Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyện ngắn: Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tuyện ngắn: Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

8 thg 11, 2012

VỀ VỚI MẸ



      Trong gian phòng chật hẹp có bốn bàn thờ, ba trang thờ. Thầy Mười Chắc đốt nhang đem cắm lên tất cả các nơi đó, rồi rót rượu khắp lượt, mỗi chỗ một ly nhỏ. Thầy đứng giữa nhà, chắp tay, nhắm mắt, khấn vái ê a như hát dân ca. Làm xong các nghi thức ấy, thầy Mười đến ngồi đối diện Hiền và Linh, rót trà uống liền ba ly, không mời khách. Nhìn dáng điệu, cung cách hành lễ của thầy Mười, Linh thấy ngồ ngộ, buồn cười, nhưng Hiền theo dõi rất chăm chú, thành kính… Mở đầu, thầy hỏi tuổi của vợ chồng Hiền và thằng Khanh – con chị – hỏi kỹ về Khanh, nó thường giao du với ai, trước khi đi có bộc lộ hành động gì lạ không. Hiền trả lời rành mạch. Thầy Mười mở quyển sách chữ Hán, lật giở tìm tòi một lúc lâu. Cuốn sách cũ mèm, đen xỉn, nhiều trang rách.
      Thầy Mười Chắc là người biết chữ Hán duy nhất còn sống trong xã. Trước đây thầy chuyên coi chọn ngày tốt cho việc xuất hành, cưới gả, ma chay, xây cất. Dân trong vùng và các xã lân cận ít nhiều ai cũng tới gặp thầy vài lần, bởi không ai tránh khỏi các chuyện hệ trọng và cần thiết đó. Hai năm gần đây thầy Mười nhảy sang lãnh vực chữa bệnh, bói toán, trừ tà, bằng cây lá và bùa chú. Chẳng ai biết thầy học pháp thuật và cách trị bệnh ở đâu, nhưng khách đến am đều đặn, và danh thầy Mười Phước Tường cũng bay đi khá xa. Chức sắc địa phương không can thiệp vào vụ này, do thầy chỉ chữa các bệnh nhỏ, và không đòi tiền công. Con bệnh trả thù lao tuỳ tâm, bằng gà vịt, bánh trái, nếu muốn gọn chỉ cần đặt lễ vài ba chục ngàn, rất khỏe và tiện lợi.
      Theo lời người quen chỉ vẽ, Hiền mang đến đây một giỏ bánh ngon, một bó nhang thơm. Chị không rành trong việc này. Xưa giờ chị chưa hề đi coi bói, càng không để ý đến chuyện am miếu. Chị xếp các thứ này vào loại dị đoan, lạc hậu, mê muội. Nhưng cách đây tám hôm, con chị – thằng Khanh – đứa con trai độc nhất, bỏ nhà đi hoang, quan điểm chị đổi khác… Đột ngột, nó từ bỏ cha mẹ anh em, nhà cửa, sách vở. Tại sao nó đi, đi với ai? Phát – chồng Hiền – chạy đến các nơi quen biết, xa mấy cũng đến, để tìm. Trình báo với công an. Nhang đèn van vái sáng nhà, cầu cho thằng nhỏ hồi tâm quay về. Mười tám, trên lý thuyết, là tuổi thành niên, nhưng Khanh chưa ra dáng người lớn. Nó chẳng biết một nghề nào, ngốc nghếch, dại dột. Tám triệu bạc, một mớ quần áo, nó sống được bao lâu?… Lúc nghe Hiền rủ đi Phước Tường coi bói, Linh ngạc nhiên. Ban đầu Linh định châm vài câu trêu chọc nhưng nhìn nét mặt ủ dột của chị, Linh không dám. Lạ đấy, nhưng đi thì đi, xem cho biết am đền đồng bóng nó thế nào! Thầy Mười ở Phước Tường, có tiếng lắm, ngay cả những người không bệnh hoạn mất mát gì cũng nghe danh thầy.
      Thầy Mười Chắc khoảng ngoài sáu mươi, gầy nhom. Trông thầy hiền, lờ đờ, như ông lái heo “về hưu”, chẳng giống tướng thầy bà. Nếu bây giờ thầy cầm ngược cuốn sách đọc, Linh cũng không thấy lạ!… Tra cứu trong sách xong, thầy hỏi, nhỏ nhẹ:
      “Đệ tử có quen ai ở Sài Gòn không?”.
      “Dạ, có”. Hiền đáp.
      “Sa Đéc, Cần Thơ?”.
      “Dạ, không”.
      “Đó là hướng nam. Thằng nhỏ này đi về nam… Tuổi nó năm nay xấu, nhất là từ tháng sáu đến tháng tám”. Hiền dạ, cung kính.
      “Nó đi với một gã trai, cao lớn, đen đúa”.
      Hiền hỏi lại:
      “Một người đàn ông, đen… không lẽ nó bị bắt cóc?”.
      Thầy Mười nhìn ra sân, đăm chiêu. Nhiều loại nhang khác nhau cùng cháy một lúc tỏa ra một thứ mùi gây gây, nửa thơm nửa khét.
      “Đệ tử chớ lo lắng quá, bọn trẻ đi rong là chuyện thường… Đến cuối năm, tháng mười một tháng chạp, sự việc sẽ xoay chuyển qua phía khác, thuận hơn, tốt hơn, chừng đó ta sẽ biết tin”.
      Hiền hốt hoảng:
      “Phải đến tháng chạp mới biết sao thầy?”.
      Linh không ngờ lo âu có thể khiến người ta phờ phạc như thế, nhìn vẻ mặt Hiền lúc này thật đáng thương.
      Một bà thấp người, hồng hào – là vợ thầy Mười – từ nhà dưới lên, chắp tay thưa:
      “Con mướp nằm thẳng cẳng, mắt trợn ngược, dường như nó sắp chết, thầy xuống coi giùm”.
      Thầy gắt: “Ta bận, mèo với chuột, cứ để đấy!”.
      Bà vợ không chịu: “Phải cho nó uống thuốc giải… nó chết mất… tại thầy cả”.
      Thầy Mười nạt: “Sao lại tại ta, con nữ này hỗn!”.
      Bà vợ thụt lùi, đi xuống, nhưng vẫn buông thêm một câu: “Con mèo yếu… đã nói là đừng bắt nó ăn”.
      Chờ cho chuyện mèo lắng lại vài phút, thầy Mười nói:
      “Trước tiên, đệ tử hãy đến tìm ở các nhà quen, hướng Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long… Nóng ruột thì tìm, nhưng ta thấy sớm lắm cũng phải cuối năm nó mới về”.
      Hiền nói như than:
      “Ông xã con đã đi Đà Lạt, Phan Rang, Qui Nhơn, Pleiku… Còn non sáu tháng nữa, lâu quá, chúng con điên mất!”.
      Thầy gật gù: “Ai cũng thương con… Có điều chắc chắn, ta bảo đảm, nó mạnh lành khỏe khoắn, chẳng sứt mẻ gì”.
      “Tạ ơn thầy!”. Hiền vái ba cái: “Đó chính là thứ con ước muốn… mong cho nó bình an”.
      Bỗng nhiên, từ nhà bên cạnh phát ra tiếng máy hát, lớn hết cỡ, như sấm động. Những lời tình tự yêu đương, anh em nhão nhoẹt. Thôn xóm chật hẹp, đông đúc, chơi tự do thoải mái kiểu này thì một người hò hét cả trăm người phải nghe. Thầy Mười có vẻ khổ sở.
      “Thằng này xấc láo, chẳng nể ai, đã kiểm điểm cả chục lần, như nước đổ lá môn… Nó thường gọi ta là lão lang băm. Rồi mọi người sẽ thấy, nó là thằng chết tiệt, vô hậu, càng về già càng lụn bại”.
      Thầy đến bàn thờ giữa, nhấc lư hương lên lấy ra một tờ giấy vàng. Đó là lá bùa, dài chừng hai gang tay, viết đầy những hàng chữ đen ngoằn ngoèo. Thầy bảo:
      “Đệ tử dán bùa này lên cửa phòng, hay đầu giường thằng nam”. Và dặn: “Từ nay, vào các ngày mùng một, rằm, đệ tử nhớ cúng thường xuyên. Không cần nhiều lễ vật, chỉ chè xôi hoa quả… Tối nào cũng lên đèn cầu nguyện thánh thần trời đất ở trước sân”.
      “Dạ, con hiểu, nhưng khấn thế nào ạ?”.
      Thầy lừ mắt nhìn chị, như quở trách, chuyện dễ vậy cũng hỏi.
      “Cầu xin các bác các đẳng âm hồn cô hồn, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, kẻ chết sông chết suối người chết bụi chết bờ… điều lành đem tới điều dữ tống đi, phù hộ cho phước đức gia đình phát vượng, để vượt qua mấy tháng hung hạn u trệ… Các bác các đẳng là những vị qua đời nhằm giờ thiêng, không người cúng giỗ, linh lắm… các vị sẽ mở mắt thằng nam, dẫn dắt nó quay về”.
      “Dạ, con nhớ rồi”. Hiền thấy trong dáng điệu của thầy nét chững chạc, trong giọng nói có sự đáng tin cậy, trong ánh mắt có vẻ thân thiện. Điều gì làm chị thấy như thế? Có lẽ xuất phát từ lòng thương con!
      Thầy Mười đến trước các nơi thờ, vái thật sâu, mỗi chỗ ba vái, xong lễ. Thầy khoe:
      “Cách đây hơn tháng có một ông ở Tân Quí, mãi trong Tân Phú, tới nhờ tìm bà vợ đi hoang. Ông ấy đoán bà ta trốn nợ, ta bảo theo trai. Xác thực là thế. Trốn nợ không phũ phàng bằng theo trai!… Trước đó ít lâu, một ông chủ nhiệm ở Quận 3 đến hỏi về chuyện mất của. Ông ta mất hộp nữ trang. Ta nói, con trong nhà lấy, ông ấy không tin, nghi cho con bé giúp việc. Ta dám đem cái thủ cấp già này ra đặt cược… Về sau, quả đúng như ta thấy, một quý tử của ông ta lấy trộm, đương sự phục quá”.
      Linh ngắm kỹ thầy, mong tìm thấy ở ông già khô đét này những dấu hiệu khác người thường… Thời buổi văn minh, đã qua thế kỷ 21 khá lâu, sao vẫn còn các hình thức sinh hoạt mơ hồ, thiếu cơ sở khoa học? Các thầy loại này giỏi thật không, có trị được bệnh cứu người không? Nếu có, kết quả ở mức nào? Nếu không, tại sao người ta vẫn tìm đến nhờ giúp đỡ. Vấn đề có lẽ nằm ở chỗ “lưng chừng – nửa tối nửa sáng”, điểm giáp ranh giữa hư và thực… Có bệnh thì vái tứ phương. Con người, dù đã khôn ngoan, giỏi hơn xưa, nhưng vẫn còn các nhược điểm lớn, vẫn bị bệnh tật, tai họa bất ngờ và chết chóc đe dọa, đeo bám bên lưng. Bước vào khu vực này thì khoa học chưa thể hoặc không thể giải quyết được gọn gàng.
      Hiền đặt lễ một phong bì khá dày. Thầy Mười cầm, rút lấy hai tờ giấy bạc.
      “Ta nhận tiền nhang đèn, chừng này thôi… làm phước giúp bá tánh… À quên, thằng nam có bạn gái chưa?”.
      “Dạ, chưa đâu ạ, cháu còn dại… nó ham học lắm”.
      “Người lớn tuổi hay lụy vì tiền, thanh niên thì khổ do sắc… Đệ tử yên tâm, nó sẽ về, tự quay về”.
      “Dạ, con mong ngày mong đêm”.
      “Đệ tử gan dạ lắm, gặp cảnh ngộ này nhiều bà khóc mùi, bỏ ăn”.
*
      Trên đường về, Linh hỏi Hiền:
      “Chị đoán thử Khanh đi đâu, tại sao nó đi”.
      “Chị đã nghĩ nát nước, chịu”.
      “Nếu nó lớn hơn tí nữa, ta có thể nghi nó theo người yêu… Thầy Mười lấy lễ bao nhiêu?”.
      “Bốn chục ngàn”.
      “Ở nông thôn số tiền ấy rất đáng kể… mỗi ngày tiếp ba khách là ấm… Đi cấy, trên nắng dưới bùn, còng lưng, ngày công chỉ hai mươi ngàn”.
      “Không tính như vậy, em ạ… Thu nhập hàng tháng của ca sĩ nổi tiếng có thể lên tới hai, ba trăm triệu. Nhiều cầu thủ bóng đá lãnh lương bảy, tám chục ngàn bảng Anh mỗi tuần… Có những loại công việc giá trị rất riêng, không thể đo lường bằng cân ký chợ búa”.
      Linh vẫn đưa ra những nhận xét làm Hiền không vừa lòng:
      “Ông ấy lớn tiếng quảng cáo, tự khen mình, miệng lưỡi ngọt xớt… Khó biết chỗ nào thầy thấy được nhờ con mắt thứ ba, điểm nào nói mò”.
      “Không dễ đánh giá, nó như tín ngưỡng, tín đồ phải tin vô điều kiện… Linh cũng biết, xưa nay chị đâu có ưa thích chuyện phù phép viễn vông hoang đường… Chẳng có gì rõ ràng cả, nhưng nghe thầy Mười nói chị cảm thấy một cái gì đó chắc chắn, khiến mình vững bụng… Gần nửa năm nữa, hơi lâu, nhưng dù sao nó về là tốt… ôi, con với cái!”.
      Vững bụng? Có lẽ trong lúc bối rối, lo sợ, đây như chiếc phao để chị bấu víu, dù có thể là phao ảo.
      “Thầy Mười đáo để, sắc nhọn lắm… chị nhớ không, thầy rủa lão hàng xóm sau này sẽ tàn mạt”.
      “Nói như thế là nguyền rủa? Em nghiêm khắc quá!”.
*
      Thằng Khanh về, sau bảy mươi ngày phiêu lưu tình ái thơ mộng, thú vị với một bạn gái. Anh chị vù ra Đà Nẵng, ở nhà bà dì ruột của “nàng”. Vợ chồng Hiền mừng quính, không la mắng, gạn hỏi Khanh câu nào, bởi sợ nếu làm om lên sẽ gây thêm sự dòm ngó chú ý của lối xóm, chẳng ích gì. Nó về là may lắm rồi… Mới hơn hai tháng nhưng trông Khanh khác trước, da nó sậm, người chững chạc… Đà Nẵng, cái xứ nắng gió xa tít ngoài Trung, không phải Nam bộ!
      Anh Phát mở một bữa tiệc mừng, đãi bà con ở gần và vài bạn thân. Tiệc nhỏ, nhưng ấm cúng, thịnh soạn. Không còn gì vui hơn, anh chị rất quí trọng con. Dĩ nhiên, Linh cũng được mời… Linh nói với Hiền:
      “Đà Nẵng! Thầy Mười Chắc lại nói vào Nam”.
      “Sao đúng hoàn toàn được, đoán mà”.
      “Về sớm, chắc anh chị hết tiền?”.
      “Không, vì Khanh nhớ nhà, nhớ ba má! Chị đã nói, nó vẫn còn nhỏ… Con bé đó ghê thực, nó bày mưu tính kế, vẽ đường”.
      “Thầy Mười bảo đến cuối năm nó mới về”.
      “Cũng xê xích chút ít, như bác sĩ chẩn đoán bệnh… “đoán” thì có lúc đúng lúc sai”.
      Nhưng thầy Mười Chắc nói sai nhiều, Khanh cặp với bồ thầy lại bảo đi cùng một ông! Linh thấy lạ, Hiền không chê trách ông thầy đó tiếng nào.
      “Thầy nói đúng các điều cốt tử, là Khanh trở về, và mạnh lành… Tương lai của nó vẫn tươi nguyên, nó sẽ học lại, nay không thi thì sang năm thi, muộn chút xíu, chẳng mất gì!”.
      Một ông bạn hỏi anh Phát: “Giờ đây chắc chúng ta không còn gọi thằng Khanh là chú bé nữa?”.
      Anh Phát đáp, vui vẻ: “Tất nhiên rồi, ngay như luật pháp cũng đã quy định từ lâu, mười tám là tuổi trưởng thành!” ./.

