Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN TÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN TÁNH. Hiển thị tất cả bài đăng

30 thg 10, 2015

ĐỌC TRUYỆN ĐOÀN VIỆT HÙNG


      Đoàn Việt Hùng quê ở Phú Yên, học sư phạm Cần Thơ, ra dạy tại Gò Công (1971), và lập gia đình với một “nhạn trắng” Gò Công (1973). Giai đoạn dạy học cũng là thời anh viết mạnh. Truyện ngắn của anh xuất hiện thường xuyên (dưới bút danh Nguyễn Lệ Uyên) trên các tạp chí văn chương Sài Gòn lúc đó. Sau giải phóng, anh chuyển qua viết báo, viết biên khảo khá lâu... Năm năm gần đây, anh đã xuất bản 4 tác phẩm, gồm 2 tập biên khảo, 2 tập truyện ngắn. Mưa trên sông Đăkbla là cuốn mới nhất.
      Tập sách không dày, 10 truyện, in kiểu chữ đẹp, trình bày trang nhã, bìa đẹp. Chúng ta thử điểm qua vài truyện tiêu biểu.
      MỘT ÔNG GIÀ sống lâu năm trong Nam, lúc nào cũng nhớ về miền quê Phú Yên của mình, càng già càng nhớ cồn cào. “Ông có một nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ quê, nhất là khi ngọn gió chướng thổi, lúc hiu hiu, lúc mãnh liệt như bàn tay vô hình bóp thắt tim ông từng cơn.” Gặp người bạn cũ, ông ngủ với bạn một đêm, hàn huyên, ôn chuyện xưa, để đỡ nhớ. Gặp đứa bé cùng quê vào bán vé số, ông mừng, hỏi nó đủ thứ, và cho nó tiền. Ông say sưa nhắc đến những địa danh Đông Phước, Bầu Sấu, cầu Chùa, Phú Ân. Cái vùng quê xa xôi ấy có gì làm ông nhớ? “Mùa gió nam non hất tung những bông mướp vàng lay bay chấp chới, khi gió nam cồ cát cuộn bốc tận trời cao, cát bay mịt mờ suốt dãi sông trong vắt. Ngọn gió hung bạo thổi tốc mái tranh, lật chổng những ổ chim dồng dộc.” Đều là hình ảnh, hoài niệm về cố hương của dân quê... Nhớ về Phú Yên là nhớ cầu Đà Rằng, tháp Nhạn, núi Chóp Chài, và Tuy Hòa, cái thành phố nhỏ “đi 5 phút đã về chốn cũ.” Cũng là nhớ về con sông cần cù mang phù sa bồi đắp cho vựa lúa lớn, sông Ba.
          Mai đành xa sông Ba tóc dài
          Tuy Hòa tình yêu anh gởi lại.
                                      (Hoàng Nhuận Cầm)
      Những trang dày đặc tình cảm mật ngọt, những dòng gan ruột dành cho quê mẹ. (Nhớ).
      CHUYỆN VỀ người phụ nữ vướng phải cuộc hôn nhân như một cú lỡ lầm tai hại. Đời sống vợ chồng quá ngắn, 29 tháng. Người chồng mau chóng lộ rõ chân tướng, là kẻ bê tha, độc đoán. “Buổi tối, hắn trở về nhà với mùi rượu thịt, mùi đĩ thõa trộn lại thành một thứ mùi lộn mửa. Hắn đổ vật lên nệm cùng với những gì từ trong bụng hắn trào ra. Nàng chết đứng giữa căn phòng tanh tưởi.” Người phụ nữ thấy mình bị phỉnh phờ, lừa mị. Chị lún sâu trong sự đày ải, khổ đau. Bao lo sợ, thất vọng, dằn vặt kéo dài, triền miên. Cuộc kết hợp mới 29 tháng, mỏng manh. Sau cùng, không còn chịu đựng được, chị bỏ đi, tìm cách giải thoát, cởi trói cho thân phận mình. “Chị không biết mình sẽ đi đến đâu, trôi về xứ nào. Và cứ thế, chị bước trên con đường đất ngập đầy nước, bên tai nghe ù ù tiếng gió, tiếng mưa đổ, và cả tiếng lòng tan hoang của chị nữa.” Sau nhiều ngày đi, mệt nhoài, kiệt sức, chị lạc vào khu rừng ma quái, gặp những tượng đá hình người, chị sợ hãi, muốn quay về, nhưng đã muộn... Rồi chị cũng thành đá... Như vở bi kịch ngắn, giá băng, xám ngoét. Chị là Tô Thị kiểu mới, hoá đá nhưng không trông chồng! (Người đàn bà chết trôi).
