Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút LÊ VĂN THIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy bút LÊ VĂN THIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

2 thg 3, 2013

NGÔI NHÀ TRÊN ĐƯỜNG HỒNG BÀN


        Tôi gặp nhà văn Võ Hồng lần đầu vào năm 1964. Một chiều hè năm đó, tôi đến nhà ông, trên đường Hồng Bàng, Nha Trang. Để thực hiện cuộc gặp này, tôi đã cố gắng chế ngự cố tật nhút nhát của mình. Tôi cứ nghĩ: “Mình biết gì mà đòi chuyện trò với người lớn? Bàn về văn học, về kinh tế chính trị, hay về ái tình? Mệt à!”.
        Thầy Võ Hồng vui tính, nói chuyện hoạt bát, cởi mở. Thầy đưa tôi xem mấy tờ báo Sài Gòn mới đăng truyện của thầy. “Sách báo đấy, muốn đọc gì em cứ tự nhiên”. Một nhà đầy sách, báo. Căn phòng rộng không có bàn tủ đắt tiền. Vài bức tranh cũ trên tường. Mấy cuốn lịch. Báo la liệt trên sàn, trên bàn, dưới đi văng. Giá sách thật lớn, choán kín một bức tường. Có nhiều sách tiếng Pháp. Thầy yêu thích văn chương Pháp. Thầy nói, đó là một phần tư trí tuệ thế giới. Thầy nói qua về hai tập truyện đã xuất bản: “Hoài cố nhân”, “Lá vẫn xanh”, và cho biết cuốn thứ ba đã viết xong, sắp in. Thầy bảo, đang cố gắng tập cho mình quen với việc viết đều đặn, theo thời khóa biểu, không ngồi chờ cảm hứng. “Cái gì cũng có thể quen cả, tôi nghĩ rằng tôi sẽ theo được cách viết ấy… nhờ đó ta có thể viết nhiều, thắng được thói chần chừ, lười, chậm”. Thầy hỏi tôi thường đọc sách gì, thích những tác giả nào. Tôi nói, tôi thích Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, và nhận xét văn thầy vừa giống Nguyễn Công Hoan vừa giống Thạch Lam. Thầy cười: “Mình cũng yêu hai vị, nhưng mình phấn đấu để không giống ai cả”. Thầy bảo, khi có bài mới, nếu muốn thì tôi đem đến đây, thầy đọc và góp ý cho. Bây giờ, điều cần thiết là học và đọc. “Em nên chịu khó đọc, đó là một cách học. Sách vở sẽ chỉ dạy chúng ta tận tâm… Ráng lên, rồi em sẽ thấy viết được là một hạnh phúc lớn. Trên đời không gì sướng bằng viết xong một bài báo, một truyện ngắn, một bài thơ”.
*
        Giữa năm 1969 tạp chí Văn in cho tôi tập truyện ngắn đầu tay “Một cách buồn phiền”. Từ Sài Gòn tôi gửi cuốn sách còn tươi màu mực về Nha Trang tặng nhà văn Võ Hồng. Ít lâu sau đó tôi đã đọc thấy bài điểm sách của ông trên một tạp chí, viết về tập truyện của tôi. Có thể nói đây là một bài giới thiệu hơn là phê bình. Toàn những lời khen tặng. Những nhận xét ưu ái của người thầy, ông chú dành cho một trò nhỏ, một đứa cháu mới vào nghề. Lúc này Võ Hồng đã nổi tiếng, đã xuất bản ba tiểu thuyết, bảy tập truyện ngắn. Trong số đó cuốn “Hoa bươm bướm” được bạn đọc chào đón nồng nhiệt. Sách ông phần nhiều do hai nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm in. Những cuốn sách sang trọng, in đẹp, trình bày trang nhã, nhìn qua đã muốn mua. Tôi thích nhiều truyện trong hai tập “Con suối mùa xuân” và “Những giọt đắng”. Võ Hồng viết thận trọng, dung dị, trong sáng; chăm chút đến từng cái tên người, tên