Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn: Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn: Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

29 thg 8, 2014

BIẾN MẤT




        Bà Cai ẵm bé Mơ đi chơi, để Tím tự do đón bạn. Tương đến, chở theo một thùng giấy, chắc là trái cây hoặc thịt, quà tặng bà Cai, như thường lệ.
        “Con nói với Tương, đừng biếu xén nữa, nhìn giống y hối lộ, dì không thích”. Bà Cai cằn nhằn nhiều lần, nhưng sự việc vẫn không thay đổi… Mối tình của đôi bạn vàng đã kéo dài hơn năm, mặn nồng và bấp bênh. Tương làm ở lò heo chợ Cát. Tím giúp việc nhà cho bà Thọ. Anh chị đều nghèo, ở quê lên. Hai công việc cùng thấp, kiểu bạ đâu làm đấy, không phải nghề.
        Ở lò chợ Cát đêm nào cũng có gần hai trăm con heo bị lên bàn thiếc, từ bỏ cõi đời. “Cái lò sát sanh gớm ghiếc”, bà Cai nói “con biểu thằng Tương xoay xở kiếm việc khác, làm ở đó mệt lắm”. Tím buồn xo. “Đâu dễ tìm việc, dì, người đông như ong như kiến. Tương thường nói, dù mình không hại con gì, nhưng xưa nay vẫn ăn thịt heo gà cá chim thì…”. Bà Cai gạt phắt: “Không thì là, con ơi, ăn vài miếng và mỗi đêm hạ thủ chục con heo khác nhau xa”. “Anh Tương không muốn làm nghề này, khổ nỗi mẹ anh ấy phải ăn phải uống thuốc đều đều, hai đứa em thì cần đi học”.
        Cuộc hội ngộ diễn ra như mọi khi. Tím chốt cửa, không bật đèn. Tương hấp tấp, chụp giựt, hôn loạn, sờ mó khắp. “Cứ như con sói cuồng”. Tím cười. Tương sống khác đời, thiên hạ ban ngày làm lụng, đêm làm tình, anh ta ngược lại. “Không phải sói, anh giống hề say”. “Sao lúc nào anh cũng thèm lạt, đói khát?”. “Không biết, tự nhiên nó thế”. “Em như mụ đĩ đói”. “Đĩ?”. “Ngủ nghê dưới ánh mặt trời thế này!”. “Nói như hát cải lương… Em không đĩ, anh quí trọng… anh hun chưn, hun mông em”. Tím thở khì. “Trời bày ra việc gì cũng có cái lý của ổng… trò này phải diễn ban đêm”. “Hiểu rồi!”. “Anh chở thùng gì lớn vậy?”. “Sầu riêng, thịt bò, cá sặc… Hôm nọ dì Năm (Cai) nói nhớ sầu riêng”. Trận địa là cái giường cũ. Cọt kẹt, cục kịch, hài hước, êm tai. Tím kể chuyện bà Cai phê phán việc giết gà heo. Đồ tể. Đao phủ. Đó cũng là nghề cần thiết, nhưng không ổn, giống nghề đứng đường của gái ăn sương, nhàn hạ nhưng không ổn. Nên tìm việc khác làm ăn. Người ta bảo, mỗi tháng thành phố này xơi gọn tám trăm con bò, gần vạn heo, vô số vịt gà. Không biết thì thôi, kể ra thấy sợ. Sợ không? Nếu chẳng thấy gì là đầu óc có vấn đề… Nhưng cuộc sống là thế. Phải ăn, ăn để có sức làm lụng. Có thể đổ lỗi, các thứ giết chóc khủng khiếp này do trời bày ra, nhưng nên phân chia phần vụ hạ sát, giết mổ cho nhiều người, mỗi người làm một giai đoạn ngắn. Sao trời không đặt định, con người chỉ cần ăn chút ít hoa quả là đủ sống? “Anh thọc… anh chọc tiết em!”. “Em nói gì?”. “Hôm trước anh nói thế, quên sao?”. “À, ừ, lúc đó anh say”. Cục cục, cọt kẹt, cái giường kêu theo nhịp không đều. Tím cười hơi lớn. “Em cười gì vậy?”. “Em nghĩ, trong một bữa tiệc nào đó, đông đúc lộng lẫy như cảnh trong các phim truyện, anh mặc vét, cà vạt đỏ, cặp tay em, chúng ta đi trên thảm đỏ, rồi em hớn hở giới thiệu anh với mọi người: đây là ông Đậu Tương, đao phủ ưu tú của hẻm 20 phường 30!”.
        Bà Cai kể chuyện một ông làm nghề đập đầu bò, thiến heo, ở cạnh nhà bà, dưới quê. Đem so với mấy vị mần heo ở chợ Cát thì ông thợ thiến bé nhỏ, chẳng thấm vào đâu, nhưng hậu vận ông ta đen, bi thảm. “Con nghe nói về nhà máy xơi tái gà loại khủng ở Biên Hòa chưa?”. Đó là lò mổ gà lớn, dạng công nghiệp, máy móc lổn nhổn, công nhân đông, mỗi ngày hóa kiếp hơn vạn con gà. Đơn giản, bình thường, có sao đâu? Nhiều người nói vậy. Theo mắt nhìn kinh doanh, nó – cái lò ấy – cũng tựa như khu vườn mỗi sáng cung cấp trăm giỏ trái chín, như nhà máy sữa tung ra những thùng sữa tươi. Và, điều cần thấy là, các ông chủ nhà máy ấy ngày càng phất, phỡn, lớn, không có tí dấu vết đồ tể nào bám trên quần áo, mặt mũi họ. Bà Cai nhấn mạnh: “Mặc kệ, để họ nổi, ta đi đường ta. Cũng như thấy bọn lừa đảo, gian tà lên chân, cứ để chúng lên, mình không thèm muốn, đừng bắt chước làm theo. Nói dễ, nhưng không thèm là điều khó”. Bà Cai giúp việc nhà cho bà Thọ đã hơn bốn năm. Bà giữ nhà, trông trẻ. Tím đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, chăm sóc chim cảnh hoa kiểng. Cùng thân phận làm thuê ở mướn, hai người mau chóng thân nhau. Tím thích bà bạn già, do bà thiệt thà vui tính. Bà hay nói, kiếp này ta bần hàn tệ lậu thì cố kiếm cái gì đấy để dành cho kiếp sau. “Có kiếp sau, con ạ, cây cỏ bò ngựa chim chóc không có, nhưng người có, các thầy ở chùa Phổ Đà nói về vụ này hay lắm. Am miếu đền chùa nhà thờ đã sống mấy ngàn năm, và còn sống mạnh, là bằng chứng cho điều đó… Con ơi, nên nhớ, lúc nào trên đời cũng có hàng triệu tu sĩ, đó chính là lương tâm loài người, họ không phải những gã ăn hại, chập mạch, mất trí”. Bà nói có lý. Sống mãi trong môi trường máu me đâm xẻo ấy trước sau người ta cũng sẽ lệch lạc, phát cuồng. Thì đấy, trong lần say đậm sau cuộc nhậu lớn, ôm Tím trong tay, Tương lè nhè giọng mê sảng: “Anh chọc tiết em”.
         Hết hiệp một, anh chị giải lao, như đá banh. Hơi hồi hộp. Không phải nhà mình, làm sao thoải mái. Bà Thọ, chủ nhà, có thể về bất ngờ. Bà ít khi xuống đây, căn phòng chứa đồ cũ, nơi ở của người giúp việc. Biết vậy, nhưng những tim vẫn đập nhanh, những mắt cứ lấm lét – Tương mở thùng quà, đem thịt cá cất vào tủ. Tím pha cà phê… Vào hiệp hai, không khí có vẻ trầm lắng, buồn. “Mãi mà em vẫn không quen”. “Quen gì?”. “Trò tụi mình đang làm, sao nó giống như heo bò”. “Đừng nghĩ xa, biết làm sao bây giờ, trước nay vẫn vậy mà”. “Em muốn nói, lẽ ra thứ này nên diễn trong bóng đêm”. “Biết rồi!”. Cục kịch. Cọt kẹt. Cái giường khốn khổ. Anh thọc huyết em. Lôi thôi và buồn cười.