      SAU TRẬN đau nặng, anh Hậu lui về ở ẩn trong một căn nhà cuối hẻm. Anh đọc sách báo, làm vườn, trồng rau, và nuôi chim... Anh không mua chim quý, nuôi toàn những loại xoàng, tầm tầm, cốt để có việc làm, giết thì giờ. Bạn bè thấy lạ, có người chê anh không có mắt thẩm mỹ, chẳng biết thưởng thức cái đẹp. Anh bỏ ngoài tai. Đây chỉ là thú chơi phụ. Anh có cách nghĩ của anh. “Vào rừng sâu, leo lên tận núi cao nằm gối đầu lên rễ cây mà lắng nghe chim hót. Giữa mênh mông đại ngàn của rừng, tiếng xào xạc của gió núi, âm thanh róc rách của suối sâu, tiếng chim hót nghe phiêu phiêu ngọt ngào. Những âm thanh ấy cứ lan tỏa khắp đất trời, thấm sâu vào tận những vi ti huyết quản, lan xuống đầu ngón tay, ngón chân, làm rung rinh những chân tóc.”
      Bầy chim anh Hậu nuôi cũng lạ. Chúng ở lâu với người, được cho ăn uống, đâm ra dạn dĩ, lười nhác, quen với thói hưởng thụ. Anh không đóng cửa lồng, chúng vẫn ở, không bỏ đi. Có điều, no nê quá, mập mạp quá, chúng không hót được. Không hót thì còn gì chim? “Anh Hậu chun môi huýt sáo, con chào mào cất giọng khàn khàn. Anh bập bập môi, chú cu cườm gật gù nhưng không ra tiếng. Khi anh vỗ tay bồm bộp, tất cả các chú chim của anh kêu khào khào trong cổ họng, nghe thảm thương.” Một cách tiêu khiển ít tốn kém, hơi kỳ quặc. Bạn anh nhận xét: đây là hai mảng của cuộc đời, hai mặt của con người. Nó như bức tranh cũ bợt bạt, lam nham, như một nghịch lý buồn thảm. (Bầy chim trước hiên nhà).
      BA CÔ gái trẻ lên dạy ở một ngôi trường miền núi, tình nguyện giam cầm tuổi thanh xuân nơi thâm sơn đìu hiu. Bốn năm sống xa ánh sáng văn minh, ăn uống kham khổ, thiếu thốn mọi bề; cuộc sống diễn ra giống những hoạt cảnh về một nhóm người ở trên hoang đảo, bị phủ trùm trong sương mù.
      “Mâm cơm chiều trở nên lạnh ngắt. Con mèo mướp ngồi chồm hổm liếc nhìn các bà chủ không hiểu cớ sự, kêu mấy tiếng meo meo rồi bỏ đi nơi khác. Thời gian cứ lếch thếch bay qua đầu ba cô giáo bằng những chuyện không đâu như vậy, nó như chiếc kềm nhéo nhẹ vào da thịt, không trầy xước nhưng cũng gợn nhói lên chút đau tê.”
      Truyện đề cập những chuyện có vẻ bình thường nhưng xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt, nên nó nổi lên đậm nét. Những chi tiết về sinh hoạt của các cô giáo viết nhẹ nhàng, không bi thảm hóa vấn đề, nhưng vẫn nói lên được nhiều điều. Các cô bị dồn vào chân tường. Họ không sợ khổ, không muốn rời trường, bỏ học trò. Họ sợ tuổi già, và sự vô tâm. Thấm đẫm những nỗi niềm. Một chút tàn nhẫn, khá nhiều xót xa. Người ta thương các em học trò chân đất, thương cha mẹ chúng... Ba cô giáo về