo ra số tiền lỗ hơn 40.000 tỷ đồng, kéo theo các chiến dịch tăng giá xăng dầu liên miên nhằm trút lỗ lên đầu 87 triệu dân.
        Về đất đai, TQ sẽ điều chỉnh cơ chế sở hữu đất đai. Lâu nay, các vụ khiếu kiện, biểu tình quanh chuyện đất đai là vấn nạn lớn ở TQ. Mỗi năm có đến hàng trăm ngàn cuộc khiếu kiện liên quan đến đất đai xảy ra ở nước đông dân này. Rồi đây nông dân có quyền sở hữu trong việc bán đất và được đền bù thỏa đáng dựa theo mức giá thị trường. Các cấp chính quyền sẽ không còn được mua đất của dân với giá quá thấp, rồi bán lại cho các công ty, doanh nghiệp với giá cao hơn nhiều.
        (Phan Chí Dũng, theo BBC, quechoa 10/11/2013).

        CON BÀ GIÁO DỤC: Sao bạn viết toàn thứ vụn vặt, chống Tàu à? – Chuyện lớn các báo đã cày cả chục vạn bài rồi. – Hết đề tài lớn? – Lớn với nhỏ! Vẽ ra một kế hoạch khủng để nuốt ngàn tỷ và cứu một người khỏi chết đuối, bên nào lớn?... Hàng tỷ tin, bài trôi lềnh bềnh trên dòng sông Thời Sự. Tôi đứng nhìn, lâu lâu cúi xuống vớt lên vài em, ra sức xốc nước, hô hấp, xoa bóp chúng. Thú vị – Đây là tóm lược những bài viết về Đại Hán. Nó là cái giá để tôi treo mớ tin hôi của. Kích cỡ vấn đề nhỏ thực, nhưng mức độ đen đúa thảm hại thì lớn. Nó hấp dẫn ngang ngửa với những Vinashin, Vinalines, Vina Đường sắt… Anh biết không, bé Hôi Của là con của ông Giáo Điều và bà Giáo Dục ./.

------------

5 thg 4, 2013

Tuyển thơ DÒNG SÔNG 1


Cảm ơn Đà Lạt
Lá bay nghiêng triền dốc
Mây giêng hai trắng trời
Núi thổi làn hương biếc
Xô ngã em vào tôi
Đà Lạt ngọt nhờ rét
Rét cho em đỏ môi
Đà Lạt lạnh chết khiếp
Lạnh cho tim bồi hồi
Sớm qua hồ qua thác
Chiều vòng quanh lũng đồi
Đá thổi làn sương biếc
Rụng tim tôi vào ai
Ngỡ chỉ mượn chút lửa
Hơ đôi phút mồ côi
Ngỡ chỉ mượn chút nhớ
Ai ngờ rồi… khôn nguôi
Ai ngờ nghiêng cả đất
Ai ngờ lệch cả trời
Cảm ơn em Đà Lạt
Đã muối tình mặn tôi.
                             MƯỜNG MÁN

 Khúc quê
Chim bay về núi Ngự rồi
Chiều sấp ngửa nửa chân trời bi ca
Có ai ngồi hát cùng ta
Khúc quê tím thẳm nhập nhòa hoàng hôn
Nốt trầm rơi lặng bãi cồn
Sông ơi rẽ nhánh vô ngôn tặng người
Bờ xanh bông cỏ trắng ngời
Con đò em chở một đời thơ anh
Sủi tăm cốc rượu độc hành
Trò chơi cút bắt còn xanh ngõ về
Sầu đông thả lọn tóc thề
Một mình ngồi hát càng tê tái buồn
                                             NGÀN THƯƠNG

   Tiễn
Tháng ngày sớm muộn cũng qua
Tiễn chân là cũng chia xa với người
Đã không nấn ná bằng lời
Làm đau ánh mắt nụ cười mà chi
Người đi mang hết những gì
Còn tôi nán lại thầm thì với tôi
Tôi còn có nửa cuộc đời
Nửa kia ở phía cuối trời chân mây
Vẫn còn hơi ấm bàn tay
Cho tôi giữ lại chốn này yêu thương
Người đi ngã rẽ cuối đường
Tôi dừng chân lại mà thương lối về
                                             TÔN NỮ THANH YÊN
  
Ngồi nghe Tết đến dần dần
Ngồi nghe Tết đến dần dần
Đi theo phiến gió mùa xuân cũng về
Rỗng tay công việc bộn bề
Chật lòng một cõi hồn quê ắp đầy.
Tháng giêng vừa mới đâu đây
Tháng hai đã vội dắt dây đi vèo
Mùa mùa cứ vãi hạt gieo
Sợi tóc cũng bạc dần theo tháng ngày.
Một năm nắm mở bàn tay
Trời cao đất rộng đắng cay ngọt bùi
Lọc buồn tìm lấy niềm vui
Đánh thức hạt mẩy đã vùi đất xuân.
Ngồi nghe Tết đến dần dần
Ta như tượng tạc cứ trầm ngâm im
Thả hồn phiêu lãng đi tìm
Ai vừa thả một cánh chim lưng trời
                                             TRẦN QUANG ĐẠO

