Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn VĂN TÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn VĂN TÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

30 thg 10, 2015

ĐỪNG ĐẾN


        Thường ngày ông Nghiệp nói chuyện mau lẹ, rành mạch, đi thẳng vào vấn đề, không lòng vòng rào đón, chỉ cần năm bảy câu là đủ, chấm dứt. Nay hơi khác, ông đã nói ngót nửa giờ, đề cập đến nhiều chuyện, mỗi chuyện một ít, nói mãi, Hồng Anh vẫn không nắm được ý chính ông muốn trình bày. Nhưng đi lâu rồi cũng phải đến, sau cùng ông bảo:
        - Chú muốn nhờ cháu giúp cho một việc.
        - Dạ, chú cứ nói. – Hồng Anh khuyến khích.
        - Mấy lần chú định nhờ, nhưng ngại… cũng hơi khó đấy.
        - Dạ, cháu sẵn sàng. Xưa nay chú đã giúp cháu nhiều.
        Ông Nghiệp nói khẽ, gần như thì thào:
        - Chú muốn làm quen với dì Phương… Cháu hãy tạo điều kiện, để chú có cơ hội tiếp xúc.
        Khá bất ngờ đây. Hồng Anh nhìn ông Nghiệp, lúng túng. Ông đã cao tuổi, chắc phải ngót nghét bảy mươi, nhưng trông tướng người  khỏe mạnh, tóc chưa bạc, mắt sáng, đi đứng nhanh nhẹn. Đàn ông như thế còn nghĩ đến “bạn gái” cũng là thường.
        - Cháu thấy đó, chú ở một mình thế này đã lâu. Má con Hòa mất đã bảy năm.
        - Dạ.
        - Nhiều lúc buồn, muốn tìm người bầu bạn để hôm sớm có nhau, nhưng lại sợ mồm miệng người đời… Họ sẽ chê cười, già mà còn…
        - Dạ.
        - Dì Phương sống một mình cũng lâu?
        - Dạ, lâu lắm… chắc đã hai mươi năm, hay hơn nữa đấy.
        Im lặng. Hồng Anh muốn nói vài câu để giữ vẻ tự nhiên, nhưng chẳng nghĩ ra ý nào.
        - Dì cháu tuổi Hợi, chú biết.
        - Dạ, sáu hai hay sáu ba, cũng nhiều tuổi lắm.
        - Chỉ có vậy. Cháu giúp chú vượt qua cửa ải chính, cái khó ban đầu. Còn sau đó chú tự xoay xở.
        Ông Nghiệp là người hàng xóm giàu có, khá tốt. Mấy năm gần đây, những lúc túng bấn Hồng Anh thường sang nhờ cậy. Chị xin vay tiền nhưng ông cho mượn, vì “láng giềng cũng như bà con”. Hiện tại, trước sau gia đình chị còn nợ ông đúng sáu triệu đồng.
        - Chú muốn kết bạn với bà Phương, nhưng chẳng biết nên gặp mặt bằng cách nào. Không lẽ bỗng dưng xồng xộc đi vào nhà người ta… Cháu là cháu ruột, như con của dì… Nếu mọi chuyện tiến triển tốt chúng ta sẽ là người thân, cháu sẽ thành cháu ruột của chú.
        Nhưng còn cái ý thưởng công, là vấn đề tế nhị, nó khiến ông ngập ngừng.
        - Chú biết trọng nhân nghĩa, cháu giúp, chú không bao giờ quên ơn. Trước mắt, cháu khỏi phải trả số tiền còn thiếu… Nó chẳng lớn lao gì, nhưng chắc cũng xóa được cho các cháu một mối lo… nợ nần cay cực lắm.
        Đề nghị của ông Nghiệp khiến Hồng Anh lo lắng. Nó hấp dẫn, nhưng quá khó. Đột nhiên món nợ này biến mất, như cái nhọt lớn tan dưới bàn tay thầy phù thủy, thật sao? Suy tính mấy ngày, sau cùng Hồng Anh hỏi ý kiến chồng. Nghe lạ, nhưng Vĩnh nói ngay:
        - Túng thì liều, ta thưa lại với dì Ba, xem sao.
        - Dì như thầy tu, xưa giờ chưa hề nói tới chuyện chắp nối, bước thêm.
        - Đúng vậy, nhưng chắc mình phải lì, vì món nợ ác hại… dì Ba thương em.
        - Ta đóng vai trò kẻ dẫn đường, mai mối, tạo cho ông ấy một cuộc gặp mặt… chỉ có thế… nghe qua thấy cũng đơn giản.
        - Không dễ lắm đâu. Nó đáng giá sáu triệu… Ông ta thuộc hạng người coi động tác rút tiền ra khỏi túi là một biến cố.
        - Vậy em cứ nói đại, cảm tử?
        Ngay sáng hôm sau Hồng Anh đến gặp bà Phương. Trái với sự lo lắng của vợ chồng Vĩnh, bà Phương nghe chuyện với vẻ thờ ơ, chẳng tỏ ra ngạc nhiên chút nào. Bà nói có biết ông Nghiệp, nhưng đã lâu, rất lâu rồi không gặp lại. Ông ấy là tay làm ăn chí thú, cần cù. Bà vợ ông nhỏ bé, dân Quảng, thường đau ốm quặt quẹo, chết do uống nhầm thuốc… Bà hỏi, như tự nói với mình:
        - Tại sao ông ta nhớ tới dì nhỉ, ai mách? Quanh đây còn có biết bao người không chồng khác.
        Một lúc sau, bà tiếp:
        - Nay đi lấy chồng… bỗng nhiên ôm vào mình cái chuyện chồng con bùng nhùng… rồi ông ông tôi tôi, anh em em anh… có hài hước không?
        Và bà hỏi:
        - Thế là con làm bà mai đấy, không sợ à?
        Hồng Anh giật mình.
        - Dạ, ông Nghiệp năn nỉ quá, nói đi nói lại mãi.
        - Kẹt thực! Con nghèo túng, nợ nần. Dì thì chẳng có gì để giúp.
        - Dạ, con sợ lắm, nhưng ông ta…
        - Đây cũng giống như một cuộc mua bán, đổi chát… Con có hứa gì với ông Nghiệp không?
        - Ông ấy nói chỉ cần gặp, trò chuyện với dì, con không còn nhiệm vụ nào khác.
        Bà Phương chấp nhận.
        - Chỉ như thế mà sáu triệu… dũng mãnh, cương quyết lắm!
        Cuối cùng bà cũng nói những lời Hồng Anh mong đợi.
        - Được rồi, dì sẽ giúp. Có lẽ chẳng chết ai… Để xem ông ta nói năng những gì. Mình đã già, đầu có sạn, ai dụ dỗ, phỉnh gạt được mà sợ, phải không?
*
        Bà Phương rót trà ra hai ly, mời khách. Ông Nghiệp ngồi thẳng đờ, nhìn ngó quanh quất, lộ rõ vẻ bối rối. Bà Phương đẩy ly nước về phía ông:
        - Mời anh.
        Ông Nghiệp mặc bộ đồ mới cáu, tóc mới hớt chải mượt, tay phải đeo chiếc đồng hồ nhỏ dây vàng chóe. Nhìn ông, bà Phương nhớ lại lớp thanh niên thời xưa. Hồi còn nhỏ, bà thấy các anh trai chưng diện theo mốt quần trắng ống chật, áo cổ cứng cao, mang giày xăng đan da xi bóng loáng, kính đeo mắt giắt trước ngực, đầu tóc bôi đầy dầu ba số 5 trắng như mỡ heo.
        - Đã lâu tôi không đến xóm này, nay trông khác quá. Nhà cửa đường sá đều lạ, đông đảo, rộng gấp hai gấp ba trước kia.
