Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện LÊ VĂN THIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện LÊ VĂN THIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

9 thg 9, 2011

HÔM QUA NÓ CÒN ĐI HỌC


       Mỹ Dung đến lúc tôi đang loay hoay chấm bài. Vốn là chỗ quen thân nên sau khi chào hỏi, Dung tới ghế bành ngồi đọc báo, tôi tiếp tục làm việc…
       Chấm xong bài cuối cùng, tôi hỏi:
       “Sao sáng nay cháu không đi học?”
       “Thưa, cháu bận việc nhà, xin nghỉ ạ.”
       Mỹ Dung là bạn thân của Thiên Thanh, con gái tôi, đang học lớp mười một.
       “Cháu đọc báo gì đấy?”
       “Thưa chú, Đôrêmon ạ.”
       Tôi cười:
       “Cháu qua thời Đôrêmon rồi đấy. Phải đọc Mực Tím; Hoa Học Trò chứ?”
       “Dạ, cháu mua thường xuyên Tuổi Hồng, Áo Trắng. Và cháu cũng đọc cả Tiền Phong, Thanh Niên của anh Duy nữa. Cháu ráng đọc nhiều vì cháu yếu văn… Nhưng nếu nói về ý thích thì cháu thích các bộ truyện tranh: Tây Du, Đôrêmon, Tam Quốc…
       Mỹ Dung cười. Tôi cũng cười.
       “Dạ, có thể nói, cháu chưa được lớn lắm!”
       Tôi đưa một bài tập làm văn cho Dung xem:
       “Cháu đọc thử bài này, của đệ tử ruột chú, hay nhức nhối.”
       Đọc xong, cô bé hít hà, trầm trồ:
       “Quá hay, như các bài văn mẫu. Lớp tám mà viết tuyệt thế này?”
       Ngẫm nghĩ một lúc, Dung nói: “Cháu đọc nhiều sách tập làm văn,vô số bài mẫu, nhưng sao cháu viết vẫn không hay. Trọn năm lớp mười cháu chỉ được một bài văn 6 điểm… còn năm nay… Cháu thấy văn là môn khó nhất, chú ạ.
       “Chắc thế, nó rộng, lại có tính “co giãn”, cho nên đôi khi hơi phức tạp!”
       Mỹ Dung lấy trong mũ ra một chiếc phong bì màu hồng.
       “Nhờ chú trao giùm cái thiệp cưới cho Thiên Thanh”
       “Thiệp hồng? Ai thế, Dung?”
       “Thưa chú… của cháu ạ.”
       Tôi hết sức ngạc nhiên. Nói cho đúng là tôi sửng sốt. Dung lấy chồng! Thật sao?… Nó còn nhỏ quá. Sao tôi chưa hề nghe Thiên Thanh nói tới chuyện này? Lúng túng, bối rối, tôi hỏi Dung dồn dập: “Chuyện này bắt đầu từ bao giờ? Cậu ấy là ai, làm gì, ở đâu?” Dung nói lí nhí, ấp úng, tôi chỉ nghe loáng thoáng: “Ông ấy là… má cháu nói… má cháu bảo… ở Tân Thành.”
       Mỹ Dung ra về. Tôi ngồi phịch xuống ghế, nhìn chồng truyện tranh bừa bộn trên bàn. Tôi chẳng nghĩ được gì. Tôi vẫn còn ngạc nhiên.
       Chừng nửa giờ sau, Thiên Thanh về. Tôi phẩy phẩy tấm thiệp, chờ xem phản ứng của nó:
       “Con có thiệp mời ăn cưới”
       “Của Mỹ Dung phải không, ba? Con biết rồi.”
       “Chính Dung đem đến. Nó chờ con khá lâu.”
       “Chúng con cũng mới biết sáng nay, ba ạ. Mỹ Dung giấu kỹ… Trời ơi, tội nghiệp nó biết chừng nào.”
       Tôi lại cảm thấy bối rối.
       “Bốn hôm nữa Dung lấy chồng. Thật thẳng khác gì chuyện con gà đẻ ra cái thúng! Ba biết không, chồng của nó, một ông ngót nghét bốn mươi, có hai con.” – Thiên Thanh nghẹn lời. “Ông ta không có vợ, nhưng không phải góa vợ. Bà vợ bỏ đi đã lâu, biệt tăm, vì không chịu nổi sự hà khắc… Ông ấy cộc cằn, hung tợn, mắng chửi vợ luôn mồm.”
       Tôi nghe, và cứ nghĩ “thật vậy sao… lẽ nào như vậy”.
       “Biết thế, nhưng vẫn nhào vô. Nhắm mắt lăn vào, cố đấm ăn xôi… Nhưng tụi con biết đây là quyết định, là sự tính toán “cao siêu” của mẹ Dung. Nó có biết gì đâu. Nó mới mười bảy… Người ta nói, ông ấy giàu nhất nhì Tân Thành, có nhiều xe chở khách, có nhà máy nước đá.. Rõ ràng nó liều mình lấy cái nhà máy nước đá và mấy chiếc xe đó.
       Thiên Thanh tới bàn, ngồi úp mặt xuống chồng sách, dường như nó khóc. Lát sau, nó nói: “Tối qua Dung đến từ giã cô Hồng, giáo viên chủ nhiệm, cô trò ôm nhau khóc mùi… Thời nay mà còn gả bán kiểu ấy, như cách đây nửa thế kỷ… Mỹ Dung đáng thương… Trời ơi, hôm qua nó còn đi học!”
       Tôi xuống nhà dưới rửa mặt, thấy rằng mình vừa biết thêm một chuyện thuộc loại “vô lý mà có thật”./.