Nhịp tình
Thôi người
Hồn khô cây
Không gian dội
Giải bày cơn giông
Kìa ai trước đục trong
Bàn tay bẻ gió
Phải dòng nào đây?
Người xưa
Lỗi nhịp chày
Câu ca gãy
Người nay còn cầm
Người về lụi nến giọt thầm
Kẻ đi đã vẹt vầng trăng thiếu thời
Nhịp chày
Cối gạo sóng đôi
Nhịp thời gian
Gõ lời khoảng không
                                       TÔN PHONG

Tình ca mùa xuân
Thời gian nói điều gì
Mà mùa xuân trói buộc
Câu thơ đi nửa bước
Nỗi buồn dài mười năm
Đời gọi thức trăng rằm
Em về vui bếp nhỏ
Gió qua mùa thương khó
Tháng Giêng tìm môi ai
Tình em như sông dài
Lòng anh là con nước
Nỗi buồn xưa dừng bước
Câu thơ thành ban mai
                                             TẦN HOÀI DẠ VŨ


giặt áo cho người
Giọt chiều rơi vỡ trong ta
Về thôi về giặt áo hoa cho người
Với tay không đến chân trời
Xuôi tay khẽ chạm nụ cười cỏ xanh
Cõng chiều đi quẩn về quanh
Ngả lưng mây trắng xây thành bình yên
Hiu hiu một vốc ưu phiền
Thả bay theo gió an nhiên giữa đời
Ham vui vọc chữ làm vui
Nỗi buồn níu áo rong chơi với mình
Chiều xanh nhặt được câu kinh
Thổi tan năm tháng u minh khỏi hồn
Khi chân loạn lúc tâm cuồng
Lang thang về lại lối mòn tìm rêu
Xanh lơ màu của tình yêu
Vàng tươi màu của già chiều lửa rơm
Chiều xanh hoa gửi mùi thơm
Mặt đất nhàn nhạt hương con đường nào
Trên tay chiếc áo bạc màu
Trong hồn mây ngộ độc sầu vẫn xanh
                                             LƯU XÔNG PHA

Khép
ừ, thì cơn mưa ướt
những buổi sớm cũ nhàu
tình buồn như cỏ rũ
qua rồi sẽ xanh mau
đâu phải là cỏ lau
mà buồn len buồn lách
chỉ là một cọng sầu
mọc giữa đời xọc xạch
tình như mưa tí tách
rơi vài nhịp vắn dài
làm mát một ban mai
mà ngỡ là mãi mãi
tim người lệch bên phải
cân đếm một lần yêu
mưa bên ít bên nhiều
tình… đem tim bỏ chợ.
                                                         SÂM CẦM

Xuân


1. Em ơi tuyết đổ
bàng hoàng tuyết rơi
Mùa xuân tuyết khổ
Lá cỏ ngậm ngùi
Em đi nho nhỏ
giữa mùa tuyết bay
Ta đi vô độ
giữa mùa tuyết say
Tim ta vò võ
Tuyết trở mặt rồi
Mùa xuân năm ấy
Mùa xuân năm này
Hồn ta bỏ ngõ
ai nào ai hay.


Chỗ ngồi
2. Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm
Anh gối lên và ngủ một giấc dài
Em có hiểu đời cho em là mộng
Để anh về cứ tưởng một là hai


Phố
3. Ở đây phố xá hiền như cỏ
Có nỗi hồn nhiên giữa mặt người
ở đây cỏ sẽ hiền hơn phố
Bởi dưới chân em có mặt trời


Chiều
4. Em ơi nắng bỏ đường dài
Chiều hôm hiu quạnh ta ngồi ngồi ta
Giòng sông suối hở mặn mà
Tấm thân trinh bạch em là là ai
                                                     (1994)
                                             TRỊNH CÔNG SƠN

Dòng sông
Dòng sông không trong không đục
Dòng sông không bến không bờ
Dòng sông không dừng một phút
Thuyền tôi chuếnh choáng tỉnh say
Dòng sông đang chảy lên trời
Dòng sông đang tuôn từ đất
Những vì sao xa có thật
Và tôi cũng thật
Và tôi…!
Thuyền trôi không người chèo lái
Tim tôi vụng dại đưa đường
Ngoài tôi vô hình lực hút
Trò chơi tạo hóa khôn lường.
Dòng sông – dòng đời mê mải
Tôi cười tôi khóc thơ ngây
Tin vào con tim vụng dại
Chuếnh choáng – nào… sông!
Ta say.
                                             THẢO PHƯƠNG
  