        - Dạ, người ta đua nhau xây cất, mới rộ lên trong vài năm gần đây.
        - Không có cháu Anh thì tôi đi lạc.
        Ông chỉ tay ra đường:
        - Cái cổng hẹp quá, nên mở rộng thêm khoảng một thước chị ạ.
        - Vâng, đúng là hơi nhỏ.
        - Cái sân cũng vậy, nới ra thêm vài thước nữa nó sẽ cân xứng với ngôi nhà.
        Ông nhận xét, cái nhà trước mặt kia xây phòng tắm, nhà vệ sinh như thế là không phải, chướng, lẽ ra bà Phương nên góp ý để họ cất dịch về bên trái chừng bốn mét. Và ông nói, nhìn cái sân trống trơn, không có lấy một bụi bông, thấy buồn. Như sợ dừng lại thì sẽ bị rơi vào vùng im lặng nguy hiểm, ông kể về việc ông đã bài trí nhà cửa như thế nào, đã bỏ công đổ tiền ra để trồng, mua ba mươi chậu cây kiểng loại quí ra sao.
        - Tôi sẽ tặng chị vài chậu sứ, mai, tùng, đều là những cây lâu năm, quí hiếm. Cây mai Huế người ta trả hai triệu tôi không bán. Cây ngọa tùng lão ai thấy cũng lé mắt… Tôi dám tự hào, tôi là người biết ăn ở… Tôi coi tình nghĩa cao hơn mọi thứ trên đời.
        “Các cháu ơi, tới xem ông nội tán gái!” Ý này lóe ra trong trí, khiến bà Phương suýt bật cười.
        Ông Nghiệp nói, sắp tới chắc ông nhượng cơ sở sản xuất nước mắm cho đứa cháu. Nghề này ông thành thạo, đã làm từ thời còn trẻ. Nước mắm Hải Nghiệp vẫn bán chạy, nổi tiếng khắp vùng. Nhưng nay, do tuổi tác của ông, nó trở nên cồng kềnh, không còn phù hợp nữa.
        “Trông ông ta nói, dáng vẻ, giọng điệu giống như… giống ai nhỉ? – Như mấy ông chủ nhiệm nói trước xã viên.” Bà Phương nhìn dán vào miệng ông khách, nghe với vẻ chăm chú.
        Bằng giọng khiêm tốn cố tình, ông Nghiệp khoe, tuy chưa phải là tay cự phú, nhưng ông cũng có chút ít tên tuổi, uy tín trong quận. Ông nằm trong Ban trị sự chùa lớn Long Hòa, là hội viên danh dự Hội Phụ huynh học sinh trường Trung học Trần Phú, là mạnh thường quân của đội bóng đá Châu Thành.
        - Từ khi bước lên tuổi sáu mươi tâm tính con người ta biến chuyển. Nó như một cột mốc cao. Tới đó người bộ hành ngồi nghỉ, quay nhìn lại đoạn đường mình vừa đi qua, và hướng mắt tới quãng đường ngắn phía trước. Dù vô tâm đến mấy mình cũng phải suy ngẫm…
        “Ông ta nói có vẻ chân thành, nhưng vẫn buồn cười thế nào ấy… Sao lại tâm sự mặn mòi như vậy với người mới gặp lần đầu.”
        Ông dự định sẽ mở một tiệm bán đồ điện và vật liệu xây dựng. Có đứa cháu trai rành nghề điện phụ giúp, ông tin dịch vụ này sẽ phát đạt. Quanh vùng cũng có vài cửa hàng loại đó, nhưng chúng nhỏ, làm ăn tủn mủn. Ông sẽ là đại lý bề thế, vững chãi.
        - Tôi chỉ huy, trông coi bao quát, chạy ngoài, lo về đối ngoại… muốn vậy thì phía sau, hậu cần, phải ổn định, như một cái nền kiên cố… nghĩa là cần người quán xuyến, nội trợ, một tay xếp đặt gạo tiền, giữ tủ, cầm chìa khóa.
        “Tôi dự tính… Tôi sẽ… Tôi muốn… Ông ta vẫn nhìn về phía trước với đôi mắt của người trai trẻ, thức thời.”
*
        Bà Phương đến lúc Hồng Anh đang quét dọn sau bếp. Bà xách một giỏ cước đầy thanh long và ổi, những hoa trái trong vườn nhà.
        - Dì báo với con tin vui – Bà đưa cho Hồng Anh một gói giấy – Tiền đây, sáu triệu, để con trả nợ.
        - Trời ơi!
        - Bất ngờ hả – Bà Phương cười xòa -  của thằng Quang gửi về cho đấy, mười triệu tất cả. Chính dì cũng ngạc nhiên. Gần bốn năm qua bặt tin nó, chẳng được một lá thư.
        Quang là con trai của dì, đi làm ăn trong Nam, chưa có nghề nghiệp rõ ràng.
        - Con đem trả cho ông Nghiệp, để được nhẹ nhàng, khỏi bị ràng buộc.
        - Trời phật ơi, con mừng quá!
        - Nhận thư và tiền của Quang dì mừng suýt ngất xỉu. Điều đầu tiên dì nghĩ tới là số nợ hai triệu này… Ôi, Trời có mắt!
        - Con mừng chết được, dì ơi!… Túng làm càn. Phải nghe theo lời ông Nghiệp con cảm thấy như cầm bút ký giao kèo với bọn bất lương.
        - Dì biết. Đồng ý cho ông ta tới nhà là dì cũng làm càn… Những lần thăm dồn dập, mấy chậu cây cảnh, những viễn cảnh sáng lòa của một cuộc sống chung mà ông ấy vẽ ra làm dì rầu thúi ruột… Tháng này ông Nghiệp tới thăm dì ba lần, lần cuối là chiều hôm qua. Đúng, cuối cùng, bởi dì đã bảo thẳng rằng ông đừng đến nữa… Dì nói, tôi vô cùng cám ơn anh đã nghĩ tưởng, có cảm tình với tôi. Nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì thiên hạ sẽ dị nghị.
        - Chắc “anh chàng” thất vọng lắm?
        - Ờ, buồn, ngồi lặng thinh… Vì lịch sự dì phải quanh co, giải thích hơi dài. Nếu nói thiệt tình, dì không thể kết thân với ông ấy chỉ do một điều: dì chưa hề nghĩ đến… Dì liệt kê một loạt trở ngại: các con tôi không đứa nào bằng lòng. Ở tuổi này việc thay đổi cách sống rất gay, bởi mọi thứ đã thành cố tật. Tôi vụng về, chậm chạp chắc khó thích nghi với nếp sống phố thị rộn ràng. Ông còn hăng hái, xông thẳng vào chợ đời, còn tôi từ lâu đã an phận nghỉ hưu. Tôi đã quen với cảnh quê lậu, bình lặng như thế này hăm hai năm nay… ôi, nhiều, nhiều lắm!
        - Ông Nghiệp đáng thương!
        - Dù sao sự xuất hiện, đột ngột và ngắn ngủi, của ông cũng đem lại “một tác động tích cực”, nó giúp dì nhận ra được: sống như lâu nay là tự do, thanh nhàn… May phước, trời đất thương tình, thằng Quang gởi tiền về đúng lúc. Nếu không làm sao ta có thể nói mạnh miệng: ông đừng đến nữa!
        - Tiền về kịp thời, may cho dì và cho con… “Đừng đến nữa”, dì của con thật dứt khoát! – Hồng Anh cười sung sướng.
        - Phải, dì lặp lại hai lần: từ nay ông đừng đến nữa… Ông ấy ngồi im, uống hai ba ly nước, rồi về, không chào một tiếng.
        “Đừng đến” nghe có vẻ hòa nhã mà rắn rỏi, quyết liệt ./.

Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 24,
                                  22-7-1998

 


12 thg 10, 2011

QUA THỜI NÔNG NỔI

       Thị xã Tân Thanh nhỏ và đẹp. Nó nằm sát biển, cạnh một đồng bằng rộng, màu mỡ. Tôi đã sống ở đó ngoài hai năm. Sau này được đi nhiều nơi, ở tại nhiều thành phố lớn, nhưng không đâu tôi yêu thích bằng Tân Thanh. Đây là nơi tôi có những người bạn thân nhất, có nhiều kỷ niệm khó quên, và có Duyên.
       Năm 1970 từ trường Sư phạm ra tôi được bổ về dạy tại một vùng heo hút cách quê tôi trăm rưỡi cây số, cách Tân Thanh mười sáu cây số. Dù xa như vậy, tuần nào tôi cũng có mặt ở thị xã một hai ngày, bởi tôi ghiền xi-nê, phở, và lũ bạn vui nhộn. Ban đầu, nhờ sợi dây thơ văn tôi quen Bạch Hải, anh Duyên. Qua Hải tôi nhanh chóng thân thiết nhóm văn nghệ sĩ của thị xã.
       Tôi hòa nhập vào gia đình Hải khá êm xuôi. Nhà này có máu văn nghệ, ai cũng thích đọc sách báo. Ông bà Mạnh là độc giả lâu năm của các báo khoa học kỹ thuật, thể thao. Duyên mua Phụ nữ, Thời mới. Còn Thu Tâm – em Duyên – mua một lúc ba bốn tờ, gồm cả văn nghệ, văn hóa và sân khấu. Thu Tâm còn đi học, sắp thi tú tài, rất yêu thơ. Cô bé mến phục tôi, ngưỡng mộ cái Thi đoàn vang danh La Hoa. Cô đa sầu, giàu tình cảm, mỗi khi đọc truyện gặp những đoạn buồn là khóc đỏ mắt. Tâm khen thơ tôi ngọt ngào, sâu sắc. Cô nàng thường nằn nì nhờ tôi ngâm thơ cho nghe. Tâm chịu những bài ướt như vớt dưới nước lên, và trong đó phải có nhiều “gió trăng”, “hò hẹn”, “thiếp chàng”. Tôi ăn chực, mọc rễ ở nhà Hải. Người lạ có thể tưởng lầm tôi là con trong nhà. Không chỉ tốn cơm, nhiều lúc ông Mạnh còn cho tôi tiền để tiêu vặt.
       Ít lâu sau tôi và Duyên “cảm” nhau. Nói cho trung thực, tôi chưa hề tán tỉnh Duyên câu nào. Đây chỉ là mưa lâu thấm đất. Dạo đó gặp dịp Tết, được nghỉ dạy nửa tháng, tôi về thăm nhà. Nhưng mới bảy ngày tôi đã trở ra. Duyên ngạc nhiên: “Ô kìa, ông thi sĩ, ra chi sớm vậy?” Lúng túng một chặp, rồi tôi thú thật: “Buồn, buồn không chịu được… nhớ ai quá!” Duyên hiểu ngay, nàng xúc động, mặt hồng lên, bối rối chớp lia đôi mắt Tân Thanh to đen, ươn ướt… Ngay tối ấy chúng tôi đến trụ sở ban Ly Tao “trình làng”. Lũ bạn tôi không ngạc nhiên mấy, tỏ ra rất hoan hỉ. Ông bà Mạnh và Hải phớt lờ, làm như chẳng biết gì, và chúng tôi  coi thái độ đó là đồng tình. Thu Tâm nhận xét nhẹ nhàng: “Bà Duyên sống trong môi trường trần tục – Duyên làm ở ngân hàng – mà lại kết cặp với người của trăng sao, kể cũng lạ”.
       Nhóm nghệ sĩ tinh hoa của thị xã này, (có tôi vào nữa là sáu người), đứng chủ trương Thi đoàn La Hoa (núi Hoa Sơn, sông La), và nắm luôn ban Ly Tao, chuyên ngâm - bình thơ trên đài phát thanh địa phương. La Hoa chào đời trước Ly Tao nửa năm, có đường hướng cụ thể: “Sáng tác thơ ca và trợ lực nhau cùng tiến bộ trên đường phục vụ nghệ thuật”.
       Ở đây tôi được bốc lên thành thi hào, vì là người có nhiều thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn, và đã xuất bản một tập thơ: tập “Tưởng là tình lớn”. Các thành viên khác đều còn mò mẫm, lận đận. Ngay như nhà thơ Lê Tưởng, trưởng ban Ly Tao, cũng chỉ có sáu bài thơ được đăng báo. Tính trung bình, anh phải gởi đi hăm bảy bài thì đám chủ bút thiển cận đáng ghét ở Sài Gòn mới chấm một bài. Với thi sĩ Bạch Hải, nhân vật thứ nhì của La Hoa, kết quả còn khiêm nhường hơn. Sau bốn năm múa bút, Hải chỉ có ba bài được lên báo. Nhưng điều này không hề làm Hải nhụt chí, lại càng khiến anh mạnh tay hành hạ những trang giấy trắng, và giọng thơ vốn đã phẫn càng thêm phẫn.
       Người viết khỏe, có số lượng thơ ra lò nhiều nhất là Mai Phong. Anh lãnh hai chức danh: đầu tàu Thi đoàn La Hoa và ủy viên giao tế của ban Ly Tao (chúng tôi cũng mắc bệnh háo danh, chứng bệnh buồn cười của loài người, nên tên nào cũng khoác vào mình nhiều chức tước tự phong).
       Mai Phong là người duy nhất trong bọn có vợ. Trước kia, do một sự “sai lầm đáng tiếc” Phong cưới vợ hơi sớm, nên nay mới hăm ba tuổi anh đã có ba con. Vợ Phong chất phác, rất kính phục chồng, tuy chị không hề sờ đến sách báo… Mai Phong sống theo lối “phiêu bồng”. Bề ngoài trông anh nhếch nhác, bẩn thấy rõ. Về cái ăn, thì bạ đâu sà vào đấy, chủ yếu ăn nhờ nhà Tưởng và Hải. Tiền lương Phong thường tiêu vèo trong năm, bảy ngày; chi trọn cho mấy quán cà phê, bún bò, tiết canh vịt. Vợ Phong cần mẫn làm lụng nuôi con, cam chịu túng thiếu, không trách cứ chồng tiếng nào. Nhưng ông cụ thân sinh Phong thì tích cực bày tỏ thái độ phản đối. Bữa nọ cụ khăn gói ra phố, leo lên tận hang ổ ban Ly Tao, hùng hổ dạy cho ông con nhà giáo – nhà thơ một bài sấm sét. Quá giận nên cụ mắng rất thô: “Này, mày như con heo đực, xổng chuồng là cùi cũi đi mất, chẳng lo gì nữa. Lâu nay vợ con mày thế nào? Chắc chắn không biết. Sống như thế, tao không hiểu mày dạy trẻ con ở trường những gì. Muốn làm ông gì cứ làm, nhưng chớ quên mình là ông - người”. Nói bấy nhiêu lời xong ông cụ quay trở xuống, về thẳng. Mai Phong thở dài, than: “Đầu và mắt các cụ đã hình thành trước đây hơn nửa thế kỷ, nên không hy vọng các cụ nghĩ và thấy điều gì hay ho được!” Rồi phải nhờ ông Vạn Thọ – cha Lê Tưởng – đứng ra thu xếp, sự vụ mới ổn. Ông bảo Phong cứ ăn tại nhà ông, không phải trả tiền, còn lương thì cắt một nửa gửi về cho vợ.
       Hai người sau chót của nhóm, sự nghiệp văn chương mới khởi đầi, chưa có gì nhiều: Võ Hoàng, họa sĩ kiêm ủy viên kỹ thuật, thi sĩ lãng mạn của thế kỷ 19 còn sót lại – và Thái Huyền, phụ trách tài chánh kiêm thư ký. Chúng tôi thường âu yếm gọi Huyền là ủy viên du hí. Anh sành về rượu, giỏi chạy tìm đồ nhậu, nấu nướng khéo tay.
       Chúng tôi sống mạnh được phần lớn nhờ nơi cái bụng quãng đại của ông Vạn Thọ, một người vui tính, rất giàu, tốt ít có. Ông dành cho chúng tôi một căn phòng trên lầu, kế phòng ngủ Tưởng, làm trụ sở. Phòng thênh thang, có một tủ sách lớn, một bộ ghế bành to kềnh, hai cái giường bằng gỗ quý đóng kiểu cầu kỳ, và hai bàn làm việc dài ngoẵng. Trên hai chiếc bàn này chúng tôi đã bình văn, ăn nhậu, tán phét về mọi sự đời, và làm thơ. Chúng tôi ca ngợi những áng mây chiều nằm xoãi trên đỉnh Hoa Sơn; những con sò huyết, đặc sản của xứ dừa, ngon và bổ, chắc trời sinh ra để đi kèm với rượu nếp; những đôi mắt của những người con gái Tân Thanh (ôi, đôi mắt đen láy, tình tứ, long lanh, từ mấy trăm năm trước đã bước vào thơ phú, ca dao: “đa tình con mắt Tân Thanh”). Không ai tính được chúng tôi đã tiêu phí bao tạ giấy mực, và hóa kiếp mấy ngàn con sò huyết. Chỉ riêng hòn Hoa Sơn cũng đã làm hao tốn biết bao tâm trí. Đó là hòn núi đơn độc đứng chắn ở cửa ngõ phía Tây thị xã. Chúng tôi mổ xẻ, phân tích đủ các mặt của nó: dáng núi trầm ngâm (vì rằng chưa ai nghe nó nhiều lời bao giờ) – cái vẻ cao vút hiên ngang (cao hơn mặt biển 420 mét) – nỗi buồn kinh niên của núi (đứng trơ chõng một mình, vui sao được) – nỗi đau triền miên khó dứt (cai thầu Mỹ đã ủi sạt một khoảng lớn dưới chân núi, lấy đất làm phi trường)… Đọc số thơ này, người ta có thể tưởng chúng được viết ra từ một xứ nào vốn thanh bình từ ngàn năm nay, chớ không phải ở đây, nơi mà nhiều đêm súng đã nổ thảng thốt ngay tại xóm Gò Dứa (sát nách thị xã), tiếng đạn đuối rơi xèo xuống đại lộ Nguyễn Huệ. Có lần Duyên nói: “Đời có lắm chuyện vô lý, nhưng vô lý nhất là người ta chịu chi tiền để các ngài viết lách khóc thương vô bổ”. Nhưng chính nàng cũng “vô lý”, vì đã để con tim mình chạy rông: Duyên yêu tôi, khác gì yêu cái món thơ văn làng nhàng?