        Xong việc, Tương kể lại bữa tiệc chia tay đồng nghiệp của anh, cách đây bốn hôm. Người ra đi là Thô, mới làm ở lò bảy tháng. Anh Trai, tổ trưởng, gương mặt kỳ cựu của lò chợ Cát, bỏ tiền ra chiêu đãi – Thô nhỏ con, trắng, dáng học trò, khó hòa hợp với nghề này. Nó nói, kẹt quá, không làm thì đói, chẳng lẽ đi ăn mày, nên nó chui vào đây, hồi còn ở nhà cắt cổ con vịt nó cũng ngại. “Tuần đầu tiên, tận mắt thấy đâm đập thọc cắt với máu me hấp hối chết, em nuốt cơm không biết ngon”. “Trước kia anh cũng vậy, anh cũng là người”. Trai gục gặc, thông cảm. “Giờ em hiểu, thương cho mấy cô nàng thậm thụt đứng đường ban đêm”. Anh Trai trợn mắt. “Cái đó thì chưa chắc, bé ạ. Tụi con gái ma lắm, nhiều đứa nằm ngửa vì lười, chẳng phải túng đói cùng cực gì ráo!”. Thô tâm sự, một người bạn thân vừa tìm được một việc làm tốt, lương khá, nhường cho nó. Chỗ này cách thành phố hơn 20 cây, nhưng không trở ngại lắm. “Em đi, dứt khoát, chẳng vương vấn gì?”. Trai hỏi. “Dạ. Em sẽ nhớ các anh, anh và Tương tốt”. Thô đáp, lí nhí. Trai nói, anh không lạ chuyện này, sáu năm qua đã có nhiều người ra đi, hơn mười người. Đến rồi đi, như đất trời chuyển vần, bình minh rồi hoàng hôn. Dễ sợ. Sợ là phải. “Ai cũng ăn thịt ăn cá, nhưng không phải ai cũng muốn giết chóc. Vì sao anh làm lâu được? Bởi anh nghĩ, trời cao sẽ thấu hiểu anh, sau này các tòa án ở tít trên mây hay dưới âm ty sẽ thông cảm, châm chước, không phạt nặng anh. Nghĩ coi, anh đâu muốn ra đời trong cái gia đình nghèo mạt… Nhớ xem, mỗi ngư dân giết bao triệu mực cá tôm cua trong chuỗi năm lênh đênh trên biển của họ? Cá cũng như heo, sát sanh là sát sanh. Có quan, có lính. Ai cũng ngồi trong ghế bành thì ai gieo trồng gặt hái hoa quả đậu lúa?”. Trai cười. “Nghĩ thế nên anh trụ được ở lò lâu. Ý nghĩ đen, ngụy biện, phải không? Uống đi, mừng em tìm được con đường sáng. Thô, em nói gì đi”. Say mềm, Thô nắm tay Trai, ấp úng “Anh cho em nói thiệt, em vẫn không hiểu, sao anh có thể làm đến sáu năm. Lẽ ra không nên hỏi vậy, em biết, nhưng từ mai chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa”. Cuộc nhậu trôi về cuối, mặt Trai tái, anh nói ít, cười nhiều. Càng uống anh càng vui. Thô thì ngược lại, nó ủ rũ như vừa đánh mất bạc vàng. Trai moi túi quần lấy ra một chiếc điện thoại. Anh nói, cái này cũ, giá chỉ 4 triệu nhưng là của hiếm, tìm khắp thành phố chưa chắc gặp chiếc thứ hai cùng loại, anh sẽ tặng nó cho đứa nào nghĩ ra được cách có thể khóc ngay trong vòng 3 phút. Khóc như đào kép diễn kịch. “Nào, 3 phút bắt đầu”. Hai chàng trẻ ngồi yên. Năm, rồi mười phút qua mau. “30 phút, 3 giờ cũng bó tay, khó quá!”. Thô chịu thua. Tương cũng thua. Trai khoái chí. Anh tiết lộ, anh có tài lạ, có thể khóc dễ dàng, ngay lập tức, khi nghĩ (hoặc nghe nói) đến chuyện chia ly, lần cuối, tử biệt, từ giã. Hồi nhỏ đi coi hát, thấy đào kép khóc anh khóc theo, luôn luôn. “Muốn anh diễn thử không?”. Tương xua tay “Thôi, khóc mất vui. Kể ra cũng lạ đấy… Em thì khác, rất khó khóc. Hồi ông nội em mất, trong lễ cuối, trước khi di quan, nhiều người khóc, em tỉnh queo. Má em bảo nhỏ, khóc chút đi con, nghe mắc cười, em cười!”… Bữa tiệc ba người kéo dài từ 8 giờ tối đến 2 giờ sáng. Thô khóc. Trai khóc. Chai đá như vậy mà cũng dễ xúc động. Chắc Trai nghĩ về phút chia tay, ly biệt? Anh khóc ngon lành, như vợ chết.
        “Tím ơi, pha sữa cho Mơ”. Bà Cai gọi. Tím dạ lớn. Đây là mật khẩu, báo cho anh chị biết, cuộc gặp mặt đã hơi lâu.
        Mười hai ngày sau.
        Bảy giờ sáng, Tương đến tìm Tím, sớm hơn thường lệ. Bà Cai đón chàng khách quen với bộ mặt ủ dột. “Tím đi rồi, cháu à”. “Tím đi, đi đâu dì?”. Tương sửng người. “Nó bỏ đi, chẳng nói với ai tiếng nào, ba ngày rồi”. Tương ngồi thụp xuống thềm, như vấp té. “Bà Thọ gọi điện hỏi cha nó, ông ấy cuống cuồng chạy ngay lên đây, thất thần, lo rầu”. Tương chở theo một bao nhỏ, như các lần trước, chắc là quà hối lộ. Bà Cai mời khách vào nhà uống trà, nhưng Tương lắc đầu. “Theo dì, sao Tím bỏ đi?”. Bà Cai chịu thua. Bà Thọ bảo, bà nghĩ không ra vì sao Tím đi, không nói không chào ai, như trốn chạy. “Tím, Tím ơi!”. Tương rên, như gã rồ. Hôm trước Thô ra đi, nay Tím bỏ đi, vậy là họ vứt chỗ tối ám, tìm nơi sáng mát? “Chắc Tím bỏ cháu, cô ấy ghê tởm nghề đồ tể”. Ngẫm nghĩ một lúc, bà Cai an ủi Tương: “Chưa chắc đâu, cháu… ta chờ, vài hôm nữa xem sao”.
        Ngồi chờ, chắc phải vậy, còn biết làm gì hơn. Tương nói, như tự thú. “Rõ ràng trên đời này chẳng ai yêu nghề giết mổ. Nó dữ dằn, bạo liệt. Nó tàn nhẫn, bất nhân. Bộ mặt thật của nó phơi bày rành rành, ai cũng nhìn thấy. Ông Gia, chủ lò, thấy rõ hơn ai hết, nên những thợ lành nghề thường được thưởng to, bên cạnh lương tháng luôn có quà đặc biệt. Tương tính, ráng làm vài tháng nữa, kiếm thêm mớ tiền rồi đổi nghề. Sẽ đổi, chắc chắn. Tím đã nói nhiều lần, đây là công việc vững vàng nhưng không ổn. Phải nghĩ đến con đường dài sau này, hậu vận, tích đức. Ta không làm được việc thiện thì cũng không nên tạo ác. Chuyển qua nghề khác, có thể ít lương hơn, có khi ngày chỉ ăn một bữa, cũng phải chuyển. “Ra đi, chắc nó đã nhìn thấy con đường mới”, bà Cai nói, như vỗ về, trấn an mình, “đừng lo rầu quá, cháu ạ, Tím khôn ngoan, biết nghĩ”. Tương về, để lại bao quà tặng bà Cai, như thực hiện nghi lễ hối lộ cuối cùng ./.