Mùa xuân
Mùa xuân là một điều đã cũ
dâng trào lên từ những mạch lâu đời
Dù bóng tối còn trong đáy mắt
Dù mùa đông giăng rộng lưới cành.
Không cưỡng được chút lòng hớn hở
đã bước ra hy vọng tiếng cười.
Cái lạnh rớt hồng lên đôi má
chùm nước sáng và âm vang là những mắt
Tàu chuối non mềm theo giọng hát
Nhạc rơi không đếm nhịp mênh mang.
Suy nghĩ cũ tấm lụa nát nhàu
Tay trì trệ vẽ điều nhàm chán
Chân dung thật của lòng giả trá
Còn nhe răng cười cợt bao người.
                                             …
Nhưng quy luật của màu sắc xanh
Là tự nhiên đà sống buộc xoay vòng
Là sự thật không cần minh chứng
Ngàn kinh sách chỉ nói điều giản dị.
Xin giới thiệu với tôi và bạn hữu
Một mùa xuân đã cháy tự trong lòng.
                                             NGUYỄN ĐÔNG NHẬT

Đọc một bài thơ tình
Đó là bài thơ viết cho Lili
người đàn bà ông yêu suốt đời
người đem cho ông sự dịu dàng ông hằng chờ đợi
và cuối chặng đường
lại chính là người ấy
giọt sau cùng làm tràn cốc đắng cay đời ông
Tôi thấy ông đang chạy trên đường
đơn độc, đau thương, tuyệt vọng
người đàn bà kia xa xôi, lãnh đạm
còn hiểu chi cay đắng, giày vò
Gương mặt ông sắt lại, lặng tờ
đôi mắt gườm gườm nhìn số phận
trong đời mình, ông đã nhiều lần lựa chọn
phút cuối cùng, tất cả chỉ là không
Chỉ còn lại nơi ông, đến phút cuối cùng
lòng tha thứ dịu dàng, kiêu hãnh
trên dấu chân người đã ra đi
ông phủ kín những lời yêu mến
                                             Ý NHI

Còn một nửa mùa sen
Một nửa chiếc lá sen
không vẽ cho ta lối về cực lạc
để lại một nửa mùa sen
đang chìm dần vào sương khói
để em không nhìn thấy anh
từ một nửa mùa hoa đang tàn héo kia
để anh nhìn vào chính mình
từ một nửa đã khuất
dưới đáy sâu
còn một nửa chiếc lá sen đang thở
còn một nửa mùa sen khác
đang sống đời sống của chính chúng ta
Mùa cũ lá thay
những giấc mơ già nua
anh như con đường mỗi ngày một ngắn lại
anh như bài ca cũ
chút ánh sáng còn lại mỗi ngày một mòn đi
anh như hơi thở không còn tươi mới
không rung động nổi chính mình
sau nỗi đau không tên tuổi
giấc mơ cũ mùa thay những bóng cây già nua
                                             NGUYỄN VIỆT CHIẾN


Buồn vui
Còn gì đâu, còn gì đâu?
Còn chăng cũng chỉ mái đầu bạc phơ
Nhân gian ít cậy nhiều nhờ
Trận tiền tang hải tóc tơ cũng buồn
Trường giang xa lắc cỗi nguồn?
Đại dương vĩnh viễn mang buồn suối mơ
Niềm vui ai biết đâu ngờ
Nằm trong tử diệt nhớ giờ tái sinh.
                                             BÙI GIÁNG

Ngày xuân ở quán
Con gái ngày xuân như mới tắm
Buổi mai sương ướt cỏ hoa ngời
Lòng đá chợt mềm chao rất nhẹ
Nhớ mình vừa vượt tuổi ba mươi
Năm nay ăn tết cùng ông quán
Mồng một đời cay miếng mứt gừng
Chén rượu ngày xuân sao đắng miệng
Giang hồ nghe cũng đã đau lưng
Vẫn đi như một anh hành khất
Đuối sức nhưng quê đâu mà về
Ta sống một đời mây nhuốm bệnh
Bồng bềnh sầu đụn màu nhiêu khê
Sáng nay nghe pháo ran ngoài phố
Ngòi pháo đời ta cũng cháy ngầm
Thấy gái xuân tươi lòng cũng thẹn
Chuồn chuồn xếp cánh đậu bâng khuâng.
                                             VŨ HỮU ĐỊNH
  

Chúc phúc
Trời bỗng biếc hơn ngày cuối chạp
Giêng chưa sang
Sương khói rẽ đôi giòng
Hạt muối mặn thầm
Trong câu hát
Ơn nhau từ
Mỗi phút chờ mong
Về nhóm lại bếp chiều
Sắp nguội
Chia nhau từng ngụm gió
Đầu non
Xin thanh thản ngã thêm lần vụng dại
Nghe hoang vu dăm lá khép trong hồn
Dẫu hoa trái đã sang mùa thiếu phụ
Áo khăn xưa chưa nhạt
Dấu yêu đầu
Rượu chúc phúc đêm nay em hãy cạn
Cho xuân này
Và cả những xuân sau.
MƯỜNG MÁN

 Ủ hoa trong bàn tay
Sáng mai ngắm vầng đỏ
Ủ hoa trong bàn tay
Hương xưa hoài thương nhớ
Cầm bằng cơn mộng say
Trà nguội nhắp môi mềm
Hoa khô cười khúc khích
Đêm xa hoài tĩnh mịch
Người xưa còn chia phôi
Hái một chút mùa vui
Gửi cho người năm trước
Một bước… vài ba bước
Tri âm hoài… tri âm
                                NGUYỄN THỊ LIÊN TÂM