đất. Văn ông súc tích, có nhiều nhận định, phát hiện thú vị, hóm hỉnh, bất ngờ về con người, về đời sống. Đặc biệt, ông viết thật hay về tầng lớp trung lưu thành thị và nông dân. Ông khắc họa thành công nhiều nét mặt của những nhân vật vốn nằm trong số đông thầm lặng, những người sống giữa đời thường mà thoạt nhìn chúng ta cứ ngỡ chẳng có gì đáng để nói đến. Đọc truyện, ta thấy họ như hiển hiện trước mặt, đi đứng nói cười sinh động, mỗi người một vẻ… Ông viết về miền quê, đồng ruộng, dân cày với tình cảm trìu mến, bằng giọng văn tươi tắn, thấm đẫm ý tình hoài niệm.
        Vào khoảng thời gian này hễ có dịp đi ngang Nha Trang là tôi ghé lại Hồng Bàng thăm nhà văn. Tôi thích đến đây chủ yếu vì tính ông dễ chịu. Khỏi giữ kẽ phiền phức. Không khách sáo mệt mề. Ông chỉ chiếc võng và cái ghế xếp, bảo tôi lấy báo tới đó nằm đọc, vừa đọc vừa trò chuyện, chừng nào chán thì về. Thỉnh thoảng ông còn mời cơm, đãi cà phê. Ông kể tôi nghe nhiều giai thoại văn chương lạ và vui. Ông phân tích, phê bình những cuốn truyện hay mới ra lò. Ông có nhiều nhận xét hài hước, ý nhị về các nhà văn, các ông lớn đang lên chân hoặc đang múa may, làm trò, to tiếng ở Sài Gòn… Nếu cần chỉ bảo, ông nói khéo léo, không dùng giọng của thầy giáo lên lớp: “Về việc này chúng ta nên… Ở điểm này mình nghĩ rằng chúng ta cần…”. Và tôi nhớ điều ông lặp lại nhiều lần: “Có câu hỏi khó mà người cầm bút phải tìm cách trả lời: viết sao để sau này, vài trăm năm nữa, người ta vẫn tìm đọc mình”.
        Hơn mười lần tôi đến thăm ông, lúc nào cũng có ông ở nhà. Không ngồi tại bàn viết thì nằm võng đọc sách. Đọc hoặc viết, dường như ông chẳng làm gì khác. Nhà lúc nào cũng yên tĩnh, vắng lặng. Những người bà con của ông ở phòng bên cạnh đi lại nhẹ nhàng, lặng lẽ. Họ nói khẽ, không cười đùa. Những bữa cơm của nhà văn có vẻ đặc biệt, nó gọn nhẹ quá mức. Một mâm nhỏ. Ông ngồi một mình bên mâm cơm trơ trọi. Đã lâu, quá lâu rồi, ông không có bữa cơm gia đình.
        “Không nhiều thì ít, em nên viết thường xuyên, nếu nghỉ lâu ngòi bút sẽ yếu, ngượng, han rỉ”. Những lời động viên, chỉ dạy của ông tôi vẫn nhớ, nhưng chẳng thực hiện được mấy. Phần vì sống xa thành phố, phần do kém ý chí, do việc mưu sinh nhọc nhằn, cây cuốc đè nặng trên vai nên tôi chỉ sản xuất cầm chừng; lâu lâu được cái truyện ngắn, lắm khi cả năm bói không ra một chữ… Những năm gần đây, mỗi khi ghé lại Hồng Bàng, để tránh trả lời câu hỏi của nhà văn: “Có viết gì không anh bạn”, tôi chủ động hỏi trước: “Thầy có viết được bài nào mới không?”. Và chúng tôi lại xáp vào nói chuyện văn chương, sách báo như đã từng nói mấy mươi năm qua… Ngày tháng trôi đi thản nhiên, nhịp nhàng. Tuổi tác vô tình phủ chụp bụi tro tàn úa xuống đầu con người, không chừa một ai. Nay tôi cũng đã bước vào tuổi xế chiều, huống chi ông. Cho nên bây giờ nhìn thấy ông còn khỏe mạnh đã là điều đáng mừng.
        Thầy Võ Hồng bị nhũn não, nhiều năm qua nằm một chỗ. Bài này tôi viết trong dịp mừng ông thượng thọ 80 ./.