*
       Hơn hai năm sau bất ngờ tôi được đổi về một tỉnh phía nam, cách Tân Thanh ngoài bốn trăm cây số, theo ý muốn của cha tôi. Ở đó cha tôi có một người bạn thân vừa được thăng lên một chức khá lớn bên giáo dục. Cha tôi nói, thời này muốn sống vững phải quen biết rộng, nếu không thì suốt đời sẽ nằm trong bóng tối. Tiền đồ của tôi muốn sáng lóa phải nhờ ông quan bự ấy đỡ cho một tay. Dù không muốn, tôi cũng phải đi. Cha tôi rất cứng rắn, khi ông đã bảo thì vợ con phải coi như pháp lệnh, đừng mong cưỡng chống.
       Vô đến nơi tôi được hưởng ngay cái thuận lợi đầu tiên: dạy tại một trường nằm trong thị xã. Nhưng tôi vẫn buồn không nguôi, vẫn nhớ Tân Thanh đờ đẫn cả người.
       Mỗi tuần một lần, tôi và Duyên gởi cho nhau những bức thư dày cộp, trong đó chứa đầy buồn khổ, nhớ nhung. Nhưng tình trạng ấy chỉ kéo dài được vài tháng, sau đó nhịp thư thưa dần, rút xuống còn nửa tháng một lá, rồi mỗi tháng một lá. Trong tôi nỗi nhớ tuy không vơi nhưng hình như đã “nhẹ” đi. Và thư Duyên thì lá sau luôn ngắn hơn lá trước… Đến tháng thứ tám tôi được các bạn ở Tân Thanh báo cho tin buồn: Duyên quen người khác. Tôi sửng sốt, và không tin. Sao Duyên hời hợt, đổi thay nhanh đến thế! Nhưng cái tin nản lòng đó cứ được lặp lại đều đặn. Không có cách nào kiểm chứng nguồn tin, tôi thấy mình bất lực, đáng thương. Đúng lúc ấy tôi gặp Hiếu – vợ tôi hiện nay. Té ra trên trái đất còn có những cô gái khác cũng có miệng cười làm ấm lòng người, giọng nói ngọt lịm, và những cử chỉ làm duyên nho nhỏ, ngồ ngộ, đáng nhớ! Ngẫm lại, tôi thấy khối tình trước đây của mình không lớn nặng như lâu nay mình vẫn tưởng!
*
       Chiều hôm đó – mười một năm tròn sau ngày ấy – tại thị xã Thới Bình (quê Hiếu) trên đường đi làm về, tránh một cơn mưa bất chợt, tôi chạy vào trú trong một quán nước bên đường. Duyên và con gái đã ngồi trong đó. Duyên nhận ra tôi trước. Chúng tôi hét toáng lên vui mừng, chào hỏi rối rít, làm bà chủ quán ngạc nhiên. Kéo tôi tới bàn, Duyên gọi cho tôi một ly chè đá, (dù trời lạnh), và hỏi dồn hàng chục câu.
       Khi bình tĩnh trở lại chúng tôi mới nói chuyện rành mạch, có đầu đuôi. Duyên hiện có hai con. Bé gái đây tên Ngọc, sáu tuổi, còn bé trai ở nhà vừa biết đi. Chồng Duyên tên Yên quê ở Huế, làm bên hải sản, mới đổi vô đây non hai năm. Vậy là đã ở gần nhau khá lâu nhưng chúng tôi không biết. Theo lời Duyên, bé Ngọc giống bố từ nước da, đến cái tai cái tóc. Dựa theo đó, tôi phác thảo ra Yên là một anh chàng đẫm thấp, mắt to, trán hơi vồ. Trông qua cách ăn mặc tôi đoán mức sống của vợ chồng Duyên dư dật. Duyên nhận xét:  “Anh gầy, và hơi già đấy nghe.” Tôi nói, nửa thật nửa đùa: “Một người không giàu, cõng một gia đình cồng kềnh thừa miệng ăn, thiếu tay làm, chưa chết là mừng, nói chi ốm già”. Tôi lấy làm lạ thấy Duyên không khác trước mấy, trông như trắng và cao hơn chút ít. Duyên hỏi liền năm câu về vợ tôi. Bất giác, tôi nhìn lại bộ quần áo thảm hại mình đang diện, cái mũ như miếng giẻ nằm ở góc bàn. Chắc Duyên đã thấy rõ chúng. Đàn bà thường nhạy về các khoản tinh tế như thế!
       Qua những lời Duyên kể, tôi thu tóm được những điểm chính của người và cảnh Tân Thanh. Hai người lớn tuổi làm tôi ngạc nhiên. Ông Mạnh và ông Vạn Thọ đều hoạt động cho cách mạng lâu năm trong lòng thành phố, không bị lộ. Nay ông Mạnh làm bí thư một xã dưới chân Hoa Sơn, liên tục từ giải phóng đến giờ; tóc ông đã bạc phơ nhưng dáng người còn cường tráng. Ông Vạn Thọ đã hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp cho ông Mạnh trong công tác, nay nằm nhà chơi cây cảnh, vì già và nhiều bệnh. Tôi ôn lại những sự việc xưa và dễ dàng thấy rằng ngày đó nhóm thơ bát nháo La Hoa đã từng làm cái bình phong tốt cho hai ông. Bạch Hải sống bên quê vợ trên Pleiku, vẫn làm cái nghề đúng sở thích: thông tin, văn hóa. Lê Tưởng làm nông nghiệp, có vợ đã lâu nhưng chưa có con. Những thành viên khác của nhóm thơ đã tản mát mỗi người một nơi. Có thể thấy xa, nhiều người trong số đó, từ nay đến cuối đời tôi sẽ không còn gặp nữa.
       Bé Ngọc tới hiên đưa tay ra ngoài nghịch nước mưa. Duyên nói:
       - Anh quên hỏi một người.
       - Thu Tâm?
       - Tâm vẫn chưa chồng, nhưng đã có một con trai ba tuổi.
       Tôi kinh ngạc. Duyên thuật chi tiết. Những năm vừa rồi có nhiều chỗ khá tốt đến dạm hỏi, Tâm chẳng chịu ai, rồi đùng một cái đi dan díu với một anh y sĩ cùng làm chung chỗ. Anh này có vợ con sờ sờ. Năm ngoái Tâm bị đánh ghen một trận khá nặng. Rồi cách đây sáu tháng vợ anh y sĩ lại mướn người đón đường đánh Tâm trận nữa, xong còn dùng dao lam rạch mặt ba đường, trông phát khiếp.
       Tôi đã thấy và hiểu tình yêu thường đem đến cho người ta nhiều chuyện ngoài y muốn, đau xót, trớ trêu… Nhưng việc tai tiếng này của Thu Tâm cũng làm tôi bàng hoàng. Tôi không hình dung được gương mặt hiện nay của em. Trong trí tôi Tâm vẫn còn là cô bé xinh xinh, hay cười, thích kem ly, ya-ua, những lúc đọc truyện hoặc xem phim buồn thảm thường khóc.
       Tôi bổng nảy ra ý muốn về thăm Tân Thanh. Tôi liền nói ngay, sợ để lâu mình sẽ đổi ý:
       - Tháng tới có phép, tôi sẽ về thăm chú thím và Tâm. Lâu quá rồi, chắc hai vị cho rằng mình bội bạc.
       - Thật không, hay nói qua đường cho vui? – Duyên hỏi.
       Tôi vội vàng nói như cam kết: tôi sẽ bỏ ra ba ngày về thăm Tân Thanh, thăm ông bà Mạnh và Tâm. Không hiểu sao bỗng dưng tôi lại mau miệng, sốt sắng như thế.
       Ngoài đường, một đôi trai gái che chung dù đi chậm dưới mưa. Cái dù xanh. Cô gái trang phục toàn xanh, từ quần áo đến cái xách tay. Tuổi trẻ. Một hình ảnh đẹp, như tôi đã từng xem trong một phim nào đó… Đêm ấy về, nghĩ lại, tôi thấy nổi lên một điểm: suốt buổi gặp mặt không lúc nào tôi nhớ ra là mình đã từng ôm con người thơm tho này trong tay, nựng nịu như nựng mèo con, hôn hít hàng trăm lần.
       - Anh chuẩn bị gà vịt sẵn nhé, mấy hôm nữa bọn này sẽ ra chơi. Vậy là nay chúng ta chỉ còn cách nhau có bảy cây số! – Duyên nói.
       - Không gần đâu bạn ơi. Con số 7 này cũng như số 5 tấc đất, cự ly xa cách giữa người chết và người sống.
       - Thảm quá!… Nay anh còn làm thơ không?
       - Tôi nghỉ. Đến khi nào làm được theo cách mới, tươi vui, khỏe khoắn, có ích cho đời, tôi sẽ cầm bút lại… Nhóm thơ chúng tôi thời đó, Duyên biết không, nếu được đưa ra đứng trước mặt thi hào Gơt (J.W. Goethe, 1749 – 1832) sẽ bị ông gọi là “những thi sĩ của bệnh viên”, vì chuyên ca tụng những thứ ốm đau bệnh hoạn.
       Duyên cười. Một chiếc xe đò bật đèn phóng vút qua. Mưa nặng hạt thêm, kiểu này thì khó biết đến lúc nào mới dứt ./.