Say một mình
Ly này ta rót mời ta
Chưa uống đã thấy xót xa phận mình
Mới ngày nao tóc còn xanh
Mà nay đã bạc, đã giềnh, đã thưa.
Rót thêm ly nữa mời ai
Chia tay, mời bạn cõi ngoài vân du
Cỏ xanh đất mát ngàn thu
Trong hơi gió thoảng ai ru hồn người.
Chiều cuối năm lá vàng rơi
Ly này ta rót mời người áo xanh
Lòng mưa ngâu, nắng hong hanh
Vàng rêu mái lá, buồn tênh mây trời.
Ly này, em của ta ơi
Gươm quăng hố thẳm, ta mời ta sao
Ngựa hồng tung vó trời cao
Áo sồng xưa đã giũ vào hư không.
Lưng trời, giọt đại hồng chung
Quyện theo tiếng mõ mịt mùng, quạnh hiu
Vô ngôn, chiều ngẩn ngơ chiều
Vật vờ trôi giạt con diều đứt dây.
                                                         PHONG GIAO
                     
Tuyệt mù
Ta đi tìm thuốc trên trời
Mẹ ngồi bệt đất hát lời ru ta
Ầu ơ! Cá bống, cháo hoa
Ngọn rau, mắm muối, dưa cà… nhà quê
Con đường bến Lú cõi Mê
Đi trong vô vọng nẻo về đã quên
May còn sót lại hương sen
Từ trong giấc ngủ đêm đêm dỗ dành
Ta đi tìm sự vô danh
Chỉ gặp ngọn cỏ níu xanh nấm mồ
Cúi xuống nhặt được câu thơ
Chỉ là ngọn gió hư vô nhạt phèo
Mẹ ngồi thềm cũ sẫm rêu
Sao ta ngoảnh mặt đi theo tuyệt mù?
                                             LÊ MINH QUỐC

Ngày tháng
Tháng mười hai
đã qua rồi
Cớ sao
ta vẫn đứng
ngồi
đợi em
Tháng giêng
rón rén
bên thềm
Có mang
hương gió
dịu êm
xuân thì
Giờ mùa đông
đã ra đi
Thoáng qua
Khung cửa
xiêm y rỡ ràng
Ơ hay
Trời đã xuân sang
                                PHẠM THỊ QUÝ
   
Chuyện chiêm bao có thật
Ra đồng nằm ngủ bờ khe
Chợt bồi hồi tỉnh chợt nghe có người
Ấy người thôn nữ vui tươi
Nhe răng cười nói khiến tôi giật mình
Bởi em quá đẹp quá xinh
Gánh gạo từ xóm Vĩnh Trinh quay về
Về làng An Lộc? Mỹ Khê?
An Lâm? Lệ Trạch? Cận kề Thanh Châu?
Làng em chính thật Thanh Châu?
Chính là quê cũ từ đầu của tôi
Xa quê bốn chục năm trời
Nằm mê mộng mị bất ngờ thấy em.
                                             BÙI GIÁNG

Thời chiến
quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê
đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương
đường tôi đi có mùa hoa rụng
những cánh hoa màu tim tím xưa
có phải màu hoa trên áo lụa
bay bay chiều gió lộng em về
đường tôi đi có khói hoàng hôn
quyện trong mưa bấc sắt se buồn
có phải me tôi bên bếp cũ
đốt lò sưởi lạnh cuối mùa đông
ai bắn vào hồn tôi trái nổ
đứt từng mạch máu nát tim tôi
vỡ vỡ chiều nay tôi sắp vỡ
chiến tranh chiến tranh bao giờ thôi
                                             PHẠM CAO HOÀNG
                                                        1969
                      
Quê nhà
Dưới bầu trời thăm thẳm
Núi đồi lặng lẽ thở
Lạc trong đáy mắt
Những mùa xuân làm đảo lộn đời người
Anh lẫm đẫm lớn
Bên những tờ bạc cũ nhàu
Cát bụi có gương mặt của cát bụi
Anh luôn ngạc nhiên với gương mặt mình
Lũ trẻ ngày nào giờ đã thành người lớn
Lớp lớp khuất sau ngọn cỏ
Trên cánh đồng mây trắng
Mặt trời còn mãi lang thang
Như giấc mơ cuối chân trời
Luôn biến ảo
Anh khẽ gọi quê hương!
Và cánh cửa kho báu chợt hiện ra.
                                             TỪ QUỐC HOÀI
 
Thuyền lá
Trên sông một lá thuyền thoi
Muôn bè ngàn mảng mây trôi đục ngầu
Mây dày
Trời nặng
Nước sâu
Sông dài… chấp chới về đâu lá thuyền?
Chiều thu bảng lảng giang biên
Núi xa đột khởi lập nghiêm ngó trời
Rừng xa, đột ngột, gió rồi
Đầy sông rờm rợp lá trôi như thuyền
                                             PHẠM NGỌC LƯ
  