3 thg 10, 2011

NHỮNG LẦN ĐẾN THĂM


       Lần đó, sau mấy năm đi xa, một ngày cuối tháng Giêng năm 1972, tôi về quê thăm mẹ. Như thường lệ, trước khi về nhà, tôi ghé Nha Trang thăm thầy Võ Hồng và mấy anh bạn thân. Bấy giờ, nhằm vào những ngày cận tết Nhâm Tí, thành phố náo nhiệt, rộn ràng, nhưng con đường Hồng Bàn vẫn tĩnh mịch.
Thầy Võ Hồng cặm cụi đọc, viết trong căn phòng đầy ngập giấy má, sách báo, như tôi từng thấy trong những lần thăm trước. Thầy vẫn sống một mình… Chúng tôi trò chuyện say sưa. Thầy nói về tình hình báo chí, xuất bản; về các ý tưởng cho cuốn sách đang viết; về nét độc đáo của một cây bút nữ mới xuất hiện; về những diễn biến mới trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Sài Gòn. Sau đó, tôi đến võng nằm đọc báo. Nói chán, thầy tiếp tục làm việc. Chúng tôi thân quen nhau, nên không bị các hình thức xã giao ràng buộc.
Thầy gọi tôi là “em”: “Em nhận xét cuốn Trầm mặc cây rừng thế nào? – Em đọc cái truyện mới của tôi trên Bách Khoa chưa? – Trong số các cây bút biên khảo hiện nay, em thấy ai vững nhất? – Ít người viết cho thiếu nhi, vì nó khó, hay bởi người lớn không quay trở lại làm trẻ con được?” Tôi gọi ông là “thầy”: “Trong các nhân vật nông dân của thầy, em nhớ mãi ông Túc – Thầy gắn bó với nhà xuất bản Lá Bối là phải, vì tâm hồn thầy trong trắng – Thầy viết về phụ nữ như thể ve vuốt, âu yếm họ. Thầy nói về họ bằng giọng dịu dàng, trìu mến, chắc là do thầy chỉ nhìn thấy mặt sáng của họ, hoặc vì thầy được sống với họ ít quá!” Tôi đùa. Thầy cười. Thầy nói nhỏ nhẹ, lắm lúc không nghe được, và thường chêm nhiều câu tiếng Pháp.
Tôi thích đến thăm thầy, để thấy mình nhỏ dại. Có lần tôi hỏi: “Em ở chơi hơi lâu, phiền thầy không?”. Thầy nói: “Lâu gấp hai, gấp ba cũng được... Sống thế này thoải mái, nhưng nhiều lúc cũng buồn, thấy mình như con ốc. Con ốc cô đơn, lâu lâu thò đầu ngó ra đường, ngắm người, xe giây lát, rồi thụt vào khoanh tròn trong cái vỏ quen thuộc!” Thầy kể về thời trai trẻ của thầy ở miền quê Ngân Sơn (Tuy An – Phú Yên); những mẩu chuyện, những tập tục, cách sinh hoạt có vẻ kỳ lạ, thú vị, ngộ nghĩnh của dân làng hồi đó. Thầy đưa tôi xem mấy bài thơ nho nhỏ viết cho thiếu nhi: “Đây là những lời tôi tâm sự với tôi, viết để con người mình tươi trẻ lại đôi chút.” Tôi hỏi về các con thầy ở Sài Gòn, ở Đức. Thầy nằm trên ghế xếp, vẫn mang kính, nhắm mắt, nói: “Hôm qua đọc báo tôi gặp mấy cái chữ tức cười… Em thấy không, tiếng Việt có nhiều chỗ tinh vi, lắt léo, như từ “lợi hại” chẳng hạn. Nhắm mắt làm liều không cần biết lợi hại khác nghĩa với Sắc đẹp