                                                                                                                    (1982)

3 thg 10, 2011

NHƯ NGUYỆT

       Trong nhà tắm nước nóng Mimosa, Tiệp nhẩm đọc bài thơ tình anh vừa thuộc ít lâu nay:
       Hái một bông cau chiều tháng Chạp
       Tặng em trong buổi chớm xuân về
       Ra giêng em sẽ xinh thêm chút
       Môi hồng và má thắm hơn xưa…
       Trước kia Tiệp không thích thơ, ngoài những nhà thơ có mặt trong sách giáo khoa, anh không đọc ai nữa. Nhưng gần đây Tiệp chợt thấy mình đổi khác, anh đâm ra thích nghe nhạc, chịu khó tìm đọc thơ. Thành phố hoa này hay Như Nguyệt làm Tiệp đổi thay?
       Từ nhà tắm ra Tiệp đến quán cà phê Duyên, theo thói quen. Hơn ba tháng nay ngày nào Tiệp cũng ngồi ở đó ít nhất một lần. Cà phê và nhạc của Duyên tuyệt hảo.
       Còn sớm, chưa đến một nửa số bàn có khách. Tiệp ngồi vào chỗ thường ngồi. “Chỉ còn vài hôm nữa thôi, ta sẽ giã từ quán này. Sẽ từ biệt luôn các quán chè, các sạp bánh xèo khu Lò Đúc, những gánh bắp nướng trên các ngả đường đêm”. Tiệp nghĩ.
       Thanh Lan hát “Giọt mưa thu”. Tiếp sau là “Tình nhớ”. Rồi đến “Đêm đông”, “Hoài cảm”. Quen thuộc đến chẳng thể nào quen hơn nữa… Ngồi hơn nửa giờ Tiệp thấy mỏi lưng. Trưa nay anh không ngủ được, vì các ông bạn cùng phòng đùa giỡn, làm huyên náo. Các tướng đánh cờ ăn kẹo, rồi kể chuyện tiếu lâm, nghịch như một bọn trẻ. Làm nhiều trò, nhưng không ai nghĩ tới việc tập nhảy.
       “Muốn trở thành một ngài đáng kính trong giới thượng lưu, nhất thiết phải  tập ăn nói. Đúng thế, ăn phải tập, nói cũng phải tập. Sau đó là tập nhảy, nhảy đẹp, bay bướm. Phải nghĩ tới một ngày nào đó mình sẽ lên cao! Không lẽ cứ ngồi lì một chỗ. Chậm hay mau cũng lên. Vậy, ngay bây giờ ta nên tự hỏi mình: bạn biết nghe nhạc giao hưởng chưa, biết khiêu vũ chưa?” Như Nguyệt nói.
       Tiệp muốn về sớm. Bây giờ về nằm cuộn người trong mền, đọc báo chắc thú hơn. Bên ngoài trời tối, sương mù dày, không thể nhìn thấy gì xa ngoài năm, bảy thước. Khá lạnh. Tiệp đi chậm. Đường vắng người. Tiệp lại nhẩm đọc bài thơ tình lời lẽ mộc mạc, có hơi hướng như một tiếng thở dài, một lời thì thầm:
       … Ơi những bông cau chiều tháng Chạp
       Lòng tôi chưa rượu đã nghe say
       Tặng em thêm một bông này nữa
       Lỡ xa, em nhé nhớ nhau hoài. (*)
       “Nếu là thi sĩ mình sẽ làm ngay bài thơ “Đêm Cao nguyên”… Mình chỉ còn ngủ ở căn phòng đó ít đêm nữa, ăn với Như Nguyệt vài bữa cơm nữa”.
       Tiệp đi trên đường ven bờ hồ. Những hàng thông lờ mờ. Những ngôi nhà thu lu, đen sì. Tiệp thấy luyến tiếc khi phải rời nơi này. Nó khác xa các thành phố dưới đồng bằng, cũng không giống những phố núi khác. Khác về cảnh vật, khí hậu, và cả về con người. Nhưng cùng lúc, Tiệp cũng muốn mau chóng chia tay Như Nguyệt, chấm dứt ngay tình trạng ngượng ngập đang bao phủ hai người. Anh nuối tiếc những tháng ngày vui tươi, thoải mái trước kia, trước khi Thanh Nam xuất hiện.
       Tiệp đến Cao nguyên theo học một khóa bổ túc nghiệp vụ. Đây là lần đầu Tiệp tới thành phố này. Trước khi đi Tiệp được Dương giới thiệu cho một gia đình quen, để có nơi lui tới trong những ngày nghỉ, đỡ cô đơn. Dương là bạn thân của Tiệp. Nhà anh ở Sài Gòn, gần chợ Xóm Chiếu. Nhưng Dương biết rành Cao nguyên như biết vùng Quận 4 của anh, vì trước anh đã từng sống ở đây khá lâu… Dương viết một bức thư dài giới thiệu Tiệp với Như Nguyệt, cô em con ông chú ruột của anh. “Như Nguyệt ở Lê Lợi”. Thế là từ đó Tiệp có thêm một người quen.
       Như Nguyệt sinh trưởng trong một gia đình buôn bán nhỏ, ở Chợ Lớn. Lên đây cô làm việc tại ngân hàng, sống một mình trong một chung cư cổ lỗ, thường gọi cư xá Lê Lợi. Dáng người Như Nguyệt thanh mảnh, cân đối, gương mặt đẹp, mắt mũi đều cán mức “lý tưởng”. Tóc Nguyệt cắt ngắn, uốn cụp vào cổ. Đôi môi cô đỏ mọng, dày, cong tớn lên, như môi B. Bardot, diễn viên điện ảnh Pháp ngày trước… Hồi còn ở trung học Như Nguyệt là học sinh giỏi. Cô giỏi toán và ngoại ngữ. Trong lúc nhiều bạn học toát mồ hôi để chỉ mong được điểm trung bình môn tiếng Pháp, thì Nguyệt đã đọc được những cuốn truyện song ngữ Pháp – Việt dành cho thiếu nhi. Nhưng Nguyệt không có nhiều bạn thân. Người ta cho là cô kênh kiệu, điệu bộ hơi nhiều. Nguyệt thích nói về những người đàn bà nổi tiếng trên chính trường, những bà hoàng, những công chúa, nên cô được gán cái biệt danh “Bà Quận Chúa”.
       “Bà lớn – giới thượng lưu”, là điều Như Nguyệt thường nói đến. Nguyệt ngưỡng mộ Nữ hoàng Anh Elizabeth II, diễn viên Ý S. Loren. Trong tủ sách của cô có nhiều cuốn hồi ký của các nữ danh nhân. Cô khâm phục những phụ nữ nổi tiếng, chẳng phân biệt lãnh vực. Trong phòng ngủ, cô treo ảnh nhà bác học Pháp M. Curie, minh tinh Đức M. Dietrich… Nhiều lần tâm sự với Tiệp, cô nói trắng ra, giới thượng lưu là mục tiêu cô nhắm tới. “Có hai con đường dẫn tới đích ấy. Một do tự mình mở ra, một nhờ chồng. Dĩ nhiên nếu chính mình tạo được thì tốt quá… Hiện giờ người đông, mình thì tài cán chẳng được bao lăm, con đường từ cửa ngân hàng đến đó thật xa thăm thẳm!”… Anh Dương từng nói: “Như Nguyệt có nhiều cao vọng. Cỡ như tôi và Tiệp thì dứt khoát không được nằm trong tầm mắt chiến lược của cô ấy”.
*
       Tiệp học ngày hai buổi, ăn trưa tại trường, chiều về Lê Lợi ăn cơm tối với Như Nguyệt… Mỗi chiều, lúc nào ra khỏi cổng trường Tiệp cũng cảm thấy người thư thái, nhẹ nhõm. Thường thì Tiệp không dạo phố lâu. Anh ghé quán cà phê chừng một giờ, rồi đến hiệu sách mua báo, xong về ngay. Nguyệt luôn chờ Tiệp về cùng ăn tối. Những bữa ăn thường kéo rề rà, với những câu chuyện mông lung, bay nhảy:
       “Đừng nhìn Nguyệt như thế!”  Như Nguyệt bặm môi dọa.
       “Nguyệt bảo tôi phải nhìn vào đâu?”
       “Người ta nói: những con mắt cũng biết nguyền rủa, khóc than, vui thích, van nài… ta nên cảnh giác.”