Khung mai
Mặt trời gieo nắm bụi hồng
Có nàng vác cuốc đi vòng bờ đê
Nhởn nhơ lúa mượt đồng quê
Con chim bói cá bay về bờ ao
Cổng trường ngàn tiếng lao xao
Xe ai chở ngói đi vào ngõ tre
                                             ĐỖ CHU THĂNG

Tháng giêng
Khi mùa xuân bay về
Tiếng tơ đồng còn vọng
Chạm ngõ vào giấc mơ
Thềm rêu xanh biếc mộng
Một đóa quỳnh tháng giêng
Hé mở miền cổ tích
Vầng trăng thanh đêm rằm
Soi xuống hồ lụa bạch
Một vuông cỏ thanh xuân
Lơ đãng ngày hò hẹn
Lá thư tình bâng khuâng
Thuở môi hồng mắt biếc
Một lối nhỏ mưa bay
Cánh chim chuyền thơ dại
Chở thời gian ngược dòng
Bay lạc vào huyền thoại.
                                             TÔN NỮ THU DUNG
  
Xuân trôi
Nắng không thức đợi giao thừa
Trống chuông gọi lửa dậy khua nến hồng
Ngày xuân về tới vàm sông
Chuyến đò trễ hẹn bềnh bồng trắng sương.
Tối ba mươi – phía cuối đường
Rạng mai mồng một mở hương khói trầm
Lá xuân biếc lộc tay cầm
Gió hân hoan thổi đầy năm ngoài vườn
Nhớ màu năm ngoái dễ thương
Cố đi tìm khắp đoạn trường thấy đâu
Chập chờn theo giấc chiêm bao
Tháng giêng mở cửa, rủ nhau lên chùa
Thẻ nhang đỏ cháy ngàn xưa
Vẫn còn khói tạnh qua mùa lễ giêng
Thời gian đâu thể giữ riêng
Nên mùa xuân vuột trôi ngiêng theo ngày.
                                             NGUYỄN BẠCH DƯƠNG

Tin nhà
Biết rằng từ lúc đi xa,
Nhớ hương đồng nội nhớ nhà ai ơi!
Đêm đêm nhìn lại khung trời:
Cố hương xa thẳm, suốt thời thanh niên.
Rối bời, lòng dạ chẳng yên,
Đọc kinh, lần chuỗi, linh thiêng, nguyện cầu.
Ngày trôi, tóc mẹ bạc màu,
Lưng khòm trong chiếc áo nâu phai màu.
Biết rằng đi giữa đêm thâu,
Vẫn nghe sóng vỗ chân cầu mênh mông.
Chưa về, ai đã sang sông,
Mẹ ơi, cô ấy lấy chồng rồi sao?
Thì thôi như hạt mưa rào
Rơi ngoài khung cửa thuở nào. Thế thôi.
                             TRẦN VẠN GIÃ

Đêm em pha lê
Giêng hai chài tuổi mộng
Bứt cành xanh em đi
Chát chua mùa ảo vọng
Dẫu vấn vương đương thì
Tháng tư dư chớp giật
Mùa mưa thừa vũng mê
Nói nhiều siêu cõi thật
Mắt đẹp khép phương về
Tháng mười rươi nổi bão
Trăm năm nằm đâu giường
Ruộng đá cày ốc đảo
Thuyền nan chiều đại dương
Chuồn chuồn kim phong vương
Ngự cành khô đổ lá
Cánh thiêu thân lơi lả
Tùng rinh rinh đèn đường
Quạ khoang choàng kín cửa
Biết đâu cầu yêu thương
Đêm em pha lê vỡ
Tung tóe hồn ly hương.
                                             HOÀNG CẦM

Chiều
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Mầu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây.
                                             HỒ DZẾNH
                                                              (1941)
  
Trái táo của tôi
Cuộc sống này, đôi khi
như một trái táo khó tính
không để ai cắn vào
còn răng tôi đã bị mài mòn
bởi những đám cháy của hoàng hôn tưởng nhớ
những tro bụi của nỗi buồn
cả những tín điều làm tê cứng cánh tay
của niềm vui sống không lựa chọn
Nhưng bằng đôi mắt của trái tim em
tôi đã nhìn thấy cùng lúc với nỗi ham muốn
trong tận cùng sâu kín của ánh sáng
và trong vẻ nhợt nhạt của cảm xúc muộn màng
cái hạt nhỏ bé, nguyên vẹn và yếu đuối
của trái táo bị xa lánh ấy
sẽ nảy sinh niềm vui
và nỗi yêu đời bất trị
Cuộc sống này, lắm khi
như một trái táo dậy thì.
                                             TẦN HOÀI DẠ VŨ
 