xuôi. “Trước mắt họ là dãy núi xanh đậm nhô lên phía sau những ruộng bắp, những cánh đồng mía ngút ngàn kéo theo con sông nhỏ lượn quanh. Nhánh sông nhìn thấy từ bến nước sẽ hòa vào dòng sông lớn, dòng Krông Pa trôi xuôi ra biển, mang theo mùi hương núi rừng, mang theo giấc mơ khắc khoải.” Đoạn kết khiến người đọc xúc động. Không ai muốn sự việc diễn ra như vậy. Nó không có hậu, nhưng hợp lý, chẳng thể làm khác - Đời người cầm bút, nếu viết được ba truyện như thế này thì khỏe, khỏe quá. (Nơi không chỉ có khói núi).
      CÔ GÁI kể chuyện Tuy Hòa cho bạn trai (người Nam bộ) nghe. Cô kể dài, tỉ mỉ. Chuyện về những thắng cảnh, sông Ba, cầu Đà Rằng, làng hoa Ngọc Lãng. Chuyện về ăn uống, các đặc sản: bánh tráng, sứa, cá thài bai. “Anh ở đồng bằng thì làm gì biết con sứa? Nó là sinh vật sống ở biển. Mẹ mua loại sứa chân, mang về chần nước sôi, trộn với rau thơm, chuối chát xanh, đậu phộng rang, da heo xắc nhỏ, thêm chanh ớt, xúc vào chén ăn với bánh tráng nướng bóp nát. Nó ngon không thể chê vào đâu được.” Chuyện gió Tuy Hòa, thứ gió vừa dữ dội vừa lãng mạn. Chuyện mùa lụt, và những kỷ niệm tuổi thơ.
      Tình yêu quê hiển hiện qua lời kể, trên từng dòng chữ. Dường như cô gái yêu mọi thứ của Tuy Hòa. Đây là những trang thư, nhưng viết chăm chút như nhật ký, đầy ắp nhớ nhung, thương mến. Cô tự hào, tô hồng tí chút cho xứ sở mình. “Thành phố của em đẹp mê hồn, rực rỡ trong nắng sáng trong vắt. Bên này là chân núi dựng đứng, bên kia thì xoãi ra gần đụng quốc lộ... Con sông Chùa ngắn, nước ửng xanh màu ngọc bích, vắt ngang qua nửa ngực thành phố in hệt nét chì tô xanh quầng mắt, như tấm khăn của người thiếu nữ vắt qua vai thả rơi lưng lửng xuống ngực.”
      Người bạn trai muốn cùng về để biết quê bạn, nhưng cô gái thấy chưa phải lúc. Dù vậy, chắc thế nào sắp tới anh cũng được về. Nên cô gái chuẩn bị sẵn cho bạn mớ hành trang, cung cấp cho anh cuốn “cẩm nang” Phú Yên, phong phú những đặc điểm về địa lý, thời tiết, lịch sử, tập tục, thật chí tình, dễ thương, hồn nhiên.
      Truyện viết dưới hình thức những bức thư, nếu đem đọc trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, bằng giọng thủ thỉ, sẽ gây được nhiều xúc cảm. (Về Tuy Hòa).
      CÓ GÌ cần góp ý ở đây? Cũng có! Nhà giáo quen sống ngăn nắp, mực thước. Nhà văn gốc giáo viên thường mang đặc tính ấy vào trang viết. Có những chỗ, những tình huống nếu tác giả tăng thêm một ít “nhiệt lượng”, ít nét đột biến, thì có lẽ truyện sẽ mới hơn, đậm đà hơn.
      Đoàn Việt Hùng không lớn tuổi hơn tôi, nhưng tôi luôn coi anh là anh, vì Hùng điềm đạm, chín chắn; văn anh cũng thế, kiệm lời, cô đúc. Cầm cuốn truyện mới của anh trên tay, tôi mừng. Hơn 40 năm có mặt trên văn đàn (lúc dày, lúc thưa) là may mắn, hạnh phúc. Tôi mừng cho anh, cũng như đã mừng cho mình. Còn các việc khác, như sức lan tỏa của truyện tới đâu, tuổi thọ của sách thế nào, là chuyện về lâu về dài, chẳng có gì phải lo nghĩ ./.