       Rồi cô nhảy qua một ý thật xa, một chuyện hú họa nào đấy, không liên quan gì tới chuyện đang nói… Như Nguyệt đài các ngay cả khi ở nhà, không trang điểm, mặc áo cánh cũ, ngồi bên bếp điện, vừa nấu nướng vừa ăn nhồm nhoàm. Cô bảo Tiệp: “Ngồi xuống đây, mời ngài Nam tước. Chúng ta sẽ ăn ngay trong xoong, cho thuận tiện. Trông không được lịch sự lắm, nhưng sốt dẻo”. Tiệp vừa ăn vừa đọc các tạp chí. Nguyệt thì nói đủ thứ, như chiếc loa của hãng thông tấn: chuyện sinh viên biểu tình ở Nhật. Chuyện Đức Giáo hoàng. Chuyện đánh ghen, sinh đôi. Chuyện về những bí ẩn trong tổ chức bang, hội của người Hoa. Chuyện cuốn truyện đoạt giải Goncourt năm 1998. Nguyệt nói, chẳng để ý Tiệp có nghe hay không.
       “Tiệp nên tập khiêu vũ, và nên nghĩ rằng có ngày mình sẽ bước vào giới thượng lưu. Tôi nghĩ, rồi sẽ đến lúc dân ta không còn tụng ra rả về cày bừa, đồng áng, về nuôi heo, nuôi cá. Ta sẽ lớn tiếng nói về du lịch, về những buổi hòa nhạc, về nghệ thuật cắm hoa… Người ta ai cũng muốn mình được xem là kẻ quý phái, thanh lịch, phải không nào?” Như Nguyệt thở rõ dài.
       “Nếu được ở đây lâu tôi sẽ nhờ Nguyệt dạy cho tiếng Pháp, không phải dạy nhảy.” Tiệp gõ trán “Cái này còn rỗng như chiếc trống làng… Tôi thấy là tôi khó giàu sang, Nguyệt cũng thấy như thế”
       “Tôi thấy? Tại sao?”
       “Nguyệt xem tôi như ông già, như một phụ nữ.”
       Như Nguyệt cười xòa, chồm tới búng tai Tiệp.
       “Đừng phụng phịu thế. Tôi nghĩ, tôi thấy thế nào mặc tình, bạn vẫn có thể trở thành ông lớn chứ!”
*
       Thanh Nam đặt chân vào cư xá Lê Lợi trong hình dạng một tay ăn chơi vừa thua bạc, một bợm nhậu chưa tỉnh. Từ xa đến nhưng anh chàng chỉ cầm trên tay một tờ báo, như người vừa đi dạo phố về. “Độc đáo thực, như tài tử xi-nê!” Như Nguyệt nhận xét… Thanh Nam là con trai út ông Tấn Phát, một thương gia lớn vừa gặp vận đen, bị phá sản… Tuy bị ngã nhào xuống chân dốc đời khá đột ngột, nhưng ông Tấn Phát là người có nghị lực sắt thép nên vẫn còn ít nhiều tỉnh táo, sức lực để thu xếp, gom dọn những gì còn lại. Và ông rút về ẩn dật, đứng bán phở bò trong một ngõ hẻm ở quận Sáu. Nhưng vợ con ông đều suy sụp tinh thần. Người con cả, thủ quỹ của hãng T.P, sinh ra ngớ ngẩn. Bà Tấn Phát và Thanh Nam thì phờ phạc, lờ đờ, như sống trong cơn mộng du dài…
       Thanh Nam bỏ nhà đi lang thang, làm khách lãng du, bụi đời. Anh ta không muốn làm việc, cũng không thể làm được việc gì ra hồn. Anh ta chán ngán tất cả mọi sự… Một người trước kia kiếm được mỗi tháng mười triệu, nay khó đứng ra làm những công việc có lương tháng năm trăm ngàn… Thanh Nam vào ở gian phòng bỏ trống, đối diện phòng Như Nguyệt. Đó là căn hộ của ông giáo Huy, anh họ Thanh Nam. Gia đình ông giáo kéo về Sài Gòn để chữa bệnh cho bà giáo đã hơn hai tháng.
       Trong vòng một tuần Nguyệt và Thanh Nam trở thành đôi bạn thân. Nguyệt thảo luận không chán với anh ta về âm nhạc, ô tô, máy móc; về đua ngựa, bơi lội, phim ảnh; về giới trí thức, thương gia gộc, huê hụi… Cô chăm chỉ hướng dẫn anh ta thăm các thắng cảnh trong những ngày nghỉ. Cô nói: “Nam là một kỳ quan đổ nát… Dù chỉ còn có cái nền, nhưng đó là nền của kỳ quan!” Rồi Như Nguyệt liên tục đưa cái bóng dáng của kỳ quan này đi tham dự các tiệc tùng ở cơ quan, ở các nơi thân quen. Cô nói, như anh nhà quê khoe của: “Nam biết khiêu vũ từ hồi mười ba tuổi. Nhờ anh ấy mình biết thêm được nhiều bước mới.” Không hiểu sao Tiệp không thích Thanh Nam, ngay từ khi chưa nói chuyện với anh ta. Nhận xét thoáng qua thì Nam cũng dễ mến. Anh ta ít nói, và thường nói chuyện với giọng nhỏ nhẹ, chậm, hơi uốn éo. Anh ta thích nghe nhạc và ngủ, ngủ khá nhiều… “Anh Nam là sư tổ, tôi chưa gặp ai nhảy giỏi đến thế. Anh ấy nói: trước, đã có một thời gian khá dài công việc chính của ảnh là ăn, ngủ và nhảy nhót”. Và Nguyệt tiếp, giọng mơ màng: “Bạn nên biết điều này, Thanh Nam chỉ rong chơi thôi, hoàn toàn không làm gì, và anh ấy nói, sẽ cứ như thế mười năm, hai mươi năm nữa. Đừng đánh giá con người theo hình thức bề ngoài mà lầm. Nhà Nam tuột xích nhưng vẫn còn giàu gấp chục lần hạng chúng mình.”
*
       Tiệp lại về Lê Lợi, như đã về hằng đêm trong ba tháng qua. Nhưng nay mọi sự đã khác trước nhiều. Không thể nào tìm lại được bầu không khí trong sáng đã mất. Tiệp tiếc rẻ: “Nếu như ta không biết “sự cố” này thì có lẽ tốt hơn; thì vài hôm nữa, lúc rời khỏi đây, ta sẽ mang theo một thành phố lung linh đầy chất thơ, với đồi thông, thác hồ, sương mù. Và ta mang theo một Như Nguyệt thanh thoát, cao sang, một hình tượng sáng rỡ, lấp lánh… Bây giờ, tuy chẳng có một trận giông bão nào nổi lên, không một quả bom nào phát nổ, nhưng không còn một thứ gì nguyên vẹn. Đã tan hết những lớp vỏ bọc lóng lánh.”
       Hôm đó, lớp Tiệp được nghỉ đột xuất một buổi, nên khác với thường lệ, Tiệp trở về vào lúc 9 giờ sáng, và gặp… sự cố. Tiệp vừa đến trước cửa thì bé Hương, con ông Doanh bưu điện, trờ tới. Cô bé chỉ phòng ông Huy, thì thào:
       “Chú Nam và cô Nguyệt ôm nhau.”
       Tiệp bật ngửa, sửng sốt. Hương kéo tay Tiệp: “Chú tới mà xem.”
       Trên cánh cửa lớn, nằm cao hơn ổ khóa một chút, có một cái lỗ nhỏ. Nhìn qua đó Tiệp… cảm thấy người mình như bồng bềnh, choáng váng, như vừa đánh mất một món tiền to, như bị lường gạt. Một thất vọng lớn, quá lớn. “Lỡ xa, em nhé nhớ nhau hoài.” Sẽ xa đấy, nhưng chẳng biết rồi ra có còn chút gì để chúng ta nhớ nhau không!
*
       Sau khóa học, Tiệp về làm việc tại một tỉnh duyên hải miền Trung, sáu năm qua không có dịp trở lại Cao nguyên, không gặp lại Như Nguyệt. Đến cuối năm kia Tiệp nghe tin Như Nguyệt mất việc, ra khỏi ngân hàng vì dính líu vào một vụ “tiêu cực”. Nguyệt về Chợ Lớn, đứng bán ở một sạp hàng xén trong một chợ nhỏ, và cô vẫn chưa lập gia đình… Đầu tháng Mười vừa qua anh Dương cho Tiệp biết mới gặp Như Nguyệt ở Biên Hòa. Cô ấy ngồi bán cháo gà gần rạp hát Biên Hùng. “Nguyệt già kinh khủng, ăn vận lùi xùi, trông thảm bỏ mẹ!”
       Như Nguyệt không qua làm ở một ngân hàng hay hãng, xưởng nào khác? Sao cô ấy rời bỏ thế giới của những con số, những giấy bút? Tiệp nghĩ không ra... Bán cháo gà cũng là một nghề như những nghề khác. Số người đạt được sở nguyện, thỏa mãn với vị trí, với hoàn cảnh sống của mình trong xã hội chỉ là con số ít. Con đường đời của người ta thường không bằng phẳng… Biết vậy, nhưng sao Tiệp cứ muốn kêu lên, như những bà già thực thà, chất phác ở quê vẫn kêu mỗi khi ngạc nhiên: quỉ thần ơi! ./.