Huệ
Mất đến mười năm anh mới nhận ra mình đã mất
ngôi nhà có khung cửa tối
và ngã tư mưa bay mù trời những chiều về muộn
em ướt như con chim sẻ lông xù
lạnh run, cuống quýt nhấn chuông gọi cửa
mất đến mười năm tất cả những câu chuyện khôi hài ở đó
(nhiều bằng vô số mẩu vụn thuốc lá vất trên thềm)
mới ệ Hthật sự hiện ra gương mặt phiền muộn
của một tình yêu cũng muộn như ngày kịp hết
mà ban mai chưa bắt đầu
mất đến mười năm anh đi qua bao nhiêu đường phố
(Sài Gòn nhỏ bằng bàn tay)
anh mới tin đại dương có thật
đường chim bay có thật
trừ nước mắt tầm tã trên vai anh ngày ấy
không thật chút nào
phải mất đến mười năm anh mới biết
một nụ hôn dễ làm sao
mà không thể
mất đến mười năm anh mới thật sự tin rằng
ta có một tình yêu như hoa huệ
trắng tận khi
úa tàn.
                                             ĐỖ TRUNG QUÂN

Giọt xuân
Một hôm lãng xẹt mưa rơi
giọt thưa giọt nặng khiến đời có hiên
ta vào trú tuổi thanh niên
chưa hai thứ tóc đã quên thiếu thời.
Một hôm lãng xẹt mưa rơi
thất thanh ta gọi: em ơi, đỡ buồn
ngoài hiên: trẻ nhỏ bất lương
coi thường phụ nữ cởi truồng tắm mưa.
Trong hiên: người lớn chẳng vừa
nâng ly kể chuyện ngày xưa đa tình
ta ngồi gác cổng văn minh
uống một mình, thấy hai mình nghe em!
                                             BÙI CHÍ VINH

Sinh nhật
Thức dậy với một nụ cười
Gõ guốc từ nhà ra chợ
Ừ thì có mặt trên đời
Sinh nhật chỉ là cái cớ
Nửa ngày hờ hững đi qua
Bạn xa vô tình không biết
Bạn cũ cái nhớ phôi pha
Tự mình chúc mừng mình vậy
Hai mươi ba mươi bốn mươi
Hơi đâu ngồi đếm sợi bạc
Buồn vui rụng thưa tóc rồi
Tâm tư bây giờ cũng khác
Nửa vầng nắng đã vàng phai
Ngọn nến thời gian cháy nửa
Ra vào chưa hết ngày dài
Thì thôi khép lại cánh cửa.
                                         8-2004
                                      TÔN NỮ THANH YÊN

Rừng lá thay chưa
Anh đi, rừng chưa thay lá
Em về, rừng lá thay chưa
Phố cũ bây chừ xa lạ
Hắt hiu đợi gió giao mùa.
Xuân xưa, mình chung đôi bóng
Xuân này, mình ngóng trông nhau
Hun hút phương trời vô vọng
Nhớ thương bạc trắng mái đầu
Em có về qua phố cũ
Phố phường chừ đã đổi thay
Thương em nửa đời hoang phế
Thương ta chịu kiếp lưu đày.
Xuân nay, mình em lẻ bóng
Có còn tiếc nhớ xuân xưa
Dài tay đếm từng nhung nhớ
Em ơi, chờ phút giao mùa.
                                HOÀNG NGỌC ẨN
Kính tặng mẹ
Cả một đời sống với ruộng đồng
tám mươi tuổi mẹ về với đất
vẫn tấm áo nâu quen mặc
Mẹ ra đi
Mẹ chẳng dặn lại điều gì
mọi đau khổ, lo toan mẹ đem theo cả
Suốt một đời vất vả
Mẹ chỉ nhận phần mình một nấm mồ thôi
Mẹ ra đi rất nhẹ
tội cho con khi trở về nhà
không gặp mẹ, chỉ biết đến bên mồ, đứng lặng
giữa đồng chiều nắng đang tắt nơi xa…
                                          1984
                                           MÃ GIANG LÂN


Giao mùa
Em cười trong tiếng nấc của mùa thu
Khi đông đến cây âm thầm trút lá
Hoa úa tàn hoa bắt đầu thành quả
Lá rụng hoài lá sẽ thành thơ.
Em chợt buồn con mắt chợt ngẩn ngơ
Anh không nói chỉ thoáng nhìn bối rối
Ánh mắt ấy anh không sao hiểu nổi
Ngỡ lạnh lùng nhưng chứa chất yêu thương.
Hoa nghiêng mình nên đánh rớt giọt sương
Sương sẽ vỡ tan vào trong quên lãng
Và con đường mãi vàng theo năm tháng
Quên trên cây phút xao lãng đầu đời.
                        NGUYỄN THÁI THĂNG LONG
 