2 thg 9, 2011

ÁNH SÁNG TRƯỚC MẶT

Vợ chồng ông Mùi từ một làng quê miền Trung vào Sài Gòn thăm con. Không phải du lịch, thăm suông, mục đích chuyến đi là làm quen vợ cho thằng con lớn.

Đến nơi, trời mờ sáng. Xuống tàu, không ai đón, hai người lúng túng. Chỗ lạ, người đông, loay hoay chẳng biết nên đi về hướng nào. Rồi, nhờ hỏi han, nhờ taxi, bốn mươi phút sau họ cũng đến nơi cần đến: nhà người em họ, trong một con hẻm đường Hoàng Diệu, Quận 4.

Sau khi ăn điểm tâm và dạo một vòng thăm chợ Xóm Chiếu, về nhà, anh chị bước vào cuộc trò chuyện căng thẳng, giống như cuộc họp đúc kết, rút tỉa kinh nghiệm canh tác của hợp tác xã. Nói thoải mái, vợ chồng anh Lập, chủ nhà, đã đi làm, mấy đứa trẻ đi học. “Chán, chẳng đứa nào ra đón”. “Ông biểu đừng đón rước mà”. “Tôi biểu, nhưng hai thằng vẫn đón mới phải”. Bà Mùi xuống giọng, nhỏ nhẹ: “Ta chớ nên khắt khe, tụi nó nhiều việc. Ông thấy đấy, ngoài đường kia, người ta đi hấp tấp... Thằng Khôi làm cách đây hơn sáu mươi cây số”. “Còn thằng Quyền?”. “Không thấy cũng biết, nó mệt, phờ người ra vì chạy xuôi ngược, lo tiền bạc, nhờ chỗ này mượn chỗ kia... nghĩ coi, lương nó hẻo”. Ông Mùi nói, với giọng bực tức: “Ai buộc nó? Chưa đổi được chiếc xe Tàu, lương lậu còn nằm sát đất đã tính cưới vợ”. “Vợ chồng duyên số. Cũng có thể nó coi đó là chuyện bình thường... Ai cấm người đi xe sáu triệu cưới vợ?”. “Chắc nó quên, mình vào đây là vì nó... Nó định làm đám cưới lớn, lấy gì làm?”. “Muốn tiếp cận giai cấp cao phải trải qua thủ tục rườm rà đó”. Một bà gánh một gánh hàng khá nặng, chạy chậm, rao to một câu nghe như hát, không rõ rao gì. “Nếu bạn gái ở Tuy Hòa vào, chúng nó có đón không?”. “Đừng khó, xét nét, ông ơi... Nhìn lại mình xem, trước kia ta đối đãi với cha mẹ thế nào?”. “Mua cho ta cái tủ, cái giường, gửi cho vài triệu bạc, chắc thằng Khôi nghĩ nó đã làm tròn bổn phận. Đồ... toàn một lũ heo!”. “Chớ nên nặng lời, tụi nó đang trên đường gia nhập vào giới trí thức. Trí thức là mềm mại, dịu dàng”. “Tôi làm ruộng... Tôi không thèm quan tâm tới mấy cái trí thức”. Bà Mùi không giận. “Giọng ông vẫn trẻ trung ngang bướng”. “Ngồi trên taxi tôi không nhìn phố phường, đèn đóm, chỉ nghĩ: nếu bạn gái từ Tuy Hòa vào, bọn nó có đón không”.
Trọn buổi sáng nhị vị nằm dài trên giường xem tivi, chẳng bỏ mục nào, ca nhạc, thể thao, hoạt hình, dạy hát... cốt để giết thì giờ. Hai thằng con gọi điện chào hỏi, nhưng chưa thấy đứa nào đến. Thằng Khôi làm cơ khí ở một hãng gì đó “nằm cách Biên Hòa hơn hai mươi cây số”. Thằng Quyền là nhân viên một công ty thực phẩm ở Bình Chánh. Nghe nói thế, nhưng ông Mùi không có một khái niệm rõ ràng nào về vị trí của các địa danh ấy... Mỏi cổ, mờ mắt, tắt tivi, hai người lại nói tiếp câu chuyện bỏ dở. “Lần đầu chúng ta đi Sài Gòn, một sự kiện có ý nghĩa!”. “Thôi mà, đừng bơm cho nó phình to ra! Lần đầu, đúng, nhưng không gán cho nó cái nhãn “sự kiện”... Mình nằm trong đám đông vô danh, dạng con nhái... Ta nên thương con. Tụi nó khổ đã lâu, đã thiệt thòi nhiều... Vào đây học, con nhà người ta xài mỗi tháng hơn triệu bạc, con mình chỉ tám trăm... Tôi nhớ mãi, hồi năm kia thằng Khôi đi Đà Lạt chơi với bạn, ta chẳng cho nó xu nào”. “Không có một đồng, lấy gì cho?”. “Khi nó tốt nghiệp, lẽ ra phải gửi tiền thêm vài tháng để nó ăn đi tìm việc, ta lại cúp ngay”. “Quen tật vu khống, không tiền sao gọi là cúp!”. Từ cổ ông Mùi phát ra những tiếng gừ gừ, đó là dấu hiệu cho biết ông đang nổi cáu. “Hơi buồn đấy, nhưng mình nên rộng lượng”. “Chúng nó sẽ phải trả giá”. “Ông định làm gì?”. “Dùng tiếng trả giá hơi nặng, tôi muốn nói bọn nó sẽ được “đáp lễ”, ví dụ như sau này cha mẹ vợ chúng nó qui tiên tôi sẽ không vào”. “Khéo lo xa, họ chẳng chú ý đến ta đâu”. “Vài trăm ngày, ba bốn năm nữa tôi vẫn sẽ còn nghĩ: nếu bạn gái chúng ở Tuy Hòa vào, chúng có ra đón không”.