                                                                                                           Văn Tánh
 


       Mấy năm nay các bạn Nha Trang tặng tôi nhiều sách, nhưng tôi không giới thiệu ai – Tôi đã viết về V. Hồng 2 bài, T.H. Ân 2 bài. Nay lại viết về anh – Đã gửi cho Nha Trang, nhưng tôi sợ các bạn ấy bực – chưa chắc đăng – Nếu họ chọn thì sẽ đăng vào tháng 7, tháng 8.


Đọc thơ BẠN THƠ


      Cách đây hai năm, một chiều hè, trong một quán ăn gần biển Nha Trang, lần đầu tôi gặp anh Đặng Cước. Được giới thiệu, anh là người chơi thơ, nhưng trông tướng mạo anh không giống thi sĩ. “Anh chàng này nom quen quen.” Mãi sau, nhớ ra, tôi thấy anh giống Lê Hồng Hảo, vận động viên bóng chuyền nổi tiếng. Anh là kiến trúc sư, dáng người anh như vận động viên thể thao, nhưng anh đang say mê làm thơ, thú vị ở chỗ đó!
      Sau 4 tiếng đồng hồ lai rai trong cái quán trên con đường có nhiều cây phượng ấy, hiểu biết nhau chút ít, tôi nhận ra: quả là anh gần gũi với thơ. Thật ra, chẳng có một tiêu chuẩn, một quy định nào chứng nhận một người hợp với nghề này hay nghề kia, nhưng Đặng Cước khác với những tay chính trị nói năng khéo léo, hoặc những vị doanh nhân lanh lợi “quá đáng”, năng nổ xông xáo “quá cỡ”, khiến người đối diện phải cảnh giác. Anh yêu thích, và hiểu thơ khá sâu.
      Ít lâu sau, tôi nhận được một tập thơ của anh. Tập sách in vi tính, dày dặn, bìa và phụ bản đẹp. Có khoảng trăm rưỡi bài thơ, đa số làm thể ngũ ngôn tứ tuyệt. Thơ ngắn, rất ngắn, cô đúc, như thơ Haiku của Nhật. Chỉ một bài dài 16 câu. Ba bài 8 câu. Hai bài 2 câu. Còn lại đều 4 câu… Nội dung phong phú. Anh viết về bằng hữu, về vợ con, về một cô hàng rong, một chàng trai trẻ nghiện ngập. Chúng ta bắt gặp trong đó những quán rượu, nhiều chùa, phật, thiền, (anh có nhiều bạn trong giới nhà chùa). Điểm nổi rõ, bao trùm, là nỗi buồn nhè nhẹ, buồn nhân thế, buồn về sự mong manh của kiếp người.
                   Sự buồn, lang thang đơn độc
                   Sự nhớ, nắng quái chiều hôm
                                                   (Tự nhiên)
                   Mây mờ giăng khắp lối
                   Gieo nỗi buồn thiên thu
                                                  (Chợt nghĩ)
      Các ý tưởng an nhiên, những suy ngẫm về cuộc sống, về sự hữu hạn của đời người, được nói đến khá dày, khá đạt.
                   Thuyền trăng trôi lơ lửng
                   Giữa khung trời mờ sương
                                                  (Đôi bạn)
      Thiên hạ ví: thi nhân đến với thơ như bướm tìm hoa, trăng đến với gió. Thơ là những hàng cây trong phố. Thử hình dung một thành phố thiếu cây, không có vườn hoa, công viên, nhìn đâu cũng gặp bê tông, xi măng… Có gì phân biệt giữa một nông dân làm thơ, và một viên chức làm thơ? Đâu là đặc điểm của một người chơi thơ và một nhà thơ “chuyên nghiệp”? Có thể trả lời “có”, hoặc là “không”, vì nó mù mờ, chẳng rõ ràng. Chỉ chắc chắn một điều: ngoài phần vật chất, con người còn có tinh thần. Nếu để vật chất bành trướng, lấn át, người ta sẽ thô thiển, lố bịch, hung bạo, tàn nhẫn, gần với con thú. Vậy nên, phim ảnh, nhạc họa, thơ ca, những thứ thoạt trông có vẻ phù phiếm, nhưng là tường rào giữ cho con người không rơi xuống hố tầm thường, dung tục.
      Anh Đặng Cước có nhiều, thật nhiều ý hay, lạ, nhưng đáng tiếc lắm lúc anh viết chưa đến chỗ tận cùng của vấn đề, nên có vẻ giống những bức phác họa. Và tôi nghĩ, phải chi tập thơ có thêm vài bài lục bát, chừng chục bài làm theo các thể thơ khác nữa thì tác phẩm sẽ mượt mà, đa dạng hơn.
                   Một cành mai nở muộn
                   Bơ vơ đứng giữa vườn
                   Một người ngồi lặng lẽ
                   Điểm lại đời mưa tuôn.
                                        (Xuân muộn)
      Đây là hình ảnh đẹp, và buồn. Người ngồi lặng lẽ, một cành mai, là thơ, là triết, nó đọng lại lâu trong lòng người đọc ./.