là thứ vũ khí lợi hại... Cái “lợi hại” sau đồng nghĩa với gì?” – “Dạ, nguy hiểm.” – “Đúng, tốt, 17 điểm!” Thầy nói lớn, và cười sảng khoái. Im lặng khá lâu. Thầy vẫn nằm yên, nhưng chắc không ngủ. Bỗng thầy nói, quay lại với chuyện 17 điểm: “Ít người cho văn 20 điểm, thường là mười bảy, mười tám. Hai, ba điểm thầy cô cất lại đó nhằm giữ cho đầu óc các em quân bình, khỏi bay bổng, kiêu căng.” Thầy động viên tôi: “Có truyện em viết giống Daud.” Tôi không mừng vội, biết là thầy “bơm” mình. Tôi đùa: “Em lười mà lại muốn nổi tiếng, làm sao, thầy?” Thầy đáp: “Ai cũng muốn nổi cả, nhưng muốn mà lười thì... khó đấy! Em làm tôi nhớ chuyện ngụ ngôn...” Về việc khen chê, phê bình, thầy bảo: “Người ta phê mình, cũng nên đọc, nhưng chớ coi đó là quan trọng, ghê gớm. Bị chê lắm khi có lợi, còn khen thì... chắc em cũng biết câu: lời khen như nước hoa, chỉ nên ngửi, không nên uống.”
Sau buổi ấy, mãi đến cuối năm 1988, mười sáu năm sau, tôi mới gặp lại nhà văn. Biết bao dâu bể. Tôi đã ngoài bốn mươi. Thầy đã già. Tôi đã trải qua chặng đường giông bão nhất trong đời mình. Thầy thì ốm, cao, xanh, như một người khác. Tôi kể thầy nghe chuyện mình đánh vật với cái cuốc như thế nào để kiếm miếng ăn, đã vượt qua những năm khủng hoảng như thế nào để gượng dậy được.
Thầy sống một mình, giữa đống sách báo này lâu biết chừng nào. Hơn ba mươi năm rồi đấy. (Cô mất sớm, năm 34 tuổi, các con thầy ở xa). Thầy vẫn chăm chỉ đọc và viết. Đường Hồng Bàng vẫn là con đường nhỏ. Thầy vẫn ở ngôi nhà này, nhưng có khác là bỏ căn phòng trệt, dọn lên gác cao, một cái gác nhỏ hẹp như chiếc lồng chim lớn... Thầy mới in được thêm hai ba cuốn truyện, trong số đó tôi thích tiểu thuyết Thiên đường ở trên cao. Thầy đưa tôi xem xấp thư của bạn đọc gởi về. Thầy bảo: “Nói gì thì nói, em nên cố gắng viết. Có tác phẩm kha khá sẽ được đời nhớ. Cuộc sống bao la, thiếu gì đề tài... Viết, không thì già, uổng lắm.” Có khách tới thăm, hai nam hai nữ, đều là học trò cũ của thầy. Họ nói nhiều, cười to, làm căn phòng nóng lên. Họ khen thầy đẹp lão, khen cái lồng chim mát mẻ, yên tĩnh. Ở chơi khoảng một tiếng, họ chào từ biệt. “Cái gì các anh chị ấy cũng khen, tôi sợ lắm.” Thầy nói... Tôi ăn cơm trưa với thầy. Trong bữa ăn, một ý nghĩ cứ quay đi quay về trong trí tôi: nhanh thực, lần trước đến đây mình mới hăm lăm. Thầy thanh toán ba lưng chén cơm một cách vất vả, trong hơn nửa giờ đồng hồ.
Người ta nói đúng: tháng ngày qua nhanh, như chớp mắt ./.

                                                                                                          (1991)