*

Ông Mùi thuật lại buổi làm quen ở nhà ông sui mới. Anh Lập nghe, thích thú, háo hức... Ông Châm – cha vợ Quyền – chưa đến sáu mươi, tóc bạc, người thấp, hay cười, siêng nói. Người nói nhiều thường dễ tính? Chỉ có bà chị ruột ông Châm hỏi ông Mùi mấy câu, những người kia coi như ông không có mặt. Ông hiểu, mình chẳng có gì nổi trội để thiên hạ nhìn ngắm. Không buồn, ông còn mừng, nếu họ bu vào hỏi chuyện chắc ông cuống! Ngồi đây, giữa căn phòng lộng lẫy, nước da nâu của ông dường như sậm hơn, bộ veston (đồ mướn) ông mặc có vẻ chật chội. Ông ngồi dán trên ghế, nhìn quanh, nhìn quanh. Ông nhớ, đây là lần thứ tư trong đời ông diện đồ lớn, mệt!... Ông Châm nâng ly, hớp ngụm bia, nói hơi lớn: “Sống là đối phó, đối phó với hoàn cảnh, với tha nhân, với số phận”. Ông hỏi ông Mùi về phong cảnh làng quê miền Trung – do đâu mức sống của nông dân thấp – sống nhiều đời ở đó sao không nghĩ ra được cách tránh bão hiệu quả – đặc điểm của các tỉnh nằm gần nhau: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên là gì... Ngồi cùng bàn với ông Mùi, ngoài chủ nhà còn có bốn ông khác. Ai cũng trắng đẹp, mặt mũi đăm chiêu, chẳng nói gì. Họ để ông Châm độc diễn. Ông nhận định về giá vàng, giá đô la. Rồi qua, tình trạng tranh mua tranh bán của các đầu nậu nhà đất. Và, sự xô bồ, nhộn nhạo trong thời kỳ “tiến về phía hiện đại” của giới trẻ. Ông Mùi chăm chú nghe, đầy vẻ kính trọng. Ông ấy giỏi, biết nhiều quá! Giỏi là phải, ở giữa thành phố đầy ắp tiện nghi này, không biết gì mới đáng buồn. Có một câu ông Châm nói hai lần: “Trong hàng chục triệu người sao tôi không kết thân với ai, lại kết anh... đó là duyên số. Dù không biết ai sắp đặt, nhưng tôi yên tâm với sự sắp đặt này”. Có một câu ông ấy hỏi, ông Mùi không trả lời được: “Tại sao ta gọi thanh niên mười tám tuổi là người trưởng thành. Mười tám, không phải mười sáu, hai mươi? Người trên mười tám mà còn dại, ta gọi “vị thành niên” được không?” Ông Mùi ú ớ, ấp úng, cười trừ! Khi tiễn khách, ông ấy nói một câu ông Mùi không hiểu: “Có vui nào mà không buồn, có được nào không mất, có ràng buộc nào không có hậu ý”.

Anh Lập hỏi, bà Châm ra sao, đãi ăn có gì đặc biệt. Bà Châm? Ông Mùi ngồi yên, nghĩ một lúc. Bà ấy thường thường, như dân quê, không giống người quý phái. Bà cao hơn chồng, ít nói hơn chồng, hay hỏi “tại sao”, hay nói “thế à”. Khâu đãi đằng, bữa tiệc có sáu bàn, món ăn nhìn chung hơi giống những đám cưới ở ngoài quê, chỉ có bia ngoại là xịn. “Tôi không ngờ họ sang trọng đến thế”, ông Mùi nói như kết luận. “Anh không sợ?”. Anh Lập hỏi. “Lúc đầu cũng hơi khớp, mới đứng trước cửa đã hãi, nhưng rồi, mình trấn tĩnh được ngay. Chẳng quái gì phải sợ! Ta không nhìn vào két sắt nhà họ, không có ý nhờ cậy họ, thì ta có thể ung dung, phải không?”.

*

Tối, anh Lập đưa ông Mùi ra chợ Xóm Chiếu ăn bò vò viên. Bà Mùi và chị Thoa, vợ anh Lập, ở nhà to nhỏ chuyện trò, tâm sự. Nhà bên cạnh có người nói lớn tiếng, mẹ chửi con, bên này nghe rõ. Chị Thoa nói nhỏ: “Lúc túng thiếu hoặc giận chồng, bà ấy lôi con ra chửi”. “Nếu bà ta tụng suốt buổi chắc mình điên?”. “Rồi cũng quen, chị à. Ban đầu chán lắm”. “Quen?”, bà Mùi không tin. “Chớ sao, như quen khổ vậy”. Bà Mùi nói như đã nghĩ trước: “Tôi nghèo lâu, nhưng không quen. Mình biết mình khổ là không quen”.

Ngoài đường, con đường nhỏ, xe qua lại không ngớt. Bà Mùi thoáng nhớ vườn nhà mình, cái vườn xanh um xoài mít, rộng hơn năm sào. Khu phố này nhà cửa san sát, nhỏ hẹp. Đã non ba mươi năm, chị Thoa bỏ đồng ruộng lại sau lưng. Ở đây làm việc nhẹ, không gồng gánh, tránh được mưa nắng, nhưng nhịp sống hối hả, chụp giựt, cũng khiến người ta mệt. Mệt kiểu “công nghiệp”. Vậy là có nhiều lối khổ... Anh Lập khuân vác, và làm những việc không tên khác ở các kho hàng, các chành lúa gạo. Chị Thoa buôn bán lặt vặt bên chợ phường. Hai người đi tối ngày, không có chủ nhật, hiếm khi nghỉ. Không dễ ăn. Thế nhưng, Quyền, Khôi đều tính chuyện xin làm cư dân phường phố, tránh xa cày cuốc. Bằng cấp sẽ đỡ đầu sức trẻ. Ông Mùi ủng hộ ý thích của các con, ông nói: “Từ khi có trời đất, hai bên nội ngoại chúng ta đều bám làng xóm, nay hai đứa tiến về thành là hợp lẽ!”.

“Bà Châm nghiêm hơn chồng. Bà nói cười, đi đứng giống các diễn viên đóng vai mẹ trong những phim truyền hình”. “Tướng sang không”, chị Thoa hỏi. “Thường, trung bình. Nếu thả bà ấy vào làng tôi chắc sẽ được mọi người gọi bằng “chị”, chị thôi, không tới cấp “bà””. “Chị quan sát kỹ đấy... Nhiều người lẽ ra chỉ đáng vai “cô”, nhưng nhờ lắm tiền nên được thiên hạ nể, tôn cao thành “bà”... Bảo rằng không phân chia giai cấp, dẹp bỏ thành kiến, nhưng sâu kín bên trong vẫn còn nhiều mốc phân cách, xếp hạng con người: tôn giáo, sang hèn, sắc tộc, trình độ”. “Bao trùm lên trên là cái nhãn giàu nghèo... Bà Châm nói một câu đáng nhớ”. “Đáng nhớ, nhưng thú vị không?”. “Bà ấy bảo, sang năm sẽ ra nhà tôi chơi”. “Hấp dẫn đấy!”. Nghe chị sui nói vậy, bà Mùi giật mình. Bản mặt của mỗi gia đình là cái nhà, nhưng nhà bà hơi khiêm tốn, nhỏ và cũ, tầm thường và xấu. Nó nằm đó, đã ba mươi năm, trước mặt mọi người... Ngay từ lúc này phải nghĩ đến ngày “trọng đại” đó, ngày bà Châm về thăm. Mối lo này, suy cho cùng, xuất phát từ sự tự ti của người “giai cấp” thấp. Mong rằng bà ấy chỉ nói cho vui, nói xong quên ngay, không về. Chị Thoa đưa ra một nhận xét, để bà Mùi bớt lo: “Trọng tâm của vấn đề là đám cưới, các chuyện râu ria xung quanh đều phụ”.

Bà Mùi bị bất ngờ khi thấy chồng đón nhận tin này rất bình thản. Ông bảo, tất nhiên, họ sẽ ra. Thăm sui gia là việc của họ. “Bà lo ngại, sợ họ chê cười? Thằng Quyền từng nói nhiều lần: ta không cưới nhà cửa, xe cộ của họ... Nhà cửa lụp xụp? Họ chỉ ở chơi vài hôm, còn ta, ta gắn bó với nó đã mấy mươi năm. Nghèo, mỏng mảnh, đáng thương, chính do các điểm ấy mà ta khuyến khích con hướng về thành phố. Tương lai nằm ở đó... Thôn quê hiền hòa, thân quen bao đời nhưng đã lạc hậu, ẩm mốc”. Ông nhớ lời ông Phát, bạn thân, động viên ông trước hôm lên đường: “Mình không nhìn vào tủ tiền của họ, không định nhờ cậy họ việc gì, thì chẳng sợ”.

Bà Mùi không nói nhiều về nàng dâu. Nhìn phớt qua, có thể chấm “nó” trên trung bình. Khá cao, trắng, nhẹ nhõm, thanh tú. Chỉ vậy. Mỗi người có mắt nhìn, cách đánh giá khác nhau. Thực lòng, bà Mùi chú ý đến cặp “đối tác” sui gia hơn là cô dâu.

*

Sau cuộc làm quen, họ ở chơi thêm bốn ngày. Sài Gòn là đây, người kìn kìn, xe cộ cuồn cuộn. Bước ra cửa thấy ngay xe và người... Tối đến, lên giường, bà Mùi lại nhớ vườn cây nhà mình. Mới mấy ngày sao thấy lâu như hàng tháng. Đã ngoài hai mươi năm, nay bà mới xa nhà lâu ngày. Bà nhớ bầy gà, hai con chó, tiếng chim kêu giấc xế chiều, và cả cái nhà nhỏ “đặc trưng” của sự khổ... Khôi đãi cha mẹ một đêm cải lương, Quyền đưa nhị vị đi chơi gần trọn một ngày ở khu giải trí ST. Vui, lạ, chủ yếu là vui... Có một biến đổi thấy rõ, là tính tình ông Mùi. Chỉ một tuần, từ người khó tính, cố chấp, ông trở nên trầm tĩnh, dịu dàng. Hình như có chất gì đó, như thuốc tẩy rửa, đã tác động mạnh vào nhận thức về đời của ông. Ông ít nói hẳn. Ông quên mất chuyện hai thằng con không ra ga đón mình. Ông thấy rõ, chúng nó không vô tâm. Chúng làm việc nhiều, tất bật, quay mòng, khổ. Rất khổ. Cái khổ “công nghiệp”, lớn, mới, khác xa khổ mưa gió cày bừa, nhưng cũng là khổ. Mình nên thương chúng nó. Rút kinh nghiệm, chớ vội phê phán những điều mà ta chưa thấy rõ, chưa nghiền ngẫm kỹ.