15 thg 12, 2013

PHỐ NHỎ ĐÈN VÀNG



        Tám Lương về Tân Thuận thăm chị Giúp – bà chị dâu – và ba đứa cháu. Vì nghèo và ở xa nên non chục năm qua Tám Lương “quên” chuyện lui tới, thăm nom.
        Đến nơi ông thấy trước mặt một cảnh tượng đáng buồn: nhà cửa xập xệ, trống huếch hoác, chị Giúp bệnh quặt quẹo, nằm dán trên giường, người mỏng như tờ giấy. Đã thế, chị lại đãng trí, thường nói chuyện nọ xọ sang chuyện kia. Người nói cho ông biết mọi chuyện một cách cặn kẽ, rành mạch là Linh, con gái lớn của chị Giúp, mười bảy tuổi.
        “Trước đây, lúc má cháu còn mạnh, cháu chỉ biết đi học và làm việc nhà lặt vặt, sướng như con nhà giàu. Đến khi má cháu lâm bệnh, nhà không còn gạo tiền, không có món gì đáng giá để bán, cháu phải xông ra tranh sống giữa “chợ đời”. Cực nhọc vô cùng, chú ạ. Không phải chỉ khó khăn, mà là dễ sợ. Nhưng dần dà rồi cũng quen. Cháu học lóm, quan sát, để ý, sáng ra, biết được nhiều thứ. Mình lì thì cái khổ nó cũng co! Nay có thể nói, cháu rành nghề, biết kiếm ăn, tin ở mình”.
        “Cháu làm việc gì, có nặng nhọc lắm không?”.
        “Dạ, một ngày làm việc của cháu khá dài. Năm giờ sáng cháu bưng thúng “hàng xén” chạy ra bến xe. Cháu bán linh tinh, bánh, kẹo, thuốc lá, dầu gió, bài ca vọng cổ, kim chỉ. Cháu ở bến xe suốt ngày, trưa dùng “bữa ăn nhẹ” tại chỗ. Khoảng 5 giờ chiều, xe cộ vãn, cháu về tắm giặt, nấu nướng, ăn cơm. Đến khi đèn đường bật sáng cháu chạy lên ngã năm phụ giúp chị Đào bán cà phê, tới mười, mười một giờ khuya về”.
        “Cháu làm nhiều thiệt”.
        “Dạ, túi bụi, suốt ngày cháu ở ngoài đường”.
        “Tội nghiệp cháu”.
        “Quen rồi chú à. Tội là tội cho các bạn không có việc làm, khổ sở, đói. Cháu biết có nhiều bạn như thế… Làm cũng khổ nhưng không đói”.
        “Tội nghiệp cháu, cháu còn nhỏ mà. Nhiều nhà toàn người lớn còn đói rạc nữa kia. Các cháu khổ nhưng… chú cũng nghèo. Chú vô thời cháu à. Chú không đói nhưng cũng chưa qua khỏi cái ách túng bấn”.
        “Chú ạ, hồi mới ra bán bánh ở bến xe cháu mười bốn tuổi. Còn lạ, bán chẳng được bao nhiêu, lời chỉ đủ ăn bánh mì, cháu khóc suốt… Tại đó đã có hơn hai chục đứa cỡ tuổi cháu và năm sáu cụ già. Chen được một chỗ đứng ở đó khó khổ vô kể”.
        “Vậy, tổng cộng các việc, cháu kiếm được có đủ sống không?”.
        “Dạ, cộng hai ca trong ngày, cháu thu cũng được tám, chín chục, tạm đủ chi tiêu, có tiền để má cháu uống thuốc, cho hai em đi học”.
        Tám Lương thành thực mừng cho Linh và cảm thấy dường như mình mắc phải một lỗi lớn: chỉ có thể khích lệ, động viên cháu bằng lời.
        “Chúc mừng cho cháu. Rất tiếc, chú chẳng giúp được gì cụ thể, chỉ biết an ủi suông”.
        “Dạ, cảm ơn chú. Cháu rất sung sướng. Chúng cháu không còn sợ khổ, sợ đói nữa… Kể ra, kiếm cơm ở đây cũng không khó lắm”.
        Linh tiếp:
        “Ở bến xe, ngoài chuyện đua chen kiếm ăn, cháu còn gặp nhiều vụ bầm dập. Mới đây, trong một ngày cháu bị hai trận tán tỉnh tốc hành. Buổi trưa, là một anh lơ xe đò miền Tây. Anh ta bảo đã để ý cháu từ lâu, cảm thương tình cảnh khó khổ của cháu. Anh ta nói: “Anh có ba cái nhà, hai vườn cây ăn trái rộng. Em bỏ nghề buôn bán trầy trật này đi. Về với anh em sẽ được đổi đời”. Đến xế, một ông làm trong ban trật tự bến xe tới giúi vào tay cháu một xấp tiền dày. Ông ta nói: “Anh biết em túng bấn, má bệnh nặng. Em cầm đỡ số tiền này tiêu xài. Anh coi em như em gái”. Ông ấy lớn, già chát, vợ con cả đàn, ai cũng biết”.
        Tám Lương cười:
        “Thứ chuyện này ớn thiệt, nhưng ta cương quyết, mạnh dạn chống lại chúng. Lúc nào cháu cũng phải khôn ngoan, cảnh giác”.
        “Dạ, đó mới là một, còn nhiều chuyện ly kỳ nữa, hôm nào rảnh cháu sẽ kể chú nghe”.
*
        Linh dọn cơm ra, mời ông Lương, và vội vàng ăn ngay.
        “Cháu xin phép ăn trước, để còn đi bán cà phê”.
        Cái xoong cơm nhỏ nhoi đến tức cười, ước chừng vừa bụng một nông dân trẻ. Tám Lương ăn qua loa hai lưng chén. Ngồi xe đò suốt hai ngày một đêm, thức ròng, chỉ ăn vài ổ bánh mì, nhưng ông chẳng thấy mệt, không đói.
        Cơm xong. Thằng Tú – em Linh – chạy đi chơi. Chú bé Thoại – em út – mang sách ra thềm học. Chú đọc nhẩn nha, ê a như ông già đọc truyện Tàu, nghe sốt ruột. Bà Giúp bảo Thoại:
        “Con ra quán mua gói trà – bà tiếp, như phân trần với ông Lương – tôi uống nước nấu chín, không pha trà. Tôi muốn sống đơn giản để các cháu khỏi tốn kém nhiều”.
        Tám Lương ngăn:
        “Đừng mua trà, chị Năm. Dưới nhà, tôi quen uống nước giếng, tiện lợi, mát ruột”.
        “Chú à, bệnh cứ kéo rê, không mạnh, lắm lúc tôi muốn chết phứt cho xong, để các cháu nhẹ gánh. Nhưng con Linh can ngăn, nó nói: “má không làm việc được, nhưng má là cái gốc của tụi con”. Ngẫm lại, thấy nó nói cũng đúng. Thử nghĩ, mình chết đi, mình khỏe, nhưng chị em nó ở lại trên đời, bơ vơ giữa cái đô thị thênh thang này, làm sao mình yên bụng”.
        Tám Lương mở túi xách lấy mấy gói quà ra đặt lên bàn.
        “Đem cho chị mấy cân đậu xanh, ít cân nếp”.
        Rồi ông thuật qua cho bà Giúp nghe chuyện làm ăn dưới quê, chuyện vợ con, làng xóm. Bà Giúp thở ra:
        “Hơn mười năm rồi tôi không bước ra khỏi khu phố này”.
        Tám Lương cười:
        “Chị nói giống vợ tôi. Bà ấy thường than: “Suốt đời tôi chui rúc trong cái góc làng này, như con chuột… gần hai mươi năm rồi tôi không đi quá cái chợ xã!”.
        “Ngày tháng qua nhanh, chú thấy không. Mới ngày nào… nay tụi mình đều sắp xuống lỗ”.
        “Dạ, mau lắm, như sét, như chớp”.