VU  VƠ
Nắng rắc trên sông
Bồng bềnh nỗi nhớ
Chân ai qua ngõ
Má đỏ môi hồng
Nắng rắc trên sông
Dáng chiều tha thướt
Mắt ai cài lược
Ta làm sao qua
Vu vơ con thuyền
Lòng ta lênh đênh
Nửa về nửa ở
Nửa dừng nửa đi
Vu vơ con thuyền
Lòng ta lênh đênh
Em về hong tóc
Sợi nào buộc chân
Ơi làn mi cong
Như nắng bồng bềnh
Như sóng chòng chành
Hỏi sao ta nhớ
Nắng rắc trên sông
Có gì đâu đó
Sao ta về nhớ
Dáng người không quen.
                                     LÊ THỊ KIM
Có đôi khi
Đôi khi ta ngồi bỗng nhớ
Bùi ngùi một cánh rừng xưa
Đôi khi ta ngồi thầm nhắc
Tên em rồi khóc một mình.
Bỗng dưng muốn về Lộc Tấn
Biết nay rừng đã yên bình
Biết nay chỉ còn mãi mãi
Ngậm ngùi một nấm mộ xanh.
Nhiều lúc ước mình trẻ lại
Chiều mưa khăn gói lên đường
Để được cùng em sống mãi
Một thời phiêu bạt gió sương.
                                 (Lộc Ninh, 10-1998)
                                        CAO VŨ HUY MIÊN


Tháng Hai

Tháng hai rét lộc
Lá bàng râm ran
Chuồn chuồn hoang mang
Từng bầy trôi dạt
Con sông trổ dọc
Cái cầu đâm ngang
Mây trắng miên man
Mặt trời cô độc
Gió bấc thảng hoặc
Mưa phùn lay phay
Em thì xa vắng
Ta còn… đâu đây.
                                ĐẶNG HUY GIANG

thu ngõ nhỏ
Mùa thu không nắng mang mang gió
Ngả tím lên màu tím mắt ai
Mùa thu vắng bạn se se nhớ
Thả lá
Hòm thư động ngõ ngoài.


ngõ nhớ
Mưa vừa qua trước ngõ
Nắng đã vàng nhớ nhung
Mơ gì làn nắng ướt
Đàn xưa dây đã chùng
Tôi biến thành tượng đá
Em đã về hư không.
                                     VÂN LONG


Mười năm hoa cúc
               (Gửi H.)
Tình cờ về ngang vườn cũ
Mười năm hoa cúc còn vàng
Nhoi nhói một thời nông nổi
Mười bảy vấp ngã tình tan.
Tình tang hát lời chim sáo
Mười năm bỏ phố lên rừng
Ngỡ tháng ngày dần khuất lấp
Về ngang vườn cũ… rưng rưng.
Rưng rưng lần theo nỗi nhớ
Cúc vàng vẫn màu vàng xưa
Mười năm chân trời góc bể
Giờ về đứng lặng dưới mưa.
                           NGUYỄN MINH CHƯƠNG

Không đề
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Những cây ổi thơm ngày ấy
Và vầng hoa ngâu mưa thu
Tóc anh đã thành mây trắng
Mắt em dáng thời gian qua
Ngày nay ngày nay
Chuyện đẹp qua đi
Thời gian gấp ruổi
Còn lại chúng ta
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp
Ơi! con đường xưa
Những mùa trút lá
Cành bàng mồ côi
Cổng cũ rêu phong
Ý đợi người
Ơi! con đường xưa
Men vườn ổi thơm
Em tuổi hai mươi
Yêu anh hào hiệp
Bỏ em, anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly
Có những vợ chồng
Không là trăm năm
Mà tình thương yêu
Sông ơi! Dài sao
Rộng ơi! Biển cả
Thôi em nước mắt
Đừng rơi lã chã!
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
Giữ trọn tình người cho đẹp
                        (“Không đề” – 1970 – rút trong tập
                            “Mây Đầu Ô”, NXB Văn học – 1987)
                                            QUANG DŨNG

Uống rượu
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà
Em còn ở với sơn hà
Anh còn mất hút gần xa mất hoài.
                                     BÙI GIÁNG


Vô đề

Em gửi anh bài thơ người khác
Trái tim em đã cạn nguồn
Ngày mai em không làm thơ nữa.

Em những tưởng
Tình yêu làm tượng đá rùng mình thức tỉnh
trong hạnh phúc làm người.

Hết bàng hoàng rồi
đá trở về bệ cũ
nét buồn ngưng lại trên môi.

Điều – có – thể đã trở nên không – thể!
Nắng lịm trên mắt đá vô tình
Chỉ còn lại hoàng hôn
và trái tim đau
không biết mình đau nữa.
                                         (1988)
                                          THẢO PHƯƠNG

Hương cốm tới trường

Hương rừng thơm đồi vắng
Nước suối trong thầm thì
Cọ xòe ô che nắng
Râm mát đường em đi.

Hôm qua em tới trường
Mẹ dắt tay từng bước
Hôm nay mẹ lên nương
Một mình em tới lớp.

Đường xa em đi về
Có chim reo trong lá
Có nước chảy dưới khe
Thì thào như tiếng mẹ.

Trường của em be bé
Nằm lặng giữa rừng cây
Cô giáo em tre trẻ
Dạy em hát rất hay.