(*)  Thơ của Phạm Cao Hoàng.

5 thg 9, 2011

BÀN TAY ẤM ÁP


       Nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Anh rủ nhà văn Thanh Quang đi ăn tối. Hai người ra khỏi Nhà sáng tác lúc đèn đường vừa bật sáng. Thái Anh muốn đi bộ, để ngắm Đà Lạt về đêm lần cuối. Đường hẹp, điện mờ, vắng người. Từ đây lên chợ lớn khoảng hai cây số. Điện yếu, tù mù, như các cột đèn thắp bằng dầu. Càng hay, nó mờ mờ nhân ảnh, lãng mạn!
       Đoàn văn nghệ sĩ của tỉnh miền biển lên đây nghỉ ngơi, sáng tác trong nửa tháng. Nhạc sĩ, nhà văn, nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ, mỗi ngành ba bốn người. Du ngoạn, thăm thú nơi này nơi kia là chính. Chuyện viết lách, sáng tạo, nghiên cứu chỉ được coi như thủ tục, nghi thức. Phần đông đã có sẵn tác phẩm hoàn chỉnh, cất kỹ trong cặp, khi cần có thể “nộp bản, báo cáo” lúc nào cũng được… Hai tuần qua đi, khá nhanh.
       “Mai về, anh buồn không?”
       “Không mừng, chẳng buồn… thực ra, nếu đi một mình, anh chỉ ở đây chừng năm ngày.”
       “Thế à, anh khó tính đấy.”
       “Buổi sáng và ban đêm đẹp, nhưng trưa chiều thì sao sao ấy… bụi bặm, chói gắt, khó thở.”
       “Nó như sân khấu, phải có đèn màu, lúc xanh lúc đỏ mới tạo được không khí kịch”
       “Núi non bao quanh, thung lũng, không nhìn thấy xa, gây cho ta cảm giác…”
       “Đồi, hồ, thác nước đẹp đấy nhưng nhìn nhiều lần thì cũng…”
       “Tối mai, vào giờ này có lẽ mình ngồi xem phim truyện trên ti-vi, tối mốt cũng thế, và mình sẽ nghĩ về Đà Lạt như…”
       Thái Anh cười. Trời trong nhưng không thấy sao. Đây là khu phố nghèo, nhà san sát, nhỏ, thấp, xưa cũ. Trần trụi, dây điện ngang dọc, ăng-ten truyền hình tua tủa. Không thấy hoa mọc bên đường. Chất Đà Lạt không vào được trong các ngóc ngách, ngõ hẻm?
       “Em đã bấm hết tám cuộn phim.”
       “Em xài kỹ đấy. Văn Sơn đã chơi mười bốn cuộn.”
       “Số lượng chẳng nói lên điều gì, chỉ cần một ảnh đạt là sướng mê.”
       Đi qua nhiều tiệm tạp hóa, một lớp học đêm, một quán cà phê, một ngôi chùa nhỏ. Thái Anh nói:
       “Ồn thế này làm sao tu… Các thầy có uống cà phê không?”
       Xưa kia, khi mới xây chùa, có lẽ ở đây còn hoang vu. “Ai lên xứ hoa đào, đừng quên mang về một cành hoa.” Thái Anh hát nhỏ. Mùa này anh đào chưa ra hoa.
       “Anh nghe chú Bá Phước hát bài này chưa, mùi ác!”
       Những câu ca buồn khiến người ta nhớ lại những tháng ngày đã qua, những kỷ niệm bảng lảng, phai mờ xa lắc.
       “Sáng sớm em sẽ đem bình hoa phòng em qua để cạnh bình hoa của anh, không thì lúc chúng ta đi rồi, ở lại một mình nó sẽ buồn lắm!”
       Cái bình hoa buồn? Ý nghĩ ngộ nghĩnh đó làm Quang giật mình.
       “Em biết anh đang nghĩ gì không?”
       “Làm sao biết”
       “Em nghệ sĩ thứ thiệt, tâm hồn đầy ắp mộng mơ mà sao cứ sống một mình.”
       Nhờ chuyến đi này Quang và Thái Anh thân nhau. Trong Nhà sáng tác, phòng của hai người kề nhau… Thái Anh mượn chiếc gắn máy cà khổ của ông anh họ, suốt ngày đi thăm các thắng cảnh, các buôn làng vùng sâu để săn ảnh. Quang hơi khác. Sau hai ngày cùng đoàn dạo một vòng khắp những nơi cần thăm, Quang nằm nhà đọc sách và ngủ. Anh than: “Mỏng quá, cũng chỉ bấy nhiêu chỗ ấy, đơn điệu, chán ngắt.” Anh ngủ, ngủ đến sưng mắt. Thế nên khi nghe Thái Anh cần “tài xế, vệ sĩ” để tham quan các huyện xa, Quang xung phong ngay. Đi chơi, vui là chủ yếu.
       “Dùng anh là đúng người đúng việc… Phí của, mấy ngày qua không biết, em đi một mình mệt đứ đừ… Chịu khó đi với em, anh sẽ thu được nhiều cái lợi… Biết đâu, vào các buôn làng anh sẽ chộp được nhiều chuyện hay để viết.”
       “Thì đi, gần em là anh thích rồi.”
       Thái Anh đùa: “Anh muốn trả công bằng tiền hay bằng sản phẩm?”
       “Người cao cả như anh rất dị ứng với vật chất tủn mủn. Ngồi xe, em cứ ôm anh, ôm chặt vào… chỉ vậy, chẳng cần tiền bạc gì ráo!”
       Thái Anh cười: “Các quý ông ma tà, trăm ông như một!”
       Qua hai đường nhỏ, rẽ trái, vào một đường lớn. Đoạn này nhà đẹp, nhiều biệt thự. Chỉ vài người đi bộ. Xe gắn máy chạy xuôi ngược, vun vút.
       “Em mê những phố đi bộ của các nước châu Âu… Hôm qua trả xe, anh Khoa hỏi: Đà Lạt đẹp không. Em đáp, đẹp lắm, hơn đứt Pleiku, Kon Tum. Lúc ra về, em nói, thú thực em chưa biết Kon Tum, Pleiku!”
       “Ở đây anh thích nhất là những đồi thông. Pleiku cũng có thông, nhưng không đẹp bằng.”
       Hai người tấp vào một quán cơm nhỏ, gần chợ. Quán bình dân, đông khách. Bảng thực đơn khá dài nhưng chẳng món nào đáng gọi là đặc sản. Khách, toàn đàn ông, cắm cúi ăn.
       “Nghe nói cà phê Tùng nổi tiếng, anh đến chưa?”
       “Gần đây thôi, ở khu Hòa Bình, cạnh rạp xi-nê, năm 1998 anh có ghé… Trước kia Tùng có hai ưu điểm: cà phê ngon và nhạc hay, nay thì nhờ cái mác cổ xưa, nhưng nó nằm giữa phố, không thơ mộng… Mấy năm gần đây anh không thăm những nơi được thiên hạ ca tụng ồn ào, vì đọc được câu: ra Huế bạn ngủ đò sông Hương, lên Đắc Lắc bạn cỡi voi, vào Sài Gòn bạn thăm Đầm Sen thì bạn không phải người kém cỏi, nhưng cũng chẳng đặc biệt.”
       Thái Anh mua mấy tờ vé số của một bé gái có gương mặt buồn rầu. Nhiều người bán vận may quá … Bữa cơm kéo dài non một tiếng. Quang luôn miệng khen ngon. Ngon thật, bởi anh đã bỏ bữa cơm trưa. Ăn sáng lúc 9 giờ, trưa chưa kịp đói. “Ra Huế ngủ đò, cũng như lên đây thì thăm vườn hoa thành phố, chùa Tuyền Lâm, thung lũng tình yêu… cũng như giày dép phải là Biti’s, cà phê thì Trung Nguyên, quần áo thì Việt Tiến!”
*