Ngày hai lão nông lên tàu về quê, trên sân ga, Quyền dúi vào tay mẹ một phong bì, trong đó là tiền “để bố mẹ ăn đi đường”. Tuyệt, chu đáo, ông Mùi xúc động! Đột nhiên, ông nhớ lời ông Châm: “... có được nào không mất, có ràng buộc nào không có hậu ý” ./.

ÂM THẦM

Kéo tấm mền đắp lên ngực ba, vặn ngọn đèn dầu cao thêm chút nữa rồi Đoan ra khỏi buồng. Chị Trầm ngồi nơi bàn, hai tay chống cằm, cúi gầm đầu như¬ đang chăm chú ngắm một cái gì. Đoan đẩy cửa ra trước thềm. Gió lay vườn chuối lào rào, lào rào. Trời đất đen hầm. Những khóm cây bên gò chùa to sầm, thu lu như những đống đất cao. Ban đêm ít khi Đoan dám ra ngoài. Ba nói thổ ngơi gò ấy hiển linh lắm. Trước kia có một ngôi chùa xây nơi đó, trụ trì là một ông sư¬ già. Ngày nọ ông sư¬ tìm được trong mảnh vườn nhỏ mấy chiếc hủ sành đựng đầy vàng. Ông đem về chôn kỹ sau liêu. Rồi hàng ngày thừa lúc vắng vẻ lại ra moi lên ngắm nghía. Ông ra vào thăm nom hoài nên có người thấy được sinh nghi. Họ theo dõi nhà sư và ít lâu sau lén tới khuân vàng đi mất. Nhà sư¬ tiếc của, ngơ ngẩn suốt mấy tháng rồi lâm bệnh mà chết. Ngôi chùa bỏ hoang, bây giờ dấu tích chỉ còn cái nền gạch cây cỏ phủ đầy. Người ta nói ban đêm thường trông thấy có nhiều điềm lạ hiện ra quanh vùng đó. Khi thì vài đốm lửa xanh đỏ chập chờn, nhảy múa lởn vởn. Khi thì một ánh đuốc sáng lòe xuất phát từ cái nền chùa cũ bay vút lên cao, kéo theo chiếc đuôi dài ngòng tím thẫm. Dân chúng cho là hồn thiêng của ông thầy chùa hiển hiện hoặc những hủ vàng vẫn còn sót dưới đất, và đêm tối hơi vàng bay lên “đi ăn”. Lắm người mò tới moi móc tìm kiếm, và lúc trở về tất cả đều bị bịnh một cách kỳ dị. Họ bị vàng “bắt”. Thế là sau ấy không ai dám mon men lại gần chốn u linh ấy nữa. Cây cối ngày một lên cao, cỏ dại mặc tình sinh sôi. Ba nói thỉnh thoảng ba cũng thấy được các hiện tượng lạ, thường là vào lúc nửa đêm thanh vắng trong những ngày đầu tháng, rằm lớn, giỗ kỵ. Đoan nghe và để tâm kinh sợ.
Lào rào, gió rít mạnh thêm. Đằng xóm giữa có tiếng chó sủa. Ban đầu một hai tiếng lẻ tẻ, rồi lan ra, xôn xao. Chắc là chó đánh hơi có người đi ngang. Lạ, nửa đêm thế này mà ai đi đâu. Đoan quay vội vào nhà, hình như có một luồng gió nhẹ bay vờn sau gáy, cọ sát vào da lạnh buốt, Đoan rùng mình.

Chị Trầm tới giường ngồi, ngọn đèn trên bàn được chị vặn to từ lúc nào. Ba rên mỗi lúc một lớn hơn, kéo dài ồ ồ. Chị Trầm bảo nhỏ:

- Mày vô xem ba thế nào ?

Đoan giương mắt nhìn chị. Chị lớn sao chị không đi trước coi. Con gái thường hay nhát nhớm. Ngày má còn mạnh không đêm nào chị rời má. Thế mà hôm má sắp chết chị sợ hãi bỏ ra ngoài, không hề bước lại gần chỗ má nằm.

Cảnh vật vắng tanh, người ta có thể nghe tiếng tàu chuối xô nhau bên ngoài rõ mồn một. Cánh cửa thiếc sau chuồng heo bị giật đập lẻng kẻng. Phải chi lúc này có dượng Hanh thì yên tâm biết mấy.

- Đập thằng Chữ dậy chị Trầm.

- Biểu nó dậy làm gì ?

Đoan gắt:

- Cho vui.

Ba rên đều đều, chắc bây giờ ba mở miệng rộng ra mà tống hơi thở chứ không phải rên như thường nữa.

Đời ba thật khốn khổ. Từ nhỏ đến giờ ba chỉ hưởng được một thời gian thảnh thơi ngắn ngủi. Đó là quảng ngày ba đi lính, hồi xa xưa. Đoan nhớ những buổi chiều ba dẫn tốp lính mới ra bãi cỏ sau luyện tập đi, “ỏn đơ, ỏn đơ”. Ba mặc cái quần ka ki vàng ống dài tới trên đầu gối, áo vàng ngắn tay, đội chiếc mũ thon thon như cái thuyền nan. Ba ngậm còi thổi từng chặp, tốp lính bước đi rập rập coi lạ mắt. Ba làm xếp. Người ta kêu bằng thầy đội. Tuy lúc ấy còn nhỏ lắm nhưng Đoan vẫn nhớ được trong đồn huyện có nhiều ông Tây cao ngồng, đen thui và rất thương trẻ con. Ba nói chuyện với các ông Tây đó một cách ngon lành. Dân ở ngoài cũng nể ba, nên chi mỗi khi bắt tay ba họ thường cúi mọp mình xuống đầy vẻ cúm rúm kính cẩn. Sau này, những lúc nhớ thời gian hiển hách đó là thường giở xem lại những bức hình xưa, mân mê, nhìn ngắm hàng giờ. Những bức hình chụp ba ăn mặc bình phục oai nghi, áo gắn huy chương, lưng đeo súng lục, và tay cầm ba-tong. Ba gìn giữ nâng niu những tấm hình như người ta quý trọng vật gia bảo.

Còn những tháng năm về sau toàn là những ngày gian lao. Ba làm lụng tối tăm mặt mũi cũng không đem lại cho gia đình một cuộc sống no đủ. Trời đất gạt gẫm không cho ba sung sướng. Có lần ba đã liều lĩnh mò qua gò chùa tìm vàng. Gạt sang một bên những lời đồn đãi, ba mang cuốc xẻng đi đào xới trong nhiều đêm liền. Kết quả không có gì, ba lại bị đau. Đau nặng tưởng chết. Thiên hạ được dịp phao rùm lên là ba bị vàng bắt. Người bị vàng bắt thì nước da xanh mướt, tròng mắt vàng chái.

Thời xưa những người hiền thường gặp sự lành. Dù trước có khổ sở lận đận bao nhiêu chừng kết cục vẫn sum họp, giàu sang. Vân Tiên bị kẻ tiểu tâm hăm hại đui mù hoạn nạn, gian truân, nhưng sau vẫn đậu Trạng, làm vua. Xuân Nương có đau tủi nhọc nhằn, chết đi sống lại rồi cũng là Hoàng hậu, đoàn viên cùng Lâm Sanh. Ba đọc thơ và nói ba cũng hiền lành thôi, mà sao tới giờ vẫn còn khốn đốn.

Đoan vô buồng tới gần giường, ba nằm yên, chân tay thẳng đơ. Đầu ba hơi nghếch lên cao để chiếc cổ chuôn dài cho hơi thở dễ lưu thông. Ngoài này chị Trầm đập bép bép lên mông bé Chữ, chị kêu khe khẽ:

- Dậy Chữ, dậy.

Thằng nhỏ lăn qua phía khác ú ớ trong miệng.

- Dậy đi em, dậy em.

Và chị lại đập bép bép.

Hồi sẩm dượng Hạnh tới thăm, chị em Đoan năn nỉ dượng ở lại ngủ cho có bạn. Ba mê man đă mấy hôm nặng quá sợ khó qua, ba chị em chỉ biết chúm chụm lại mà lo sợ.

Nói thì nói nhưng Đoan biếi không thể cầm dượng Hạnh ở ngủ. Đêm nào như đêm ấy, chiều vừa chập xuống làng xóm đã im lìm. Trai trẻ đàn ông kéo lên xã ngủ từ sớm. Những người còn lại lo rút êm vô nhà, đóng cửa tắt đèn. Tiếng chó sủa ban đêm rót vào bầu không khí vẻ dọa dẫm, nặng nề. Dượng Hạnh vẹt mền sờ bụng ba. Cái bụng mấy hôm cương chang bang nay xẹp xóp, như dính sát tận xương sống, hai lớp xương sườn tranh nhau nhô ra ngoài trơ trẽn. Dượng đặt lên trán, lên cái mũi tím ngắt đón hơi thở. Quay ra dượng thở hắt buồng rầu :

- Yếu quá.

Mấy đứa cháu nhìn nhau lo ngại. Dượng Hạnh ngồi rán lại một đỗi lâu, uống nước, nhấp nhổm ngó ra cửa. Quả đất lăn lẹ. Vườn chuối đã nhuốm màu thâm thẫm. Chợt dưới cuối xóm một con chó sủa lên rông rổng, rồi chỉ trong khoảnh khắc đă có thêm nhiều con khác phụ họa rầm rộ. Dượng Hạnh bật dậy, nhảy tới hiên lấy xe, dượng dặn với mấy câu rồi lật đật ra ngỏ. Tiếng chó sủa từng hồi, từng hồi gấp rút tống mạnh dượng Hạnh chạy khỏi làng. Trong nhà không khí lạnh lẽo trùm lên những người còn lại. Tiếng rên của người bệnh giờ một lớn thêm, như muốn lấn át tiếng gió bên ngoài.

Bé Chữ bị đập thức ngồi dậy ngơ ngáo, nó toác miệng ngáp và đưa tay dụi mắt. Chị Trầm nhìn nó, rồi chị cũng dụi mắt, và ngáp. Trông chị có vẻ bơ thờ mệt mỏi, chị từ từ vén mảng tóc rối ngà phủ trên má, nhưng chị vừa bỏ tay ra nó lại ngă xòa xuống, chị để yên không vén nữa.