        “Khác chi chiêm bao… Ba con Linh mất đã bảy năm rưỡi. Tội nghiệp anh ấy. Chú biết không, anh ấy nói: “Khổ thì khổ, nhưng mình phải sống, để nuôi mấy đứa nhỏ”. Vậy mà xui làm sao, ảnh ngã bệnh, chỉ hơn ba tháng, rồi chết, lúc mới bốn chín tuổi”.
        “Người hiền như đất, như lúa, thế mà chết trẻ, trời ở không công bằng”.
        “Nhiều lúc tôi thấy chẳng có trời đất gì ráo, chú Tám à”.
        “Có chớ, chị Năm! – Tám Lương nghĩ ngợi giây lâu – Có trời. nhưng cũng như con người, đôi lúc ông ấy nghễnh ngãng, hay quên, trở chứng, bất thường!”.
        Bà Giúp đập muỗi lép bép. Bà nói nhỏ như thì thầm: “Lắm lúc tôi nhớ lại thời còn sống dưới quê. Những buổi đi cắm câu, mót lúa; những lần đi hái rau ngổ, bông súng trong đầm… Nằm, nằm mãi, nhớ đủ thứ, nhớ bệnh hoạn”.
        Ở nhà này mọi vật đều cũ mốc, bé nhỏ. Sân trước cỏn con, bằng cỡ ba chiếc chiếu. Phía sau nhà cũng chẳng hơn gì. Không gian chật hẹp, tù túng. “Dân nghèo ở miền quê có lẽ dễ sống hơn. Dưới ấy ta có thể quên cái nghèo. Ở đây thì nó bị lộ ra sờ sờ. Vậy người khổ không nên sống nơi thị thành”. Bất giác Tám Lương nghĩ thành tiếng… Nằm thiu thiu được vài phút, bỗng ông nghe tiếng một cô gái hỏi Thoại:
        “Ông khách nào vậy?”
        “Chú Tám của em đó”.
        “Chú ruột? Sao hồi giờ chị không thấy?”
        “Chú ở xa, tận trong Quảng Phước kia”.
        “Đâu, cho chị coi giò cẳng ông Tư Ếch một chút!” Cô gái cười tinh nghịch. Cô nói nhỏ, nhưng cái nhà nhỏ quá, nên không thể giữ cho tiếng nói nhỏ được.
        Cô gái vào nhà, nói với bà Giúp:
        “Má cháu biểu đem cho dì tô canh chua”.
        “Để lên bàn đó cháu – bà Giúp xuýt xoa – cháu cứ cho cái này, cái kia, dì chẳng biết lấy gì tặng lại… thôi, xin trời phù trợ má cháu”.
        Cô gái cười:
        “Mình là hàng xóm lâu đời của nhau, đừng nói đến ơn nghĩa, dì Năm à, có là bao… Nhưng mà nói đến ông Trời thì cháu xin vái ngàn vái!”.
        “Dân mình vẫn tin như thế, cháu, trời giúp người hiền lương”.
        Cô gái “hứ” rõ to.
        “Nếu có trời thì má cháu không bị giựt hụi, mất trọn số tiền chắt chiu dành dụm cả chục năm – cháu không mất tiền, mất vàng, của mồ hôi nước mắt, bóp bụng không dám ăn tiêu… Cháu có ác độc hung dữ chi mà làm đâu hỏng đó, thua hết keo này đến keo khác?”.
        Nín lặng. Bà Giúp đập muỗi. Cô gái khua ghế lịch kịch.
        “Ờ, ở đời có lắm điều chúng ta không hiểu được đâu, cháu à. Như xe đụng chết đứa bé năm tuổi, như thuyền lật làm một nhóm trai trẻ đi đám cưới chết chìm, như căn bệnh ác nghiệt giết chết ba con Linh lúc ông chưa tới năm mươi… Tất cả bọn họ chẳng ai hiểm ác”.
*
        Hơn mười một giờ khuya trời vẫn nóng bức. Tám Lương trăn trở trên ghế xếp, không ngủ được. Trong nhà, bà Giúp quạt muỗi phành phạch. Nhà này chỉ hơn xóm quê ở cái bóng điện và chiếc quạt bàn cọc cạch. “Vào giờ này, dưới mình trời đã mát rượi”, Tám Lương nghĩ. Chợt ông nghe hai anh em thằng Tú nói với nhau:
        “Mày nói với chú Tám, nghe Thoại?”.
        “Anh nói đi, em sợ”.
        “Không nói thì lát nữa mày đừng hòng xin tiền chị Thơm”.
        “Em sợ, chú lạ quá mà”.
        “Thì tao cũng sợ… nhưng, được rồi, tao sẽ nói”.
        Hai đứa thì thào, nhưng cái nhà nhỏ quá không thì thào được. Thằng Tú đến bên Tám Lương rụt rè thưa:
        “Thưa chú Tám, chị Thơm nhờ cháu hỏi chú một chuyện”.
        Tám Lương nhỏm dậy.
        “Chị Thơm nào, cháu?”
        “Dạ, cái chị lúc nãy qua cho má tô canh chua đó”.
        Nó ấp úng, nói thật khẽ:
        “Chị Thơm nhờ cháu hỏi chú Tám… có muốn… đi đêm không”.
        Tám Lương nghe rõ, nhưng chẳng hiểu thằng nhỏ nói gì.
        “Cháu nói lại, chú nghe chưa được, đi đứng làm sao?”.
        “Dạ, đi đêm đó mà… là chú qua ngủ bên nhà chị Thơm, không ngủ ở đây”.
        Tám Lương ngơ ngác.
        “Nhà chị Thơm kia kìa, sát cạnh nhà cháu”.
        Không nghe ông chú nói gì, nó thêm:
        “Mình qua đó ngủ chung với chị ấy, rồi… cho chị ít tiền”.
        Đến đây thì dù cái đầu có đầy sỏi cát cũng phải hiểu. “Trời ơi!”. Suýt chút nữa Tám Lương kêu lên. Ông nắm tay thằng Tú, lắc mạnh.
        “Sao cháu ăn nói lung tung như vậy?”.
        “Dạ – thằng bé sợ sệt – chị Thơm nhờ cháu nói… chị hứa sẽ cho cháu ba chục ngàn”.
        “Ba chục ngàn… Tiền bạc!”. Tám Lương cảm thấy xốn xang như mình vừa phạm lỗi. Rồi ông thấy ngượng, chán ngán, buồn rầu. “Ngôi nhà bên cạnh”, một căn nhà cao ráo, lớn gấp ba nhà bà Giúp, có xe máy ra vào xình xịch, sao con cái lại làm như thế?
        Linh đi bán cà phê vẫn chưa về. Một người đàn ông đẩy một chiếc xe như xe nước mía đi qua trước cửa, rao một tràng dài những tiếng khàn khàn, trầm bổng, Tám Lương chịu thua, chẳng hiểu ông ta bán thứ gì. Xe cộ vẫn chạy qua lại, náo động, không ngớt.
        “Mình như con chuột đồng, ra phố thấy gì cũng lạ… Người quá đông… Có bao nhiêu là xe… Kiểu này thì đêm nay khó ngủ nghê được”, Tám Lương nghĩ miên man – “Chuyện hai chàng ở bến xe của con Linh, và chuyện nàng Thơm đi đêm, chắc là những thứ trước kia người ta quen gọi cạm bẫy đô thành?. Thì ra thứ bẫy này ngày nay vẫn còn. Nó lập lờ, không rõ ràng nhưng có thật. Có loại dành cho người trẻ và loại cho người lớn tuổi. Không phải nó chỉ nằm trong các thơ truyện, các tuồng hát…Còn được mời đi đêm, có phải ta vẫn còn trẻ?”. Ông già bật cười rồi ngẫm nghĩ thật lâu xoay quanh cái sự “chưa già” này. Nhưng cuối cùng ông cũng chẳng rõ mình còn trẻ ở mức độ nào, và có nên vui mừng trước sự phát hiện bất ngờ này không ./.