       Quay về, anh chị lại đi bộ, theo lối mới, vòng qua phía nam hồ Xuân Hương. Đường này rộng và sáng sủa. Một nhà nhiều tầng mới xây. Khách sạn Palace lộng lẫy.
       “Lạ, sao em sống một mình.”
       “Một mình, bốn mươi xuân, có gì lạ… một mình nhưng vẫn yêu đời, không cô đơn… Chẳng ai mướn anh thương hại.”
       Có một lúc, chừng hơn mười phút, họ im lặng đi bên nhau, không nói tiếng nào.
       “Vào các buôn xa ta sẽ thấy đồng bào thiểu số không biết trồng hoa.”
       Quang đi sát vào Thái Anh.
       “Lạnh không?”
       “Hơi lạnh.” Nàng hít hà.
       “Thế này mới là Cao nguyên.” Quang đọc thơ: “Tưởng đụng đầu ngàn mây, Khi ta về Đà Lạt, Người tình trong mơ đây, Bao năm giờ mới gặp.”
       “Hay, anh đọc tiếp nghe.”
       “Lòng bồi hồi khẽ hát, Mây xuống phố cuối chiều, Dã quì vàng bên thác, Mơ mơ đồi thông reo.”(1)
       Chờ cho thơ ngấm vào người nghe, Quang nói nhỏ:
       “Cho anh cầm tay em chút.”
       “Sao phải cầm tay, bổ béo gì đâu… về mà cầm tay vợ!”
       Thái Anh ra dáng nghiêm trang. Quang vẫn cầm được. Bóp nhẹ bàn tay nhỏ nhắn, Quang khen:
       “Ấm chi lạ!… Đây chín ngày làm vệ sĩ tận tụy, lẽ nào tiếc nhau cái chuyện cỏn con.”
       Thái Anh than: “Các quý ông lươn lẹo, ngàn ông như một!”
       Gió nhẹ,  chỉ vừa đủ vuốt ve cây lá. Những hàng thông xa mờ mờ, nhiều cây như không có ngọn. Hình như sương mù vừa hiện ra.
       “Bông hoa không ăn được mà người ta nuôi dưỡng chúng từ đời này sang đời nọ… Anh phỏng vấn em, rời Đà Lạt em nhớ gì đi.”
       “Hỏi à? Thưa nghệ sĩ ưu tú, khi rời khỏi đây chị nhớ gì?”
       “Thưa ông, tôi nhớ hoa. … Nếu tóm Sài Gòn vào chữ “trẻ”, Nha Trang vào chữ “biển” thì Đà Lạt là “hoa”… Thiếu hoa sẽ không có Đà Lạt.”
       Quang lại đọc thơ: “Tiếng ngựa xe lốc cốc, Người về bên kia đồi, Sương nhòa trên đỉnh dốc, Tôi đứng nhìn mây trôi.”
       “Thơ tượng hình, như phác thảo tranh thủy mặc!… Thơ cũng giống hoa, không ăn được, mà con người vẫn gìn giữ nó!… Đi chậm chút, anh.”
       “Ờ, chậm đây… đi nhanh là đặc điểm của dân quê, anh muốn bỏ nó và tật nói lớn nhưng chưa được.”
       Đường vắng tanh, chẳng lẽ mới giờ này mọi người đã lên giường.
       “Tự nhiên em muốn hát to lên… Sau câu Tôi đứng nhìn mây trôi còn gì nữa?”
       “Thông đứng kề bên tôi, Như người già từng trải, Còn tôi thì vụng dại, Chẳng tính nổi điều chi…”
       “Ai mà chả vụng dại!”
       “Trăm năm nữa chắc gì, Có một lần tái ngộ…”(2)
       “Buồn hết sức!”
       “Chuyện buồn được người ta nhớ lâu.”
       Đến quãng đường thưa nhà, tối hơn.
       “Em chưa thăm nhà thờ con gà.”
       “Đằng kia, sau lưng chúng mình, ban ngày mới thấy, nó chỉ có con gà sắt trên nóc là đáng kể.”
       Gió lào xào trên vòm thông. Những chiếc lá khô chạy trên đường.
       “Hai lần lên đây nhưng anh vẫn chưa biết mấy cảnh nằm trong phố: đồi Cù, thác Cam Ly, dinh Bảo Đại, vì nghe nhiều người bảo đó chỉ là những món xinh xinh, như cà phê Tùng vậy.”
       Thái Anh cười hích hích: “Ví von thú vị đấy.”
       “Báo chí nói, nếu các ông chủ chịu khó suy nghĩ thì thành phố này còn đẹp hơn, và có thể có thêm nhiều dịch vụ mới để câu khách.”
       Gần tới nhà, Thái Anh rút tay lại, đi nhích xa Quang một chút.
       “Thưa nhà văn Thanh Quang, lúc này ông nghĩ gì?”
       “Tôi nghĩ, không biết đến bao giờ mình lên đây lần nữa.”
       “Chỉ vài ba năm thôi, sẽ có ngày tái ngộ.”
*
       Về đến Nhà sáng tác, vừa bước lên thềm anh chị đã gặp ông Nguyên, nhà văn, trưởng đoàn. Ông cho biết, 7 giờ sáng mai lên xe. “Muốn cho người tỉnh táo, khỏe khoắn, nhị vị nên đi ngủ sớm.” Trong phòng khách có nhiều người, có cả bia rượu, kẻ nằm người ngồi, và dường như chẳng ai còn tỉnh táo! Cuộc họp mặt trước khi chia tay. Ca nhạc, đọc thơ. Mực khô và đậu phộng rang. Nhà thơ trẻ Phan Dương kéo Quang ngồi xuống, ấn vào tay anh ly bia đầy. Tâm sự, thức với nhau đêm này, mai về rồi… Về là sa ngay vào vòng thực tế đời thường quay cuồng, chán ngấy; là hấp ta hấp tấp, gạo cá điện nước, miệng nói chân bước, công kia việc nọ, khó gặp thơ ca lắm! Nhạc sĩ Bá Phước, người lớn tuổi nhất đoàn vừa đàn vừa hát “Ai lên xứ hoa đào” của Hoàng Nguyên: “Ôi, màu hoa đào, màu hoa đào, chiều xuân nào…” Giọng ông trầm, ấm, ngọt ngào: “Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa.”.
       Nửa đêm, tiệc rượu tan. Quang về phòng, nằm mãi vẫn không ngủ được. Cái bàn tay trắng, mềm mại, ấm nóng ấy hiện ra ám ảnh anh. Thái Anh chưa nói gì, không hẹn hò, nhưng tay trong tay trên một quãng đường dài như thế… chẳng phải có tình ý là gì? Còn hơn một lời hò hẹn! Quang dậy, mở cửa ra ngoài, đến trước phòng nàng. Cửa khóa, bốn bề yên lặng. “Nên ngủ sớm, 7 giờ lên đường.” Sáng về rồi, chẳng còn dịp nào khác. Quang gõ cửa, cộc cộc, hai lần, bốn tiếng, như gõ vào hư không!… Trở về phòng mình, nằm một lúc, nhờ sự tác động của mấy li bia, Quang thiếp ngủ, quên mất cái bàn tay…
       Lúc gần 4 giờ sáng, Thái Anh dựng ông trưởng đoàn dậy, nhờ giúp đỡ. Đến phòng cô ta, nhà văn thấy ông nhạc sĩ Bá Phước nằm thẳng đuột trên giường, mặt trắng nhợt, sùi bọt mép. Hoảng sợ, ông Nguyên hô hoán ầm lên!
       Cuộc chơi chấm dứt. Kết thúc một hành trình. Vở kịch hạ màn! Thái Anh ở lại chăm sóc “chú Phước” trong bệnh viện. Đoàn văn nghệ sĩ lên xe, từ biệt thành phố sương mù lúc 8 giờ. “Tiếng ngựa xe lốc cốc, Người về bên kia đồi.” Về thôi. Về để gặp lại những nhà những cảnh cũ mòn, những bận rộn những lo toan thấp bé ./.


(1)  Thơ Trần Dzạ Lữ.
(2)  Thơ Nguyễn Chí Hiếu.