                                                                                                       Văn Tánh

* Đọc tập “Thơ Phù Vân, Đặng Cước


14 thg 10, 2011

TẢN VĂN


VỀ   GIÀ

       Sống sáu, bảy mươi năm trên đời sao anh không thấy bói toán, bùa chú là khối ung bướu mê tín khổng lồ?
       Sắp đến ngày xuống lỗ, anh vẫn còn khổ sở, hì hục làm thơ ca ngợi mấy thứ tình yêu nhạt phèo, hời hợt.
       Còn thật ít thời gian để sống, anh cứ nhẫn nại luồn cúi, xoay tròn quanh cái vòng lợi danh bạc tiền bọt bèo phù phiếm.
       Với đôi mắt cận thị của mình, tôi nhìn thấy rõ kẻ đốn mạt, dù hắn có mặc áo vàng ròng, hay tô vẽ hàng tấn phấn son lên mặt.
       Bằng khối óc chim sẻ bẩm sinh, tôi nghĩ ra cách thoát khỏi mối dây ràng buộc của những đam mê lớn nhỏ, dứt bỏ thói bon chen, để thân thể mình nhe nhõm.
       Với tâm hồn nhỏ hẹp khô khan, tôi sống bằng năng lực và trí óc của mình, không tin vào các thế lực siêu nhiên xa vời, mông muội; tôi sống nhẹ như mây, thảnh thơi như sóng.
       Hãy thăng hoa, sáng lóa, phiêu du cùng mây xa sóng biếc.