 ---//---

11 thg 3, 2010

THẦN THÁNH NHỚ

Cuộc họp bình chọn người đứng đầu trong việc tế lễ khi khởi công xây dựng ngôi đình làng Phú Túc diễn ra khá dài, vui nhộn, sôi nổi. Đây là chuyện quan trọng, không phải ai đảm trách cũng được. Phải là người đứng tuổi và đạo đức tốt. Chỉ cần hai yếu tố ấy thôi, nhưng sáu khuôn mặt được đề cử đều không đạt yêu cầu. Người thực thà, lanh lợi, hay giúp đỡ bà con chòm xóm thì còn hơi trẻ. Người lớn tuổi, tốt bụng, thắng thắn lại không biết chữ. Người chững chạc, sáng sủa, ăn nói rành rẽ thì mặt đạo đức lại “có vấn đề”…Đến lúc anh Lợi – trưởng thôn – đề cử ông Tiếp, mọi người chợt lặng thinh trong giây lát. Dường như ai cũng cảm thấy mình vừa chạm chân vào lằn đích, đã đi đúng hướng. Anh Lợi nói:

“Chú Bảy Tiếp đứng vào vị trí này là hợp nhất. Chú đàng hoàng, trung thực, hiền lành, làm ăn chí thú, ai nấy đều biết”.

Nhiều người tán thành: “Nhất trí chọn chú Bảy… Nào, giơ tay lên, cho ý kiến, cô bác ơi !”

“Chú Bảy số một, không còn ai hơn đâu !...Vì lợi ích dài lâu của Phú Túc hãy dồn phiếu cho ứng cử viên Bảy Tiếp !”.

“Hoan hô bác Bảy ! Tôi giơ luôn hai tay !”

Mọi người góp ý, bàn luận, cười nói ầm ầm. Ông Tiếp bối rối, luống cuống. Tự nhận xét, ông cũng thấy mình là nông dân tốt, làm ăn cần cù, chẳng làm hại ai, nhưng về mặt đạo đức thì không xuôi lọt, có chỗ vướng mắc. Mình không biết mình thì biết ai? Cái chuyện cũ kỹ ấy, chuyện tày trời xảy ra ngoài ba mươi năm trước ấy vẫn chưa tan biến, còn nằm chềnh ềnh như một gò mối trong trí ông, luôn làm ông áy náy, xốn xang… Chuyện của thời quá khứ xa xăm, của miền quê cũ mịt mờ, bây giờ ở đây chắc chắn không ai biết. Chỉ có vợ chồng ông biết thôi…. Nhưng liệu có phải ngoài ông, chỉ còn bà Tiếp biết chuyện đó ? Thế còn ông Trời ? Còn những kẻ khuất mặt ?... Có thể che giấu, dối gạt, lừa phỉnh người trần mắt thịt, dễ gì qua mặt thánh thần?

Ông Tiếp lo ngại. Xưa nay ông vẫn tin rằng con người nhỏ bé, ngu dại, không thể nào so sánh với quỉ thần. Ông đứng dậy ấp úng nói :

“Cho tôi xin rút…Cảm ơn bà con… Tôi không quen ăn nói. Tôi không biết làm việc làng lớn lao”.

Anh Lợi cười: “Trước giờ chú chỉ ăn, nay hãy bắt đầu vừa ăn, vừa nói!... Đâu có nặng nhọc gì, chú Bảy. Cày bừa, cưa xẻ chú còn làm ngon ơ được… Chỉ là chuyện cúng kính. Áo dài, khăn đóng, khấn hứa, vái lạy, như các ông chánh tế, bồi tế trong các buổi cúng xuân, cúng kỳ yên vậy thôi”.

“Tôi biết, nhưng không phải là chuyện chơi… Nó hệ trọng lắm…tôi

không xứng đáng”.

Lập tức bốn, năm người đứng lên, nhao nhao :

“Chú tốt, ở đây chẳng ai hơn. Chúng tôi biết mà, đừng phụ lòng bà con”.

Ông Tiếp cố thoái thác: “Xin anh em bầu người khác, tôi không...không dám nhận đâu…. Xin đừng ghi tên. Ghi vào đó tôi không làm thì trễ nải việc làng”.

Nhưng người ta vẫn sấn tới: “Thay mặt làng cũng là một vinh dự đấy, bác Bảy…. Dù đông đảo, giàu có đến mấy nhưng chưa có cái đình, chúng ta cứ bị coi như là đám dân ngụ cư tạp nham”.

“Mỗi người một tay, anh Bảy… Chúng ta sẽ xây một ngôi đình lớn, đẹp đẽ, chẳng thua ai… Đó là cái nhà chung…”

Vậy là người ta vỗ tay, biểu quyết, hoan hô rầm trời, không cho ông Tiếp nói thêm nữa, coi như ông đồng ý !

*

Về đến nhà ông Tiếp nói với vợ: “Nay mai làng xây đình, vừa mới họp xong đây”.

“Tưởng gì, đình với chùa ! Nghe nói đi nói lại đã ba bốn năm, nào có thấy xây cất gì đâu”. Bà Tiếp cười, ngờ vực.