Đoan lật quyển sách trên bàn, liếc những tấm hình. Mới về hơn một tuần mà thấy như đă lâu lắm. Ngày giờ sao bỗng nhiên chạy qua thật chậm. Bữa nhận được thư chị Trầm gửi về, Đoan linh cảm là lần này có cái gì khang khác với những lần về thăm nhà trước đây. Đoan thu xếp sách vở mang theo, trả hết tiền trọ, từ giã mọi người, ra xe, lưu luyến. Chị Trầm viết “ Ba đau nặng quá Đoan ”. Chỉ một câu đó cũng đủ báo cho Đoan biết là mình chắc không còn dịp trở lại nhà trường. Đoan mân mê tấm bảng danh dự kẹp giữa sách. Những dòng chữ bay bướm đậm nét. Tấm này chưa đưa ba xem. Sợ ba sẽ không còn thời giờ để xem nữa. Năm nay con chỉ kiếm được có hai lần danh dự, con cố gắng hết sức rồi đó. Mấy tháng gần đây tiền chị Trầm gởi lên thất thường, còn những lá thư kể lể sự túng thiếu thì dài và đều đặn. Nhiều bữa Đoan không ghé lại quán cơm học sinh mà lủi ra bến xe đò mua một ổ bánh về nhai đỡ bụng. Đến trường không còn thấy vui. Tối tối cái buồn ở đâu ập xuống. Và từ đó những trang vở bỗng toát ra sự lạt lẽo.

Ba nói :

- Mỗi năm mày mỗi kém đi, thích chơi rồi hả con ? Tao còn sức moi gạo ra cơm mà.

Đoan chối bay :

- Dạ không đâu ba. Tại trên tỉnh nhiều nhân tài chớ, dân tứ xứ tụ lại đông lắm. Dưới trường quận mình chỉ có một năm người xoàng xoàng để qua mặt, ở trển thì khó vượt hơn.

Ba không thắc mắc thêm. Chỉ có những tấm giấy khen mang về là làm cho ba vui. Mấy năm ở lớp dưới Đoan kiếm được khá nhiều giấy khen, về sau ít dần, ít dần đi. Ba mỗi năm một già xọm, gầy mòn. Cơm gạo chạy vào thúng ba thưa thớt, cũng như những tấm bảng danh dự ngày càng tránh xa tay Đoan. Đoan có lý do bào chữa cho sự kém cỏi của Đoan. Còn ba, không thấy ba nói tới việc xuống dốc của mình.

Chẳng khi nào ba xem xét bài vở của con, vì ba có biết gì đâu mà xem. Đoan thường kể những sinh hoạt ở trường, ba chịu khó nghe và đôi khi cũng tỏ vẻ thích thú. Học trò bây giờ nghịch lắm ba. Thầy giáo, cô giáo trẻ thường bị chúng quấy chọc. Vào một lớp xồ xào, học trò lúc ngúc nói chuyện, cô giáo bèn đập bàn bảo im, cô nói : - “Các em im lặng, học đi rồi cuối giờ cô cho chơi ”. – Im lặng ngay. Và đến cuối giờ “các em” nhao nhao : “Gần hết giờ rồi, cô cho chơi đi cô. Cho chơi chút đi cô”. Tiếng cười cợt , tiếng tán thưởng ầm ĩ. Giờ vạn vật vài đứa tìm đủ cách để xuyên tạc các bức vẽ của thầy trên bảng, chúng tìm những ý nghĩa khôi hài gán cho những hình ảnh đó, để hiểu ngầm và cười với nhau. - “Thưa cô vì sao nhũ hoa đàn ông không nẩy nở như đàn bà?” Thưa cô thế này, thưa cô thế nọ, rồi lại xồ xào, rúc rich. Nghe qua ba lắc đầu. Hồi trước đâu có tình trạng đó. Học sanh sợ thầy như sợ cọp. Trên bàn thầy nạt một tiếng là dưới chiếu cả bọn nín khe và run. Chữ nghĩa được quý trọng, sách vở không dám lót đít mà ngồi. Ba nói :

- Thời đại bây giờ có nhiều cái bậy quá hỉ. Nhưng mà này, mày đừng bắt chước bọn nó nghe, trước học lễ sau mới học văn các cụ ta ngày xưa nói vậy đó.

Ba cố gắng chịu cực chắt mót cho con theo học để may ra sau này nó làm được một cái gì, lạ hơn, vẻ vang hơn là tưới mồ hôi xuống ruộng cát, tưới mồ hôi xuống rừng rẫy để kiếm cơm, như cha ông nó. Đời ba đen đủi, cho tới ngày gần chết rồi ba cũng chưa biết mặt mày ông cha bà mẹ ngang dọc thế nào, đừng nói chi đến chuyện học hành.

Gà gáy lẻ tẻ dưới xóm. Gió vẫn còn rít vun vút. Vườn chuối bị vần xơ xải, tàu lá te bầm rách mướp. Bé Chữ khom mình mân mê chơi với mấy ngón chân của nó. Chị Trâm ngồi gục đầu xuống gối. Hình như ba đã ngủ hoặc mê đi, không còn nghe tiếng rên. Có lẽ trời sắp sáng. Mùa đông đêm dài hơn ngày. Đoan thấy đôi mắt mình muốn cụp xuống, mấy đêm liền thức trắng làm con người rã rời.

Cót két, cót két, tiếng kêu dọc đường của những chiếc xe đạp già nua vang lên ngoài ngõ, rồi lớn dần, chạy vào tới sân. Dượng Hạnh ho đánh tiếng. Đoan mừng rỡ chạy ra mở cửa. Dượng Hạnh hỏi lớn :

- Ba có bớt chút nào không cháu ?

Gió mạnh đánh bạt tiếng nói. Đoan long ngóng không nghe rõ. Dượng Hạnh đi ngay vào buồng. Chợt nghe dượng kêu :

- Ủa…trời !

Đoan giật mình, dượng Hạnh quay lại :

- Tụi mày không canh chừng, ảnh bỏ đi tự lúc nào.

Đoan bước lên. Ba nằm đó, cặp mắt trợn trừng, cánh mũi đen kịn như bị ám khói. Dượng Hạnh vuốt mắt ba, xếp đặt tay chân ngay thẳng, xong dượng dẹp bỏ những chai thuốc trên đầu giường. Đoan sững sốt, chị Trầm thút thít ngoài cửa. Dượng Hạnh kéo mền phủ mặt ba, rồi dượng xuống nhà sau lấy một lưỡi dao cùn đem bỏ lên bụng người chết. Dượng làm nhẹ nhàng, lặng lẽ ./.

31 thg 8, 2011

ƯỚC MƠ NHỎ


Hôm đó, trên chuyến xe đò từ Cầu Đúc đến Thới Thuận – hơn 200 cây số – tình cờ Lộc ngồi cạnh chị Thủy. Ở cùng làng, hai nhà chỉ cách nhau vài trăm mét, nhưng xưa giờ Lộc chưa trò chuyện với Thủy lần nào. Thú vị, vui, nhờ chị mà quãng đường dài qua nhanh. Thủy thích nói, biết pha trò, có những nhận xét phân tích đánh giá về nhiều mặt của cuộc sống khá tinh tế. Được như thế, theo chị, nhờ sách báo. Chị đọc nhiều, “nhiều nhất xã”, thượng vàng hạ cám, mấy chục năm qua không nghỉ ngày nào… Đi đôi với nói là ăn. Mỗi lần xe dừng nghỉ, đội quân bán hàng rong ào tới, Thủy sẵn sàng mua ngay. Cốm, mè xửng, hột gà, bưởi, nho, trứng cút, thơm, măng cụt, chuối ép, táo, chôm chôm… không sót thứ nào. Chị nói: “Mình ăn cho vui, ủng hộ bà con nghèo… Lộc thấy đấy, họ bươn chãi kiếm sống cực nhọc lắm.” Chị đưa cho Lộc một túi trái cây đầy tú hụ, bảo: “Ăn đi, xơi hết cũng được!” Trong túi xách của Thủy có mấy cuốn sách, và xấp báo. Chị không giống dân quê. “Lộc đọc báo không?” Lộc lắc đầu: “Cầm tới sách, chỉ đọc vài dòng là tôi ngủ, mỏi mắt lắm.” Thủy có vẻ thất vọng: “Nhiều người như vậy, Lộc nằm trong đám đông… cả làng ta, hơn hai ngàn người, chỉ ba bốn người mua báo thôi.” – “Người ta thích nghe nhạc, xem phim, ăn uống.” – “Ăn nhậu, biết bao nhiêu quán… Thị trấn huyện mình nhỏ, nhưng mỗi tuần tiêu thụ bốn xe hơi bia… Uống thế cũng tốt, nhưng không cân đối, cái bụng được nuông chiều, cái đầu bị xử ép!” Lộc ăn măng cụt, nho. Thủy ăn không ngớt, hết món này tới món khác. “Người Nhật không phải Tây, dáng vóc họ chỉ nhỉnh hơn ta chút xíu, nhưng họ đá banh giỏi, viết văn hay, khoa học kỹ thuật siêu việt.” – “Chẳng so với Nhật được, chị ạ. Đài nói, họ giàu, dân họ học đại học rất nhiều… tất cả các thành tựu đều từ cái nền học vấn ấy mà ra.” – “Họ có những tờ báo in mỗi kỳ hơn chục triệu bản… Ta phải nhìn thấy chỗ yếu của ta mới mong…” Một ông ngồi hàng ghế trước quay lại, cằn nhằn: “Bà chị nói nhỏ giùm, Nhật với nhọt!… Ta đi xe đò. Các chuyện loại đó cứ để những kẻ đi máy bay lo!” Thủy xuýt xoa: “Xin lỗi anh, tôi sẽ nói khẽ.” Nhà Thủy giàu nhất nhì làng, chị tháo vát, biết làm nhiều nghề, kiếm tiền có vẻ dễ dàng. Chỉ có cuộc sống riêng tư của chị là xộc xệch, bất ổn. Cách đây ít lâu chị “quan hệ” lén lút với một ông hàng xóm, có vợ con, lớn hơn chị hai chục tuổi, tai tiếng không để đâu cho hết. Trong lãnh vực này, xem ra sách báo chẳng giúp chị được mấy!

Thủy đọc báo. Khoảng hơn mười phút sau, chị nói: “Có khi đọc hàng chục cuốn sách vẫn không ích lợi bằng biết câu này: hãy suy nghĩ kỹ những điều bạn nói, nhưng đừng nói hết những gì bạn nghĩ.” Lộc nhớ mang máng đã nghe câu này ở đâu đó: “Hình như tôi có đọc câu chị vừa nói.” - “Trên các cuốn lịch ấy mà, người ta in đi in lại!” Bác tài mở nhạc, một giọng ca buồn thảm cất lên, than khóc cho các mối tình dang dở. Không còn yên tĩnh. Thủy có cơ hội nói thoải mái: “Thực ra, chị đọc sách chủ yếu để giải trí, lắm khi đọc cả đống sách báo cũng chẳng thu hái được gì đáng kể… chậc, xưa kia khi chưa có chữ viết, thiên hạ làm gì cho hết thời gian rỗi?” – “Không rỗi đâu, họ bận rộn trong các việc tế lễ, hái trái, săn bắn, để duy trì sự sống.” Thủy khen: “Lộc giỏi đấy, chắc đúng như thế… Đâu phải người thượng cổ nào cũng u mê… Có nhiều ý tưởng, triết thuyết, đọc qua mình cứ nghĩ nó mới ra đời năm ngoái, không ngờ đã có từ thuở chúng ta còn ở trần đóng khố.” – “Cũng như các kim tự tháp vậy mà, đã mấy ngàn năm”, ông khách ngồi ghế trước góp chuyện, chắc để khỏi phải nghe nhạc. Lát sau, ông tiếp: “Bà chị biết hơi nhiều… Phụ nữ sành như vậy sẽ… gay! Tôi dám nói, bà chị không có chồng.” Thủy hoảng. Chị ngồi im đến nửa tiếng đồng hồ.