GIAN NAN MỘT ĐỜI



       Mồ côi cha mẹ, được một người bà con nhận nuôi, từ bảy tuổi ba tôi đã đứng đồng, chăn trâu. Và đến lúc có sức, cầm được cái cày thì ông bắt đầu cày cuốc, gieo gặt, làm lụng quần quật trên đồng quanh năm.
       Rồi ba má tôi gặp nhau, thương yêu nhau, tự sống chung dù không được sự đồng tình của hai gia đình, bởi… không hạp tuổi. Đến đây, một nổi khổ mới xuất hiện, bám riết lấy ba tôi: khổ vì con. Má tôi sinh ba người con đầu đều chết yểu, nên khi sinh tôi ra, ba tôi chạy ngược chạy xuôi từ am này đến đền nọ, quỳ lạy mòn gối tại nhà các thầy pháp, ông đồng bà cốt. Ông đặt cho tôi cái tên xấu xí, đeo vào cổ tôi đủ loại vòng bạc, bùa phái… Tôi là con cầu tự nên được yêu quý, nuông chiều cũng dễ hiểu.
       Năm bảy tuổi, tôi đi học. Tôi học tạm được, dạng trung bình, “mỗi năm lên một lớp.” Chỉ như thế cũng đã đủ để ba má tôi vui thích. Ba tôi rất quan tâm đến việc học của tôi. Tháng nào ông cũng hỏi tôi được xếp thứ mấy, và trong số các bạn trong làng tôi hơn đứa nào thua đứa nào. Có lần, gặp lúc vui ông hỏi: “Những khi học bài không thuộc, thầy phạt cách nào?” – “Dạ, phạt quỳ úp mặt vào tường, hay lấy thước kẽ quật lên tay.” – “Có đứa nào đau quá khóc không?” – “Dạ, thường lắm ạ.” Ông cười: “Phạt như thế nhẹ hều, khóc là yếu. Nếu gặp ba thì thầy cô đánh gãy thước ba cũng chẳng nhúc nhích!” Ngẫm nghĩ một lúc, ông tiếp: “Hồi nhỏ ba cứ ao ước được đi học vài hôm cho biết.” Và ông bảo tôi: “Con ráng, ba sẽ cố gắng cho con học xong ở đây rồi lên tỉnh… Ba không được đến trường, con học luôn phần của ba.” Tuy không mặc áo học trò ngày nào nhưng ba tôi cũng đọc được sách, biết làm bốn phép toán, nhờ mày mò tự học. Khi tôi lên lớp nhì (lớp bốn) thì ông nói đến cái ước mơ lớn: “Con ốm yếu, không hợp với nghề nông, nên chăm học để sau làm thầy giáo… Nghề dạy học khó giàu nhưng thơm tho, nhàn nhã.”
       Ba năm cuối bậc tiểu học, tôi lên học tại một trường tư ở thị trấn Vạn Giã, cách nhà tám cây số. Đi với tôi còn có năm bạn khác cùng xóm. Chúng tôi đi xe đạp, sáng lên chiều về, vì ngày học hai buổi. Ngày nào má tôi cũng dậy sớm, nấu cơm cho tôi đem theo ăn trưa. Vào các tháng mùa đông mưa gió, trời mau tối, chiều nào ba tôi cũng đi bộ ba cây số vào dốc Ké đứng đón tôi, bởi quãng đường rừng đó vắng vẻ. Ba tôi không coi chuyện đưa đón là cực khổ… Ông thường nói với má tôi: “Chiều đứng trước sân, dòm thấy cu Cọt đạp xe về là tôi sướng, bao nhiêu nhọc mệt trong ngày tan biến hết.”