“Lần này xây thiệt, đủ tiền rồi… Tôi là người đứng ra dựng, chủ tế, bà con vừa bầu chọn”.

“Trời đất, ông điên à !”. Bà Tiếp la lên như sờ phải rắn. “Không được đâu, chết đấy ông ạ !... Phải là người trong trắng mới giữ vai trò ấy được”.

“Tôi không chịu nhưng bà con ép buộc…. Ai cũng bảo là mình tốt”.

“Có thể như thế, bởi người ta không biết…. Nhưng tôi biết, và chắc ông cũng biết chớ !”.

“Khổ ghê đi, tôi từ chối hết lời”.

“Ông kẹ ơi, những chuyện dính líu đến sự thiêng liêng, phép màu, thần linh thì khó khổ phiền phức lắm”.

“Làm sao bây giờ ?”.

Bà Tiếp thất vọng: “Ông cứ lơ mơ, chẳng cứng rắn chút nào !... Đó là chiếc áo thùng thình, ông bận sao vừa ?”.

Tính ông Tiếp xuề xòa, rụt rè. Cũng chính vì vậy mà chuyện động trời ngày xưa ấy đã nổ ra, khiến ông trọn đời phải mang vào cổ tấm bảng “kém đạo đức”… Hồi đó, khi chuyện tình vụng trộm, oái ăm đổ bể, bà Tiếp đã nắm cổ áo chồng, quát tướng: “Tại sao anh dám làm như vậy, hở? Trời Phật ơi! Luân thường đạo lý lộn phèo, chẳng còn tôn ti trên dưới gì nữa !”.

Ông Tiếp xanh mặt, run rét, không nói được một tiếng. Bà Tiếp hét: “Nói đi chớ, ngậm miệng ăn tiền à ? Làm bộ như hiền từ lắm. Tại sao… tại sao anh hành động càn quấy, rồ dại như thế ?”.

“Không phải tại tôi… Em nói nho nhỏ một chút…. Kẻo người ta nghe… tại chị ấy… lỗi do chị Ba”.

“Chị Ba thế nào ?”

“Chị Ba ép tôi”.

“Sao anh không chạy đi ?”

“Tôi đã bỏ chạy ba lần, mà chị ấy không tha”.

Bà Tiếp nghiến răng: “Tôi không tin !... Nghe đây, dù hai mươi, ba mươi lần anh cũng phải chạy…. Thế mới đúng là con người !”.

Bà Tiếp sững sờ. Núi chạy, người bay cũng chẳng làm cho bà kinh ngạc bằng. Một chuyện tréo ngoe, trớ trêu khó tin. Ba Lài, cô gái sắp vu qui, chị ruột bà, lại đi lôi kéo đứa em rể vào con đường loạn luân… Đây không phải chuyện nhẹ nhàng, thoáng qua. Nó còn dẫn tới một “hậu quả nghiêm trọng”: sự ra đời của thằng Mật. Nhưng may mắn làm sao, người ngoài không ai biết chút gì về mối tình này, nên trước sau cha đẻ của thằng Mật vẫn là chồng cô Lài, người có duyên nợ tiền định và vững chắc với cô gái quê tân thời.

*

Năm Tiếp hai mươi ba tuổi vợ anh sinh con đầu lòng. Ba Lài – chị vợ – đến ở nhà Tiếp hai tháng, nuôi em sinh đẻ. Lài vui tính, siêng năng, như luồng gió mát thổi vào ngôi nhà nhỏ ẩm thấp, Chị làm việc nhà mau lẹ, gọn ghẽ. Trong cách cư xử, đối với Tiếp, chị tỏ ra đàng hoàng, đâu vào đó. Riêng phần xưng hô, nếu để ý sẽ thấy, trong những tuần lễ sau, có một sự “biến chuyển” thầm lặng: Xưa giờ ba Lài xưng “chị”, nay đổi thành “tôi”. Chị hơn Tiếp ba tuổi, sắp về nhà chồng.

Ba Lài sắp lấy chồng, ai cũng biết, nhưng những diễn biến tình cảm phức tạp trong đầu cô thôn nữ xinh xắn, tháo vát thì chẳng ai biết…. Hôm đó, khoảng 9 giờ tối, Tiếp ra giếng tắm. Ba Lài ra xách nước. Xách nước đổ vào lu hủ chỉ là cái cớ vu vơ. Lài ngồi bên gốc cây khô cạnh giếng, nói những chuyện chị nhặt nhạnh được ở chợ làng lúc sáng: Ông Nở mới mua một con chó con, giống Phú Quốc, ba triệu đồng. Ông Trữ nằm bệnh viện lớn hai tháng, không khỏi, nay về, chờ ra nghĩa địa. Anh Thông vừa bán hai con bò được mười triệu, mang tiền ra thị trấn mua xe, bị móc túi mất toi sáu triệu… Chị nói, cười, vừa hỏi, vừa đáp như tài tử đóng hai vai.

“Tôi sẽ ở đây tám ngày nữa, rồi về, về để…”.

Tiếp nghe, phân vân, lơ đãng.

“Thiên hạ nói, gần ngày cưới vợ các chú rể mừng không ngủ được, phải không ?”

“Tôi không nhớ”.

“Mới đó đã quên ! Còn tôi, gần cưới, tôi buồn đến bỏ ăn, bạn có biết tại sao ?”.

“Tôi không biết”.

“Trên khắp xứ này, bạn có thấy ai gần lấy chồng mà cứ muốn khóc, bụng dạ lạnh băng ?”.

“Không, ai vậy ?”.

“Ba Lài ! Không vui, bởi vì… mà thôi, nói ra cũng chẳng lợi lộc gì… Tiếp, ba Lài đáng thương không ?”.

“Ờ …. Ừ”.

“Theo bạn, như vậy đáng thương không ?”.

Tiếp đáp bừa: “Đáng lắm !” . Ba Lài bước tới, giật chiếc gàu trên tay Tiếp, quẳng vào lùm chuối.

“Đáng thì thương đi”. Tiếp đứng như trời trồng. Ba Lài vuốt má Tiếp: “Chàng trai trẻ đẹp, ngốc nghếch !”. Cô nàng cầm bàn tay phải của Tiếp một lúc, rồi giúi nó vào ngực mình.

“Chị Ba !”. Tiếp kêu lên.

“Chị Ba làm sao?”. Lài cười hích hích. “Hễ đẹp trai là có quyền hất mặt lên trời hả ?... Cái gì đây, sờ xem !”. Ba Lài nói mãi nhưng dường như vẫn chưa thủng tai gã em rể nhút nhát. Bực mình, buộc lòng chị phải dùng “vũ lực”. Chị vật ngã gã xuống nền giếng, và thẳng tay hành hạ gã đến nơi đến chốn !.

*

Việc xây đình diễn ra đúng như dự tính của làng. Gần hai tháng sau Phú Túc có ngôi đình đồ sộ, đẹp, hiện đại… Một năm, hai năm qua mau. Khi bà Tiếp đã quên mất tấm màn đen đạo đức giăng bên trên vụ cúng tế, ông Tiếp lăn ra bệnh. Ông bị đột quị. Không hiểu sao những năm gần đây chứng bệnh quái ác này nở rộ. Nó có nhiều dạng, nhiều mức độ, phần lớn tiến triển nhanh, hiểm, khó lường… Ông Tiếp nằm bệnh viện tỉnh non ba tháng, về nhà nằm tiếp chín tháng nữa. Có lúc tưởng ông sắp đi đứt. Bà Tiếp nhớ ngay việc cũ. Đúng là nó, cái án treo, không tránh né được! Con người nông cạn, hời hợt, có thể châm chước, bỏ qua các lỗi lầm của nhau, có thể quên dễ dàng nhiều chuyện, còn thánh thần nghiêm khắc linh hiển làm sao quên !