*

Mười sáu năm sau, vào một trưa nắng gắt, Lộc gặp lại Thủy trên một đoạn quốc lộ I vắng vẻ. Chiếc xe gắn máy của Thủy trở chứng, không chạy nữa. Chị đi quanh nó, sờ chỗ này, lắc chỗ kia. Thủy khác xưa nhiều, từ dáng người đến cách ăn mặc. Chị là Việt kiều ở Úc mới về nước.. Nắng trưa nung quãng đường nhựa sáng bóng lên, như được dội mỡ. Lộc tới giúp Thủy. Thủy nhìn anh, không nói gì. Mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt đỏ au của chị. “Thủy quên mình rồi chăng… lẽ nào quên?” Chị phát phì, to lớn hơn trước gấp rưỡi. Cũng do mập thế, nên trông chị xấu hẳn đi. Lộc không rành xe cộ, máy móc, nên sau một lúc lâu loay hoay, tình hình vẫn không được cải thiện. Chiếc xe đứng ì xác ra đấy, nắng càng lúc càng dữ hơn… Từ đây đến cầu Nước Mặn hai cây số, ở đó có tiệm sửa xe. Lộc đem chiếc xe đạp và cái cuốc của mình vào giấu trong đám rừng chồi, trở ra dắt chiếc xe gắn máy của Thủy: “Ta đi, vô cầu Nước Mặn, sửa xe.” Thủy gật, mặt buồn xo. Lên đàng. Thủy đi chậm, ì ạch, cái mũ trắng rộng vành kéo sụp xuống trán, chiếc túi lớn mang xễ trên vai. Chị thở phì phò, như đô vật Sumo xuống sức. Lộc nhớ chuyến xe năm nọ. Không hiểu giờ Thủy làm gì, có còn đọc sách nhiều như xưa? Chỉ thấy rõ một điều, nay Thủy ít nói. Hồi đó chị nói liền liền, không để miệng nghỉ. Lộc nhớ hai cái túi nhựa lớn đầy ắp trái cây chị mua, và chị bảo: “Lộc ăn hết đi… mình mua ủng hộ bà con nghèo.” Ở nơi Thủy sống hiện giờ có người nghèo không? Chị ấy làm mặt lạ, coi như chẳng biết Lộc. Quên sao được, đâu phải con nít. Nhưng mặc kệ chị ta, cái quan trọng lúc này là quãng đường khá dài, trời lại nắng đổ lửa… Lộc nhớ, trên chuyến xe đò năm ấy, ông khách khó tính ngồi ở băng ghế trước lúc đầu cự nự Thủy nói nhiều, về sau lại cùng chị “đấu” ra rả. Thủy bảo ông ta: “Đọc, chẳng thể nhớ hết. Vậy mình tìm cách để nhớ những gì mình thích. Tốt nhất là gom, đúc chúng lại, như nấu thùng nước mía thành những tán đường… Tôi thường nhớ những cái là lạ, vui vui, như: ngay ở nước Pháp văn minh cũng có khoảng 14 phần trăm hộ không có cuốn sách nào trong nhà – Chỉ vì một nhúm thằng điên cuồng, chó đẻ mà hơn 50 triệu người đã chết trong thế chiến 2 – Ba trăm triệu tín đồ của Bái Thần giáo sẽ kéo rốc lên thiên đường sáng lóa? Cứ để họ lên! Còn ta, ta sẽ xuống địa ngục nhộn nhịp, vui vẻ với 4,9 tỷ người còn lại.” Ông khách thích lắm, ông ta hỏi đi hỏi lại: “Bà chị chưa chồng, phải không nào?”.

*

Đi hơn nửa đường, Thủy kêu đau chân, hai người tấp vào dưới bóng mát lùm cây bên đường nghỉ. Thủy lấy trong túi xách ra một chai nước khoáng nhỏ, mời Lộc. Chị nói, Lộc khác trước, đen quá, mất đến chục phút chị mới nhớ ra. Gần một phần năm thế kỷ, khác cũng phải! “Chị còn nhớ là mừng rồi.” Thủy cho biết, mai chị sẽ bắt đầu chuyến đi chơi xa, trong nửa tháng, ra Hội An, Huế, Phong Nha, Hà Nội, thăm những nơi chị chưa biết. Thủy nhận xét, quê nhà có phát triển, mới, nhưng không nhiều. Mặt ngoài, nhà cửa đẹp, không còn nhà tranh, nhưng đường, chợ vẫn hẹp, nhỏ, đầy rác. Mặt trong, số người ngồi đánh cờ tướng, tán phào cả ngày trong các quán vẫn còn nhiều. “Họ không lười, nhưng chẳng có công việc cho họ làm”.

Thủy kể về cuộc đổi đời của chị. Chị qua Úc bằng con đường không chính đáng. Tại đó, chị lấy một người có hoàn cảnh tương tự như mình. Sống với nhau tròn bốn năm, có một con, anh ta bỏ chị, theo người tình mới. Nay chị sống với đứa con gái, làm nghề tự do. “Tiện nghi, vật chất tốt đấy, nhưng luôn bận rộn, ít khi có dịp nghỉ ngơi ba bốn ngày… Cái lận đận, xui rủi vẫn bám theo tôi. Lão chồng cũ ấy nói giỏi, làm giỏi, tướng đẹp. Do có nhiều ưu thế, nên lão ta hất mình. Đau, bên đó đa số đàn bà “đá” đàn ông!… Mà thôi, không dằn vặt nữa, mọi thứ qua đã lâu! Nhưng, nói chung, tôi không đạt được sự thảnh thơi, sướng thỏa theo như tôi tưởng hồi xưa.” Thủy cười. “Thời đó, tôi thích mấy câu nói về những người không có cần vẫn câu cá: bằng cấp là chiếc cần, tiền bạc là con cá. Nhiều người không có cần vẫn tóm được cá. Họ bắt bằng tay, lưới, hoặc rổ rá… Người ta có thể câu được cá, kiếm được tiền bằng nhiều cách. Du lịch Úc theo kiểu đi chui là chiếc cần mạo hiểm, nhưng lúc đó trẻ, thừa nhiệt huyết, nên tôi dám “câu”.

Thủy hỏi, nay Lộc sống thế nào, khá hơn xưa ít nhiều? Lộc kể ngắn, gọn. Thực ra, cũng chẳng có gì nhiều để nói, Thủy dư biết, chị hỏi vì xã giao thôi. “Ước mơ lớn nhất của anh là gì?” – “Thằng con học đến tú tài.” – “Còn anh và bà xã?” – “Tôi chưa nghĩ tới.” Thủy cười xòa: “Ít quá, anh khiêm tốn, không lẽ chỉ cần chừng ấy.” Lộc lấy làm lạ, tại sao Thủy không tin… Có phải những người không đi xa, không đọc nhiều, thì thấy gần và nghĩ thấp? “Bên đó có người nghèo không?” Thủy gật: “Có chớ, ở đâu cũng có… Tôi đã đi Anh, Ý, Pháp… nhưng họ nghèo khác mình.” – “Vậy là có hai kiểu nghèo?” Thủy nhíu mày: “Ồ, không phải hai, nhiều hơn nữa.” Trông mặt Thủy tươi tỉnh, vui hơn lúc nãy. “Tiếc, trên chuyến xe đò năm nọ chị nói nhiều câu hay, nhưng nay tôi quên mất cả… Tôi nghĩ, biết rộng cũng thú… nhưng có điều này, tôi muốn nói, sợ chị giận.” – “Ai giận sẽ chóng già, anh nói nghe!” – “Ở bên Tây thích đấy, nhưng khi ta về già, chết đi, thì buồn quá.” – “Anh muốn nói?” – “Nằm ở đó đâu phải đất mình… lại nữa, nghe như họ đốt xác?” Thủy cười: “Tưởng gì! Nhiều người cũng nghĩ về chuyện đó… mới đầu tôi cũng lo như anh, nhưng…” Ngẫm nghĩ khá lâu, Thủy tiếp: “Suy cho cùng, trên đời đâu có gì hoàn hảo, tuyệt đối, hễ được cái này sẽ mất cái kia… trong nhiều trường hợp, ta phải nhắm mắt sống theo mọi người, theo số đông… Vấn đề anh nói, nhiều người giải quyết gọn lắm: già, họ về chết ở quê.” – “Được quá!… không phải chỉ có một con đường trên đời.” Thủy lục tung chiếc túi xách, tìm thứ gì đó, không thấy. “Ở đây chẳng có tấm ảnh nào… tôi muốn cho anh xem mặt cháu, nó đẹp lắm!” Rồi chị nói, thủng thẳng: “Tôi không nói quậy như tôi là tốt. Có điều, anh làm tôi ngạc nhiên… Sống ở đâu cứ sống, làm nghề gì thì làm, tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Nhưng ta nên tập nghĩ rộng rộng, và ráng nhìn ra khỏi cái lùm tre đầu làng, để biết mơ mộng, và nâng cái ước muốn của mình lên cao chút nữa.” Thủy cũng có lý. Nếu phải kể ra, Lộc sẽ nói: muốn xây cái nhà mới to đẹp, mua một chiếc xe gắn máy đắt tiền, được “cỡi” máy bay, được đi thăm hết thắng cảnh khắp nước… Nói chi xa, nay tuổi đã khá dày, anh vẫn chưa biết Huế và các tỉnh từ đó trở ra. Lộc không muốn bộc lộ những điều ấy, sợ chị Sumo sang trọng này cười. Chẳng hiểu sao, từ xưa đến giờ, từ sâu thẳm trong lòng, anh luôn kính nể những kẻ giàu có ./.