CÒN   TỐT
       Lâu lâu, vì một lý do bất khả kháng nào đó, ta cũng nịnh bợ, a dua, hèn hạ tí chút. Sau đó, ôn lại, ta giật mình, ngượng thầm – Rõ ràng ta biết xấu hổ.
       Vào thời buổi khó khăn trong quá khứ, cũng có lúc ta lừa anh này một li, gạt chị kia một tẹo. Rồi sau đó, nghĩ lại, ta thấy lo lắng, hối hận – Vậy là ta vẫn còn lương tâm.
       Thỉnh thoảng, do những yêu cầu bức bách nhất thời, ta uốn lưỡi tuyên bố này kia, đại ngôn, láo xược, ba hoa. Đêm nằm, nhớ lại, ta xốn xang bứt rứt, và nghĩ: sẽ nhất quyết từ bỏ tật xấu này – Ấy là ta biết phục thiện.
       Biết liêm sỉ, có lương tâm, mắt phân biệt được đen trắng, như thế đáng mừng hay không?


TÁC  PHẨM
       Con người tạo ra thần thánh, Phật Chúa để làm chỗ dựa, trấn an mình lúc nguy khốn; đặt ra tình yêu để nhìn ngắm, làm dáng, ca tụng; đặt ra hàng ngàn luật lệ, quy định để trói buộc, răn đe nhau.
       Năm tháng qua đi, thời gian phủ trùm lên những thứ đó màn sương dày hư ảo.
       Đến một ngày Con người quỳ mọp xuống khóc lóc, cầu xin những Chúa Phật, những tượng đất tượng gỗ hãy nâng đỡ, cứu vớt, che chở mình. Và vô số người rên rỉ, đau khổ, tự vẫn bởi tình duyên bẽ bàng trắc trở. Và người ta ngã gục, kêu than, chết vùi giập trong nhà tù, trên pháp trường phép tắc.
       Khôn ngoan, đáng thương, kỳ quái biết bao, Con người!
CHÚC   LÀNH
       Hắn chê bai ruộng đồng bẩn thỉu, làng quê đơn điệu tẻ nhạt xấu xí, và luôn miệng bình phẩm hàng xóm láng giềng thô kệch, ngu đần – Đừng mong chờ hắn yêu quê hương.
       Hắn quay mặt đi khi chú bác anh em đói khổ, quen thói hành hung vợ con như đánh kẻ thù – Không thể nào hắn yêu đồng bào.
       Hắn thờ ơ lúc chứng kiến cảnh người khác gặp hoạn nạn, dửng dưng trước sự mất mát chết chóc do thiên tai gây ra cho bà con xung quanh – Chắc khó trông cậy vào lòng nhân của hắn.
       Có lẽ hắn sẽ đổi tính, nghĩ lại, khi xe hắn lao đầu xuống vực; sẽ nao núng, hồi tâm lúc thần hỏa xộc vào thăm hắn tận giường.
       Thế nhưng, như những con người có lòng bao dung, nhân hậu, ta cầu mong cho hắn an lành.


CHÍNH   TRỊ
       Chính trị là gã Hitler tính tình đồng bóng, học vấn làng nhàng được dân Đức “giống nòi thượng đẳng” phục tùng, tôn kính, ngoác mồm tung hô: Quốc trưởng muôn năm!(1)
       Chính trị là Ngô Đình Diệm hôm trước còn được ca tụng chí sĩ, cứu tinh, được gọi bằng cụ bằng ngài; hôm sau đã chết gục trong lòng xe tăng, số phận như gắn chặt vào lời nguyền bất đắc kỳ tử.(2)
       Chính trị là đầu năm 1966 người dân nước Y còn chưa biết WK là ai, đến giữa năm ông ta đã thành Thủ tướng.(3)
       Làm chính trị và làm người, những điểm nào giống nhau? Có điểm nào đối nghịch nhau?
      