Nằm chán, tốn khá nhiều tiền, ông Tiếp mạnh, trở dậy, đi lại được. Nhưng sự hồi phục này có vẻ lỏng lẻo. Ông bị liệt một tay, méo miệng, ăn uống được, nhưng nói lập bập như trẻ con, đi được nhưng bước thấp, bước cao như anh chàng say…. Bà Tiếp buồn, nổi cáu, dù biết ông đang ở trong tình trạng như người mộng du, không còn sáng suốt, nhưng bà vẫn đay nghiến : “Ông thấy rõ chưa, tôi đã nói, đó chẳng phải chuyện đùa… Trong thế giới con người, mọi thứ đều nhỏ bé, đều nằm gọn giữa vòng tròn của ánh sáng mặt trời, dễ thấy, dễ nhớ, và cũng dễ tan biến. Nhưng với các đấng khuất mặt thì mọi thứ đều vững bền, trăm năm ngàn năm cũng mới mẻ như một tháng…. Nay tôi tin: Ông bị chị Lài tấn công. Giờ ông còn đi đứng, còn sống, nhờ ông thụ động trong chuyện đó. Nếu ngược lại, chắc ông đã chết thẳng cẳng lâu rồi!”. Với gương mặt lem luốc nhiều ngày quên rửa, cái miệng méo, đôi mắt lờ đờ, ông Tiếp nhìn vợ nói. Thật khó biết ông có hiểu gì không ./.