30 thg 8, 2011

TÌNH QUÊ XA KHUẤT


Một chiếc xe ngựa mui trần chở đầy dưa hấu đến dừng trước cổng nhà ông An. Người đánh xe là một cô gái khá xinh, vóc dáng đẹp, trông nhanh nhẹn mạnh mẽ như đàn ông. Cô gái xách mấy trái dưa đựng trong chiếc giỏ mây vào, nói với Duy Ninh:
“Em gởi giỏ dưa cho chú Tám”.
Thấy cô gái hay hay, Duy Ninh ghẹo:
“Dưa này tặng hay biếu đây, cô em?”.
“Dạ, tặng đấy ạ”.
“Nhưng phải biết của ai, tôi mới nhận”.
“Của hàng xóm, nhà kia – cô gái chỉ ngôi nhà ngói mới ở kế vườn ông An – của em, em là Son”.
“Son, chị thằng Hưng, tôi biết rồi. Thế mà tưởng ai!”.
Cô gái cúi chào: em về.
“Cảm ơn cô Son. Hôm nào tôi sẽ qua chơi, nhờ cô dạy đánh xe ngựa”.
“Không dám dạy đâu, nhưng em chẳng giấu nghề, trong một buổi biết ngay, dễ ợt, anh Ninh à! – Son cười, hàm răng đều, trắng bóng, nụ cười mặn mà”.
“Vậy ra cô cũng biết tên tôi. Thế là chúng ta quen nhau rồi nhé!”.
… Qua những lần trò chuyện với cậu bé Hưng, Duy Ninh biết ông Mới – cha Son – làm nghề đánh xe ngựa. Son có một chị đã có chồng. Hưng là em út, kém Son bảy tuổi. Những việc đồng áng của nhà ông Mới như trồng mía, mì, sắn nước đều do Son đảm trách. Cô gái cày cuốc, khuân vác gọn gàng, khỏe không thua trai tráng.
*
Làng cận sơn Mậu Lâm nằm trên bờ sông Bương, một con sông nhỏ, đẹp. Sáu mươi ngôi nhà ẩn mình dưới bóng tre, mít, khuất sau những ruộng mía um tùm. Lặng lẽ, yên tĩnh, ở đây ít khi nghe được tiếng động gì lớn. Đất thổ cư, vườn cây ăn trái rộng, nhà cửa cất cách xa nhau, nơi nào gần nhất cũng trăm mét… Ban ngày, trên các thửa ruộng mía, đất mì thanh niên nam nữ đội nón lá, khăn che mặt, cặm cụi xới đất, cuốc cỏ. Trẻ em tụ tập chơi trước sân trường, hoặc tắm dưới bến đò… Làng hẻo lánh, cách núi chỉ một cây số, cách quốc lộ I và đường xe lửa đến ba mươi cây số, chưa có điện, xa ánh sáng văn minh. Hưng nói, xưa giờ em mới được lên chợ huyện có ba lần. Tuy thế, về vật chất dân làng không nghèo lắm, sống khá ung dung, nhàn hạ, nhờ đất nhiều và màu mỡ… Mậu Lâm không có nhà tranh, tất cả đều lợp ngói. Hộ khá giả xây tường gạch, hộ yếu hơn thì trét vách đất. Có thể xếp khoảng một phần ba số gia đình vào hạng giàu, chủ yếu nhờ mía đường, và nhờ đức tính sống cần kiệm. Nhiều người nói, giọng tự hào: tuy nhiều năm chưa được ra phố vào quán “kéo ghế” lần nào, nhưng nếu có dịp thì ta cũng sẽ ăn xài mát tay không thua bất cứ ai!
*
Duy Ninh nghiện ma túy một thời gian, tuy chưa lâu lắm nhưng cũng đã khiến cơ thể anh suy nhược, người xanh xao gầy còm. Khi Ninh ở trường cai nghiện ra, theo lời khuyên của các bác sĩ, ông Đăng – cha Duy Ninh – tính đưa anh về vùng quê tĩnh dưỡng. Suy nghĩ, cân nhắc, cuối cùng ông chọn nhà ông An – một người em họ – ở làng Mậu Lâm, “một làng quê không đâu quê hơn, một nơi xa không đâu xa hơn” để Duy Ninh có cơ hội hồi phục sức khỏe, được hít thở không khí trong lành, xa cách hẳn phố xá với đám bạn bè xám xịt.
Lúc mới đến, Duy Ninh nghĩ chắc mình không thể trụ lại đây quá một tuần! Heo hút, buồn rớt! Phía tây núi cao chập chùng chắn tầm mắt. Ba bên đất mì, ruộng mía vây bọc, xanh tốt, như rừng rậm. Nhà thưa thớt. Không thấy bóng xe hơi, không điện đài chợ búa. “Ái chà, sao trên mặt đất lại có cái làng rầu rĩ thế này… sao người ta có thể sống suốt đời ở một nơi như nơi này?” Chiều xẩm chim công trên núi rộ lên tố hộ, sầu thảm khắc khoải, nghe rõ như kêu ngay sau hè. Đêm đến, thỉnh thoảng lại nghe bầy ngỗng la quàng quạc như bị ai chộ, rồi tiếng chim te te đột nhiên kêu giật giọng, lảnh lói ma quái. Sau trước tối om. Những ngọn đèn dầu nhỏ nhoi vàng vọt, tù mù. Chưa đến 9 giờ mọi người đã lục tục vào giường, đi ngủ!
Nhưng về sau Duy Ninh đã nghĩ khác. Thì ra, không phải chỉ có vậy. Ở đây không hẳn là ốc đảo, chẳng phải chỉ toàn ảm đạm với buồn vắng. Làng quê này còn có một mặt khác, cái mặt thứ hai, trong sáng, đậm đà, đáng yêu… Dân làng hiền hòa, chất phác. Họ ít nói, và nói chuyện có vẻ ngập ngừng, thiếu mạch lạc. Không thấy họ to tiếng, cãi vã nhau. Không có những vụ gian lận, trộm cắp. Không thấy cảnh thanh niên đàn đúm nhậu nhẹt rồi quậy phá, đánh đấm nhau ngoài đường. Trong việc làm ăn họ thường dùng hình thức vần công đổi công, giúp nhau qua lại, ít thuê mướn. Khi một nhà có đám tiệc, hiếu hỉ những người cùng xóm tự động đến góp mặt, góp tay, chẳng cần mời mọc… Duy Ninh thích con sông nhỏ lặng lờ, nước trong vắt; mê cái cầu tắm dưới bóng cây vú sữa trước nhà chú An. Trưa nào anh cũng cùng Thanh – con chú An – đùa giỡn thỏa thích trong dòng nước mát. Bà con ở đây biết anh là cháu ông An, ở Tân Phú về dưỡng bệnh, chỉ như vậy, họ chẳng hỏi gì thêm. Duy Ninh nói với họ anh là thợ điện, không nhắc tới chuyện đá bóng. Anh nghĩ, chắc dân làng không coi đá bóng là một nghề, chẳng tin người ta có thể sống bằng cái việc phập phều là đi “đánh banh”. Họ quen gọi “trái banh”, không gọi “quả bóng”… Nhờ chiếc máy ảnh Duy Ninh nhanh chóng làm quen, thu được cảm tình của cánh thanh niên và những người lớn tuổi… Không đợi ai đốc thúc, anh lao vào “tham gia” lao động tay chân, làm những việc xa lạ xưa nay anh chưa hề biết. Nhà ông An làm đường thì anh cầm rựa phát mía, rồi vác mía vào che, ôm bã ra phơi. Lúc thu hoạch khoai mì, anh cuốc, nhổ, vác cây, đánh cộ bò chở củ từ ruộng về nhà. Anh mặc áo vá, đội nón cời, làm hăng say, cật lực. Rất được việc. Đặc điểm của nông dân ở đây khi làm ăn là chậm rãi, chắc chắn, không thuyết lý. Làm bằng mắt và tay chân, không bằng miệng… Trong tháng Mậu Lâm bước vào vụ thu hoạch mía, nấu đường, xóm làng có cái mùi riêng, đặc biệt, một mùi thơm ngọt dịu, bao trùm khắp nơi, ngoài ruộng, trong nhà, trên tóc tai, giường chiếu. Từ đó người ta dễ tưởng mọi thứ đều thấm đẫm hương vị ngọt, tiếng chim ngọt, gió ngọt, giọng cười ngọt. Duy Ninh nghĩ, chắc mình sẽ không khi nào quên cảm giác này… Rất nhanh, bà con xóm giữa của Mậu Lâm yêu thích “anh chàng công tử trắng trẻo, vui tính”. Duy Ninh chụp hình thật nhiều, không chán. Cảnh các cô gái phát mía, ôm bã. Cảnh các chàng trai nấu đường, nhổ mì, đánh xe bò. Cảnh bọn trẻ đá banh, câu cá, bơi đùa trên sông. Chụp xong anh nhờ ông Mới đem ra chợ huyện rửa, rồi tặng cho mỗi người vài tấm. Ảnh màu, sáng rỡ, sinh động, đẹp hơn “ngoài đời”. Ai nấy thích mê. Xưa giờ, “từ thuở cha sinh mẹ đẻ” chưa thấy ai chơi đẹp như thế!
*
Ngay từ những ngày đầu, qua chiếc cầu nối là quả bóng da, Duy Ninh được băng thiếu nhi Mậu Lâm yêu thương. Thanh giới thiệu anh với đám bạn của nó. Sân bóng nằm sau trường học. Bằng phẳng, thênh thang. Có điều lạ, giới đứng tuổi và thanh niên làng này không yêu bóng đá, chỉ ham mê nuôi chim mồi và gà chọi, trong khi bọn trẻ suốt ngày chạy theo “trái banh” hệt như trẻ em ở thành phố… Trước tiên Duy Ninh chỉ các cậu bạn mới sửa lại sân bóng cho đúng quy cách. Sau đó anh gởi mua hai quả bóng da loại xịn, và một chiếc còi. Rồi chiều nào anh cũng ra sân, làm huấn luyện viên kiêm trọng tài, điều khiển các trận đấu! Khỏi phải nói, bọn trẻ sướng phát điên, chúng mê Ninh ngay tức khắc! Chưa khi nào chúng được sờ đến một trái banh tốt như vậy, gặp một người rành về trò chơi này như vậy. Nếu biết ông trọng tài cao lòng khòng này nguyên là tuyển thủ quốc gia, bốn năm trước đây còn là tiền vệ phải xuất sắc của đội tuyển tỉnh T.P chắc các cầu thủ trẻ Mậu Lâm hoảng hồn! Duy Ninh dạy các chú cách đá, cách đi bóng, tranh bóng; kỹ thuật tấn công, phòng thủ; phân tích vai trò nhiệm vụ của hậu vệ, tiền vệ, tiền đạo, thủ môn. Thế nào là việt vị, phạt trực tiếp gián tiếp, lỗi nặng, lỗi nhẹ… Dần dà, sau vài tháng, hai đội bóng – U14, và U10 – của Mậu Lâm đã đi vào nề nếp, chơi có nét, tiến bộ rõ rệt.