Mũ rơm thơm em đội
Hương cốm chen hương rừng
Mỗi lần em tới lớp
Hương theo em tới trường.
                                            
                                      MINH CHÍNH
                                               

Chẳng hay
Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê
Ta đi, xưa gió đưa vài dặm
ta đi, xưa mưa ướt vừa căm
quê nhà ngoảnh lại mờ trong gió
hình như không đủ buồn trong lòng
Ta đi, có những ngày khô héo
chẳng nhớ quê nhà, chẳng muốn về
mẹ, chị, đàn em như bóng khói
nương với đời ta quay quắt trong mê
Chiều nay không hẹn ta lại về
mùa đông dài vẫn níu chân quê
ta về gió đón phong sương lạnh
ta về, mưa đón ta về quê
Thôi chẳng về chi thôn xóm quạnh
nhà xưa giờ chắc cũng điêu tàn
đứng đây, đường cái quan bên núi
ta cũng đã trầm lòng mê mê.
                                   VŨ HỮU ĐỊNH
 

VŨ HỮU ĐỊNH
Tên thật: Lê Quang Trung
Sinh năm 1942 (Nhâm Ngọ) tại Huế.
Sinh sống tại Đà Nẵng
Anh làm thơ rất nhiều, có thơ đăng trên nhiều tạp chí văn chương.
(Có bài thơ nổi tiếng “Còn một chút gì để nhớ”, Phạm Duy phổ nhạc). Anh qua đời vào tháng 1-1981, tại Đà Nẵng.
Tác phẩm đã xuất bản:
      - Còn một chút gì để nhớ, (1996)
      - Thơ Vũ Hữu Định, (2006).

Còn một chút gì để nhớ
phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.
                                            VŨ HỮU ĐỊNH
                                         * * *

Đò ngang
Cứ ngồi ngó mãi ra sông
Trông con đò khách giữa dòng lại qua
Ta về, ai bước chân ra
Có ai về ở cùng ta chốn này
Quê hương mộng dữ bao ngày
Đã xanh phơi phới màu cây cổng làng
Chạnh lòng, ngó chuyến đò ngang
Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu
Tiếng kêu của những buổi chiều
Trăng treo mái quán ngày xiêu dốc rừng
Đi về – lòng cứ lâng lâng
Nơi đây quê thấp nhớ rừng quê cao.
                                       VŨ HỮU ĐỊNH

Đứng giữa đồng không

một bầy sáo nhỏ qua sông
một em tôi đã cầm lòng đi xa
như con sông nhỏ thật thà
sớm hiu hắt tạnh, chiều sa mưa nguồn
một bầy sáo nhỏ đi luôn
một em biệt tích để buồn lại đây
con chim quyên bỗng lạc bầy
xuống sông vọc nước đợi ngày xế ngang
một bầy sáo nhỏ bay hoang
một em tôi đã bỏ làng đi xa
tôi ngu ngơ giữa chiều tà
em đi để lại mình ta giữa đồng.
                                   VŨ HỮU ĐỊNH


    Hát trên núi

      Tay đan tay, chiều muộn rồi
Nhạc trôi dưới phố nắng ngùi trên cây
      Mắt đan mắt, cay nồng cay
Sương giăng lũng thấp nhớ đầy lên vai
      Môi đan môi, nụ hôn dài
Rẩy run đôi cánh hoa mai chợt vàng
      Đồi lang thang, núi lang thang
Dắt nhau về thuở hồng hoang hai người
      Tóc đan tóc, bời rối bời
Trăng trôi qua phố mây rời rã mây
      Ngủ đi thôi, ngọn cỏ may
Tim anh hãy tựa những ngày còn xanh
      Ngủ đi thôi, con chim oanh
Giữ ngoan tiếng hát dỗ dành mai sau
      Núi cắt rốn, đồi chôn nhau
Đi đâu cũng nhớ quay đầu về non.
                                                MƯỜNG MÁN


Vầng trăng

Vầng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
Để tóc vướng vần thơ sầu rụng,
Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo
Năm năm tiếng lụa xe đều
Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng
Thời gian lặng rớt một dòng buồn tênh
                                         (1942)
                                          LƯU TRỌNG LƯ


về lại đồng bằng

Giờ không còn biển ru tôi
Vẫn nghe tiếng sóng bồi hồi thiết tha
Tưởng như núi mọc quanh nhà
Ngờ đâu núi biếc lại là cây xanh
Trở về sóng lúa reo quanh
Lại ru tôi với âm thanh ngọt ngào
                                 HẠC THÀNH HOA


trăng biển

Một vầng trăng từ đêm ấy nhô lên
Biển nở một đóa hoa vàng rực
Đêm hôm ấy bầu trời lót kính
Hơi thở nồng nàn của biển bên tôi
Biển mát rượi làn da con gái
Trăng tắm vừa xong
Quấn quanh một làn sương như voan mỏng
Mây rút hết về chân trời
Biển thì lặng mà lòng mình nổi sóng
Chỉ còn trăng – tôi và – biển
Trên bãi cát lõa thể
Tôi cõng trăng chạy một đêm
Biển tràn ngập tôi
Đêm hôm ấy.
                                         (1990)
                                         HẠC THÀNH HOA
























M. MONROE (1960)