18 thg 7, 2009

AO BUỒN

       Nhà cậu Đáng ở gần nhà ngoại tôi. Hồi nhỏ tôi thường về thăm ngoại vào dịp hè, nên biết được nhiều chuyện về gia đình cậu. Cậu Đáng thuộc hạng giàu có trong làng, nhờ hưởng một gia tài lớn của cha mẹ để lại. Cậu làm nông, người  cục mịch, đen cháy, râu tóc bờm xờm. Nghe đâu trước kia cậu cũng có đi học, từng đậu bằng tiểu học trường Tây. Vợ cậu – mợ Hân – nhỏ người, mảnh mai, trắng trẻo. Mợ dạy học ở trường quận. Thời đó con gái ít được đi học, phụ nữ học cao rất hiếm. Mợ Hân là người phụ nữ duy nhất trong xã dạy trung học. “Sao một cô nhỏ nhắn, xinh đẹp lại đi lấy cái ông lừ đừ, dềnh dàng thế kia?”, tôi thường tự hỏi.
       Năm tôi mười tuổi, vào một ngày cuối hè, mợ Hân tự vẫn. Lần đầu thấy người chết bằng cách trầm mình, một cái chết dữ dội, tôi sợ hãi nhận ra: chết cũng có nhiều cấp độ. Người ta vớt mợ Hân từ dưới ao lên, đặt nằm trên hai tấm ván kê ở giữa sân. Mặt mợ trắng chạch, không còn một nét nào giống lúc sống. Máu miệng ứa ra ướt đẫm gối. Nước từ đầu tóc nhỏ xuống đọng thành vũng. Ba dĩa cơm nắm, hột gà, lư nhang. Chiếc lưỡi cày dằn trên bụng. Cái mền mỏng đắp lệch. Hai bàn chân mợ thò ra ngoài mền cũng trắng rớt như cái mặt… Cả làng đổ tới coi, người đứng chật kín trong sân, trong nhà, ngoài vườn. Chẳng thấy ai khóc (hai người chưa có con). Cậu Đáng lừ lừ đi ra đi vào, mắt ráo hoảnh. Bà Bướm – gia nhân, đã phục vụ nhà cậu hơn 20 năm – cũng tỉnh khô, bình thản. Người thân bên mợ ở đâu không thấy. “Đám chết mà lạnh tanh, không có người khóc, kỳ cục”, tôi nghĩ.
       Người ta xì xào: “Coi kìa, hai mắt cô ấy bầm đen, môi sưng vều”. Mợ Hân bị chồng đánh, hai ngày qua phải nghỉ dạy. Cậu Đáng đã đánh đập vợ hàng trăm lần. Dường như cậu ghen. Chỉ “dường như” thôi, chẳng ai biết rõ ràng về chuyện lục đục của nhà cậu, dù chuyện này xảy ra thường xuyên… Cậu Đáng hành động thầm lặng, không lớn tiếng. Cậu đóng cửa đánh vợ, cấm khóc, cấm không được than thở với ai. Thỉnh thoảng lại thấy mợ Hân đi dạy với cái mặt sưng tấy, hoặc con mắt bầm tím. Mợ sống khép kín như cung nữ ngày xưa. Đi chợ, đến trường đều phải tuân theo một thời gian biểu chặt chẽ. Mợ không dám nói chuyện lâu với đàn ông, con trai ngoài đường, không dám mời học trò, bạn hữu về nhà. Lúc nào mặt mợ cũng dàu dàu, ủ dột, xa vắng. Nhiều người nói họ chưa hề thấy mợ cười, dù một lần thôi.
       Dân làng vẫn thường nhắc lại những “chuyện lạ” của vợ chồng cậu. Một lần, vào khoảng mười giờ khuya, có người chạy đến báo với ông hương kiểm, cậu Đáng đánh vợ gần chết. Nhưng khi ông hương kiểm và ba tuần đinh (như an ninh thôn và dân phòng) đến nơi, thì lại thấy cảnh trái ngược: người nằm lăn giữa nhà, quần áo tả tơi, khóc lóc sướt mướt là cậu Đáng. Cậu hỏi vợ, như nhai từng tiếng một:
        “Tại sao mày ở lì ngoài chợ, mười một, mười hai giờ mới về?”.
       “Em đã nói rồi, em phải chờ mua heo, sáng nay mấy người bán heo tới trễ”.
        “Tại sao đi chợ mà mày không bảo cho tao biết?”.
       “Thì chính anh bảo em đi mua heo”.
       “Sao phải mua ở chợ, không mua heo của bà Bắc, bà Nghi trong làng?”.
       Cậu khóc khản tiếng, bứt tóc, đập đầu xuống đất, và giãy đành đạch như em bé dỗi mẹ.
       Lần khác, nghe tiếng đập phá thình thịch trong nhà cậu Đáng, bà con xung quanh chạy đến, nhưng không can thiệp được, phải đứng ngoài sân, vì các cửa đều đóng chặt. Cậu Đáng đánh vợ bằng roi, cứ sau một roi lại nghe cậu hỏi:
       “Thằng Tùng là gì với mày?”.
        “Chẳng lẽ anh không biết thằng Tùng?”.
       “Nó là gì với mày?”.
       “Nó là cháu tôi, cũng là cháu anh”.
       “Sao mày nói chuyện với nó mặn mòi như thế?”.
       “Mặn thế nào? Anh giỏi đặt điều, tưởng tượng trên trời dưới đất”.
        “Nó nói gì với mày?”.
       “Tôi đã nói anh nghe mấy chục lần, tôi hết hơi rồi… cứ đánh tôi chết đi. Anh là quỉ dữ, không phải con người”.
       “Mày cười với nó, nheo mắt với nó, vỗ đầu vỗ vai nó”.
       “Nó là cháu tôi, cũng là cháu anh… Bụng dạ, đầu óc anh đầy thuốc độc, đầy rác… Tôi muốn chết”.
       Cậu Đáng ghen? “Đâu phải ông Đáng ghét vợ. Hãy nhìn kia, ông ấy buồn rầu, bước đi không vững”. Mấy người hàng xóm nhận xét.
       Ghen là cái gì mà lớn lao, kinh khủng như vậy? Tôi chưa hiểu nổi.
*
       Ông Chương uống trà, thong thả, nhâm nhi từng hớp, như uống rượu. Ông nheo mắt ngắm Đáng, thằng cháu đang mang tai tiếng đầy mình.
       “Cũng lạ, không hiểu sao mày có thể tàn bạo như vậy”.
       Ông Chương là chú ruột cậu Đáng, ở trên tỉnh mới về. Ông giàu sang, được họ hàng quý trọng. Cậu Đáng nhìn ra cuối vườn, nơi có cái ao oan nghiệt. Vốn ít nói, từ ngày vợ chết cậu càng “tịnh khẩu”. Cách đây mấy hôm, tình cờ cậu nghe bọn trẻ chăn trâu bàn về chuyện nhà mình. Chúng nói cậu hung ác, hà khắc quá nên vợ sống không nổi, phải tự tử. Một đứa bảo, cha nó nhận xét, ở xứ này cả trăm năm qua chẳng thấy ai tính tình quái đản như cậu, ai gieo gió độc thì sau này chắc chắn sẽ gặt bão dữ.
       “Bà con quanh đây nói, mày coi vợ như gà heo, cỏ cây”.
       Ông Chương giơ cái ly lên cao, nhìn kỹ, như ngắm vật lạ.
       “Nay mày có ân hận chút nào không?” ông hỏi rồi tự trả lời. “Có tiếc thương, ăn năn, cũng đã muộn, quá muộn”. Ông châm trà cho mình.
       “Sống chung hơn ba mươi năm, tao chưa hề chửi thím mày một câu nặng, chưa đánh, dù chỉ một bợp tai nhẹ. Vì sao? Vì cổ nhân nói, trong tình vợ chồng có tình anh em và tình bạn… Không cần chửi bới đánh mắng nhau người ta vẫn sống được… Mày nghĩ sao khi thẳng tay đấm con Hân sưng vù mặt?”.
       “Con… con buồn quá”. Được nhận những lời giáo huấn từ miệng người cao quí rất đáng hãnh diện. Có điều, ông Chương không biết, cậu Đáng cũng chưa hề chửi vợ một câu nặng.
       “Nó, vợ, như em gái mình. Ai đánh con Ngọc như thế, mày buồn không?”.
       “Con… con ngu”.
       “Đánh em cháu, bắt nạt người yếu đuối hay ho gì… Có người bảo, con Hân chết, không bỏ đi, vì nó thương mày.. Mày hèn!”.
*
       Bà Bướm nói, có chỗ khó hiểu, sao cô Hân tìm đến cái chết thảm, không bỏ chồng. Mấy năm gần đây chẳng hề thấy cô ấy cười. Một người hiếm có, dịu dàng, xinh đẹp. Dạo khắp vùng quê tối tăm này, dù tìm mờ mắt cũng sẽ không thấy người thứ hai tương tự. Cô ấy yêu trẻ con, chẳng giận ai, luôn nghĩ tốt về người khác.
       Bà Bướm kể, bốn ngày trước khi chết, vào buổi trưa, Hân uống rượu. Cô ấy moi ở đâu ra một chai rượu đế, mấy miếng khô thiều. Bà Bướm thất kinh. Cô hỏi, có khi nào bà nghĩ đến cái chết, bà sợ chết không. “Tôi sẽ uống đến lúc ngã gục. Chắc tối nay tôi chết đấy… Biết chết mà không sợ kể cũng giỏi!”. Cô ấy còn nói, tuần qua ngày nào cô cũng tắm hai lần để người thơm và quen nước ao. Sao lại quen, quen thế nào? “Say chết, hay say rồi tỉnh?... Có chuyện thế này: một ni sư quy y hơn 40 năm, ăn chay trường, đến lúc gần chết xin uống thử muỗng nước mắm. Tôi tin chuyện đó có thật, tôi đang uống nước mắm đây… mắm cay!”.
       “Tôi chưa hề nghe cô Hân nói xấu ai”.
       “Chưa hề”. Cậu Đáng lặp lại. “Chị có nghe Hân phàn nàn, oán trách tôi?”.
       Bà Bướm lắc đầu. “Cô ấy chẳng chê bai, chỉ trích ai”.
       “Không chê”. Cậu Đáng lặp lại. “Chị gặp thằng Tùng chở Hân mấy lần?”.
       “Không gặp. Ai nói với chú chuyện đó?... Dù có chở cũng là thường, có gì đáng để ý?”.
       “Chuyện thường?”. Cậu Đáng nói, như hỏi mình.
       “Thằng Tùng chưa bao giờ chở Hân, chị thề đi”.
       “Tôi thề. Nếu nói sai, kiếp sau tôi sẽ thành heo chó, giòi bọ”.
       Một lúc lâu, khoảng mười phút, cậu Đáng bật cười, tiếng cười nghe lạ, như tiếng nghiến răng, gió rít. “Quái dị, giờ này còn hỏi thế để làm gì?”.
       “Dường như cô Hân không biết ca hát, cười đùa… Tội nghiệp, cô ấy trẻ quá mà…”.
       “Tôi cũng trẻ… chưa có con, chưa già”. Cậu Đáng cười, khô khốc.
       “Tôi nghĩ mãi, sao cô Hân không bỏ chú, lại chết oan uổng”. Bà Bướm nói thật nhỏ, phải chú ý mới nghe được.
       Cậu Đáng có thương yêu vợ không? Khó thể biết được. Có điểm dễ thấy, sau ngày mợ Hân mất, cậu gầy rộc, hốc hác. Cậu lấp cái ao, trồng lên đó mấy cây bàn chải. Suốt ba tháng, ngày nào cậu cũng ra ngồi bên mả vợ từ chiều xẩm đến khuya. Nhiều đêm cậu ngủ luôn ở đó. Rồi cậu ngã bệnh, nằm liệt giường hơn nửa năm trời.
*
       Đó là chuyện xảy ra cách đây hơn… nửa thế kỷ. Mấy năm sau, chiến tranh bùng nổ. Cái làng nhỏ bé ấy hóa ra xơ xác, tiêu điều. Ngoại tôi qua đời. Tôi không về làng nữa. Sau này, dò hỏi, tôi được biết cậu Đáng đã bỏ quê đi trong dạo đó. Cậu tặng nhà cửa, ruộng vườn cho em, cháu. Cậu đi đâu, không ai biết.
       Đến nay, hơn hai vạn ngày qua đi, tôi đã lên lão. Thời gian xóa nhòa nhiều thứ trên trái đất, nhưng cái chết của mợ Hân vẫn còn rõ nét, không mờ cũ trong trí tôi… Không phải mọi việc trên đời đều có thể giải thích được. Chắc chẳng ai có khả năng nhìn thấy tất cả đường nẻo, ngóc ngách trong tâm hồn con người ./.