       Đúng như ba tôi nhận định, càng lớn tôi học càng khá. Giữa năm 1970 tôi tốt nghiệp tiểu học, hai tháng sau tôi đậu vào lớp sáu. Năm anh bạn cùng làng đều nghỉ cả. Gia đình họ ngại lên tỉnh, đi xa, tốn kém… Vào được trường trung học ở Thới Bình là điều vui mừng lớn. Có thể nói, tôi đã đạt hai mục tiêu: được học trường công khỏi đóng học phí, và bước đầu thực hiện ước vọng của ba tôi: nhắm đến cổng trường sư phạm.
       Lên trọ học tại thành phố tôi sống chật vật vì nhà gởi cho tiền ít. Nhưng tôi không buồn vì biết đây là toàn bộ sức lực, khả năng của cha mẹ.
       Ở phố nhưng tôi nhớ nhà khôn nguôi. Nhiều lúc, vào xẩm tối, tôi nghĩ: giờ này ở nhà chắc ba đang chuẩn bị đi biển soi cá, má lùa gà vào chuồng. Rạng sáng, tôi đoán, chắc má đang nấu cháo heo, ba ôm rơm cho trâu ăn… Đi trên đường phố Thới Bình thỉnh thoảng gặp những người đàn ông dưới quê mới lên – nhìn cách ăn mặc, dáng đi của họ là biết – tôi lại thấy hiện ra trong đầu hình ảnh ba tôi gánh bốn thúng cá hấp chạy trên đồi cát Đầm Môn. Trong những ngày rảnh việc đồng (thường vào mùa nắng), ba tôi xuống các làng đảo mua cá hấp về bán. Công việc này lời khá, nhưng vất vả. Mỗi chuyến đi mất ba ngày. Ba phải gánh bốn thúng cá đầy ngộn, chạy trên những đồi cát thấp, xa khoảng sáu cây số, trên đầu nắng gắt, dưới chân cát nóng… Về lại đất liền, ba tôi vào các làng xóm xa biển rao bán. Ba tôi làm toàn những việc nặng nhọc.
       Năm tôi học lớp tám, ba tôi lâm bệnh, một chứng bệnh ngặt nghèo. Mới vài tháng, từ một người lực lưỡng, ông biến thành hình nộm gầy gò xanh bủng. Cây cột trụ lung lay, nhà tôi rúng động. Nằm trên giường bệnh, ba tôi vẫn lo cho vợ con. Ông than: “Lỡ tôi không mạnh lại thì tính sao đây? Bà chẳng quen làm nặng, lũ nhỏ còn bé quá… nhà cửa ọp ẹp thế này… Chắc khó có tiền để thằng Cọt học… Ông trời ác quá.” Má tôi sợ cuống nhưng bất lực, chỉ biết ngồi nhìn.
       Ba tôi mất lúc mới 46 tuổi. Của cải quý nhất ông để lại là tám thửa ruộng một vụ và bảy con trâu. Trước đó ông đã bàn với má tôi: “Ta tính một đàng ra một nẻo. Giờ bà ráng xoay xở nuôi con. Ruộng mướn người ta cày, làm kiếm gạo. Trâu thì bán, cất lại cái nhà cao ráo hơn một chút, và cho thằng Cọt học ít năm nữa… tội nghiệp nó, chắc khó theo được đến thành thầy giáo.”
       Sau ngày ba tôi qua đời, tôi học thêm hơn một năm nữa, rồi phải nghỉ. Chỉ nội việc kiếm cho ba anh em tôi ăn no, má tôi đã đuối, nói chi tới chuyện cao hơn.
       Việc học của tôi dở dang, tôi không được vào trường sư phạm như mơ ước của ba. Nhưng nay chắc ba tôi vui lòng khi thấy tôi nằm trong số những người “có chữ nghĩa” trong làng, và tôi ham đọc, biết mua sách báo như dân thành phố. Và còn một điều đáng nói: giống như ba, tôi coi học vấn là chìa khóa giúp cho con người bước vào ngôi nhà tri thức lộng lẫy, nên dù gia đình chỉ đủ ăn, hai con tôi nay đã ngồi trên ghế giảng đường đại học ./.