*
Đêm không trăng, tĩnh mịch, mát mẽ. Bà An, Duy Ninh và Son ngồi xắc khoai mì bên gốc mít trước sân. Công việc có hai khâu, lột vỏ và xắc củ khoai ra thành những lát mỏng. Đơn giản, dễ làm, nhưng nếu không quen thì không ngồi lâu được, mau mỏi lưng, buồn ngủ. Bà An kể chuyện ma cho hai bạn trẻ nghe đỡ buồn. Bà có một kho chuyện loại này, tình tiết phong phú, như thật, ly kỳ, rùng rợn. Ông An ngủ trên thềm, ngáy to, lúc trầm lúc bổng, nghe buồn cười.
“Ông ấy vô tư, đói không lo no chẳng biết, đặt lưng xuống là ngáy! – Bà An nói”.
“Làng này làm sao đói được, mía mì là gạo, cá có sẵn dưới sông, lo gì… Sống ở Mậu Lâm sạch đẹp thanh thản tuổi thọ con người dễ cao, thím à” Duy Ninh cười.
“Con dám lấy vợ, ở luôn đây không?”.
Son trả lời thay:
“Dân phố phường ăn nói đẩy đưa khéo lắm… dì Tám chớ tin…”.
“Đừng nghĩ lệch lạc. Thế còn nông dân tốt hay xấu?”.
“Cũng có kẻ không tốt, con người mà… Theo anh, đặc tính của bà con miền quê là gì?”.
“An phận, quen nhìn gần, không mơ ước cao, ít thích tranh đua… Có lẽ anh sẽ xin ở đây luôn, để trở nên người trong trắng!”.
“Anh lại chọc quê em!” Son nói lảng sang chuyện khác “Mai cháu đánh xe, lên chợ huyện, dì gởi gì không?”.
Bà An nghĩ ngợi một lúc.
“Mua giùm gì cái nón, một lưỡi cuốc, một ký hột rau muống”.
“Anh gởi gì? – Son hỏi Duy Ninh”.
“Mua giùm anh hai cuộn phim”.
Cây đèn hết dầu, ngọn thu nhỏ lại, chấp chới muốn tắt. Bà An bưng đèn vào nhà rót dầu. Duy Ninh chồm tới hôn lên má Son.
“Coi chừng, thằng Thanh!”. Son chỉ ra cổng.
“Thanh?”
“Nó họp đội banh ở nhà em”.
Duy Ninh hôn tới tấp lên cả hai má cô gái.
“Bợm, giỏi chưa!”. Son cười “Dì Tám ra kìa!”.
“Cơ hội tốt, cho anh tranh thủ!… Không sợ. Thím Tám thích em lắm. Em biết thím nói sao không”.
“Nói sao?”.
“Thím khen em giỏi, hiền, chín chắn… Thím muốn anh ở luôn đây, đừng về”.
“Thím thương thì nói vậy, làm sao anh ở Mậu Lâm này lâu được, buồn chết”.
“Hôm mới đến anh tưởng chắc chỉ ghé chơi vài bữa, vậy mà…”.
“Hết buồn?”.
“Hơn sáu tháng rồi, nhanh chi lạ… Giờ thấy vui, nhờ cảnh đẹp, nhờ tụi nhỏ, và em.”.
“Chúng mình quen nhau bao lâu rồi?”.
“Anh không nhớ”.
“Chắc bốn tháng”.
“Mới quen, nhưng anh yêu em thì đã khá lâu, hồi anh mới đến đây một tuần, ngay lần gặp đầu, trong buổi chiều em đánh xe chở dưa…”.
“Gớm, ông kẹ, mồm mép ghê chưa!… Sáu tháng… Nhưng thời gian cũng có giới hạn… Trong các tuồng hát có một câu ngắn mà rất đúng, rất buồn, anh biết không?”.
“Câu gì?”.
“Sinh ly tử biệt”.
“Ờ, buồn lắm!”.
“Mỗi khi nghĩ tới nó là em chảy nước mắt!”.
“Đừng ủy mị, mít ướt như thế… Nhìn qua cứ tưởng em cứng cỏi”.
“Coi vậy chớ em mềm yếu, hay mủi lòng… nghe kể chuyện sầu thảm là em ủ dột luôn mấy ngày! Xem hát thấy đào kép khóc em cũng khóc!”.
“Người ta bảo như thế là đa cảm”.
“Đa cảm tốt hay xấu?… Sinh ly cũng buồn như tử biệt! Em nghĩ tới ngày anh trở về tỉnh…”.
Yên lặng một lúc.
“Em chớ nghĩ xa… còn lâu… anh sẽ ở đây nhiều tháng nữa. Sau đó tất nhiên anh sẽ về Tân Phú. Nhưng có điều chắc, mai này dù làm gì, ở đâu anh cũng không bao giờ quên đất nước và con người Mậu Lâm đã giúp anh mạnh khỏe, trở lại vui sống, yêu đời”.
Mười ngày sau
Đúng vào đêm trăng đẹp, tại nhà ông Mới diễn ra một cuộc hội họp nhộn nhịp, tưng bừng. Đây là tiệc liên hoan, ăn mừng chiến thắng đội bóng U14 vừa giành được ban chiều. Với lần ra quân đầu tiên, trên sân làng Cao Phong láng giềng, đội Mậu Lâm đã lập thành tích bằng trận thắng thuyết phục 4 – 1… Út Hưng là đội trưởng, ông Mới là cổ động viên tích cực của Mậu Lâm. Trong buổi chiều, dù nắng gắt, chiếc xe ngựa ông Mới đã chạy như con thoi, đi về tám chuyến, đưa đón cầu thủ và cổ động viên Mậu Lâm. Giống hệt ngày hội. Bàn tán, bình luận xôn xao, mọi người háo hức, vui vẻ. Cánh thanh niên vốn mê chọi gà nay cũng đi xem gần đủ mặt. Bóng đá có không khí, sức hấp dẫn riêng, rất đặc trưng.
Ông Mới đãi khách đủ vị mặn, lạt: cháo vịt và chè đậu xanh. Người lớn ngồi bệt xuống sân. Cầu thủ và tốp trẻ trải chiếu ngồi dưới gốc mít. Huyên náo, rộn ràng không kém đám hát cúng đình. Chưa bao giờ người ta được hưởng một niềm vui rạo rực, ngây ngất như vậy. Đám thanh niên tranh nhau điểm lại diễn biến trận đấu, trầm trồ khen những đường chuyền chuẩn xác, mấy cú đánh gót thần sầu, mấy bàn thắng tuyệt đẹp của quân ta; những tình huống gay cấn, các nhược điểm sơ hở chết người của đối phương; tài chỉ đạo, cách điều quân khéo léo của “ông bầu” Duy Ninh. Ai cũng nói, rõ ràng đội Mậu Lâm trên chân Cao Phong, lấn lướt ở mọi tuyến. Ai cũng nghĩ, với những gì đã phô diễn trên sân chiều nay, nếu được tiếp tục nuôi dưỡng luyện tập tốt, đội bóng thiếu niên Mậu Lâm sẽ còn lớn mạnh, tiến xa.
Lúc cuộc vui sắp tàn Son kéo Duy Ninh ra sau bếp, hỏi nhỏ:
“Nghe nói hồi sáng anh nhận được thư nhà?”.
“Ba bảo anh về, có chuyện gì đó cần bàn”.
“Chừng nào anh đi?”.
“Mai”.
Son nín lặng. Duy Ninh cầm tay cô gái, bóp nhẹ.
“Gấp vậy?”.
“Mốt đi cũng được… Về coi chuyện gì, vài hôm anh lại xuống… cho anh hôn…”.
“Đừng, người ta thấy. Vui sướng gì mà hôn hít!”.
Duy Ninh cười.
“Em như cô bé dỗi hờn… Sao không vui, lâu rồi anh chưa được hưởng một ngày vui nào như hôm nay”.
“Anh về…”.
“Ờ, thì về, ít bữa thôi”.
Có tiếng gọi “Anh Ninh ơi, anh Ninh”, rồi nhiều tiếng “ông bầu ơi!”.
“Em đi với anh, lên Tân Phú thăm chơi vài hôm, nghe?”.
“Đâu được, kỳ lắm!”. Son cười.
“Anh xin phép chú thím cho Hưng đi với em, lên nhà anh chơi cho biết”.
“Không được đâu” Son lắc đầu quầy quậy “Em vụng về, quê kệch, đen đúa, thiên hạ cười”.
“Đừng nói vậy, em đẹp, chẳng thua kém ai”.
“Mới nghĩ đến thôi em đã sợ!… Rồi biết nên ăn mặc thế nào, nói năng đi đứng ra sao… Trước tới nay em lên tỉnh mới hai lần, mỗi lần hai ngày. Ở đâu quen đó!… Hơn nữa, đi như thế bà con sẽ coi là không đứng đắn”.
“Em nghĩ xưa lắm”.
Son ấp úng:
“Sợ thực!… Mà kỳ lạ, lâu nay em quên biến anh là dân Tân Phú!”.
Đây chính là điểm khiến Duy Ninh quý mến Son. Son yêu anh như anh yêu dòng sông Bương, đồng mía Mậu Lâm, không hơn thiệt tính toán. Son không cần biết đến cái nhãn nổi tiếng, giàu có của anh.
“Anh, để mốt hẵng đi, mai em còn nói mấy chuyện”.
Duy Ninh đùa:
“Chúng mình xa nhau vài hôm, chưa ly biệt đâu mà dặn dò”.
Son nói, có vẻ ngậm ngùi:
“Sinh ly”, vừa nhắc đến nó đã thấy hiện ra cảnh tượng tối tăm, như ngày không có mặt trời!
*
Xe đã đầy khách, ông Mới xách giỏ cỏ đem treo dưới gầm xe, chuẩn bị khởi hành. Trời chưa sáng. Như thường ngày, mỗi sáng xe ngựa ông Mới chạy hai chuyến lên chợ xã, cách làng năm cây số, đây là chuyến đầu. Các cô, các bà cười nói lớn tiếng. Gồng gánh, thúng mủng, trái cây, gà vịt. Son nấp bên gốc mít gần cổng nhìn ra bến xe ngựa. Một chuyến xe đi chợ, như mọi ngày, xưa cũ, quen thân. Nhưng nay có khác, có một khách đàn ông. Duy Ninh về tỉnh. Anh ngồi phía trước, bên cạnh ông Mới, gần cây đèn chai. Son nhìn ra. Duy Ninh ngồi yên, đầu không đội mũ, hai tay đặt trên gối. Bỗng nghe một bà hỏi:
“Chú Ninh về thăm nhà ít hôm hay về luôn?”.
Duy Ninh đáp, nghe không rõ.
“Ở lâu thành thân quen, nếu chú không xuống nữa thì buồn lắm”.
Một bà khác:
“Thằng Cảnh nhà tôi thích banh bóng, nó mê chú, chú mà về hẳn trên đó chắc nó khóc”.
Duy Ninh cười.
“Nhiều đứa khóc… trước lạ sau quen, chú đã thành dân làng”.
Gà gáy rộ. Ông Mới rút cây roi trên mui xe, đó là dấu hiệu lên đường. Duy Ninh đập muỗi. Tiếng một cô gái – con Hạnh – hỏi Duy Ninh:
“Cho em hỏi thiệt, khi về lại trên ấy, anh nhớ Mậu Lâm được bao lâu?”.
Duy Ninh nói gì đó, Hạnh cười giòn.
“Anh nói khéo lắm, cũng mong rằng anh không quên mau như gió qua thềm”.
Son nhìn ra. Xe chạy, chậm chạp, nặng nhọc, chìm khuất vào bóng đêm ./.