HOẠT   CẢNH
       Cô gái khóc sướt mướt, kể lể rằng vì cha đau mẹ yếu, vì đàn em sáu đứa nhỏ dại, vì tay trắng không có nghề nghiệp, nên phải liều nhắm mắt đưa chân làm gái bao, gái gọi, một kiểu mại dâm “bán chuyên nghiệp”.
       Anh tài xế khai như kể chuyện, đổ hết tội cho đám đàn em. Anh nói, đã hai mươi năm cầm tay lái, lúc nào anh cũng tỉnh táo, chấp hành tốt luật lệ giao thông, tôn trọng sinh mạng con người. Nhưng lần này do mấy gã em quỷ quái rủ rê, chèo kéo nên anh buông thả, mất cảnh giác, uống quá chén, gây ra tai nạn thảm khốc.
       Ông giám đốc cúi đầu hối lỗi. Ông cho biết, mình chỉ được học tới lớp ba, nhưng do cấp trên yêu thương chỉ định, nên phải đứng ra cáng  đáng một nhiệm vụ nặng nề, quá sức; bởi thế ông không nắm vững nghiệp vụ, hiểu biết lơ mơ chuyện giao dịch thương trường, để đám em út giựt dây, qua mặt; dẫn đến các sai phạm nghiêm trọng, khiến Nhà nước mất toi hàng chục tỷ đồng.
       Chị thủ quỹ thực thà thú nhận: chị biết thụt két là làm bậy, nhưng do chồng mắc bệnh hiểm nghèo cần đến mấy chục triệu đồng chạy chữa; do mẹ chị và mẹ chồng mất sức lao động, đã thành hai cái máy nhai; và chị còn có bầy con đông đảo, ăn tiêu học hành vô cùng tốn kém; trong lúc lương chị ba cọc ba đồng, trang trải chẳng thấm vào đâu. Chị biết mình sắp bước vào ngõ hẻm tối tăm, nhưng cũng bước đại, tới đâu hay đó.
       Có những hoàn cảnh bi đát thật, nhưng cũng có nhiều trường hợp giả mạo. Có người sảy chân, thất cơ lỡ vận, nhưng cũng có lắm kẻ cố ý làn càn, rắp tâm mưu đồ đen tối. Tất cả tạo ra một mớ bòng bong, một sân khấu hỗn tạp nhốn nháo… Chứng kiến những vụ đó, người bình thường chán nản: “sao lắm người tồi tệ, xâu xa đến thế!” Nhưng nhà hiền triết thản nhiên, cười khì: “nếu không có vậy thì chẳng phải thế giới con người; những hoạt cảnh ấy sinh động, thú vị, và hài hước!”.


CÁM  ƠN
       Gã không muốn sống ở Afghanistan vì sợ mỗi ngày phải quỳ cầu nguyện 5 lần, và có thể bị chặt tay khi mắc tội trộm cắp.
       Gã không thích lối sống chụp giựt, hối hả kiểu công nghiệp của Mỹ, như vừa lái xe vừa ăn điểm tâm khi tới sở làm, như vừa bước vội trên hè phố vừa đọc báo.
       Gã cũng chẳng mong ước làm công dân của Đức, Canada, Pháp, Anh… bởi gã chưa chuẩn bị tinh thần để hòa nhập theo nếp sống Âu Mỹ; và do gã thuộc loại người “hướng nội”, thường chìm đắm suy tư, ưa chuộng văn chương thơ phú, không có chút năng khiếu khoa học, kỹ thuật.
       Gã yên tâm khi thấy không ai có thể đẩy bật mình ra khỏi quê nhà Việt Nam, nơi gã thường ung dung thưởng thức ly cà phê trong hai tiếng đồng hồ, hoặc nhởn nhơ tham dự các cuộc đá gà đánh cờ tướng giải trí kéo rê từ sáng đến tối.
       Gã nghĩ: “chính Thượng đế ban cho ta dòng máu, màu da và gia đình. Cảm tạ Người ngàn lần, ta vô cùng may mắn.” Gã cảm thấy hạnh phúc tột đỉnh, sung sướng đến phát điên.


QUÊ   HƯƠNG
       Khánh Hòa, quê tôi đấy.
       Nhưng nó cũng là quê của những tên đê tiện, du đãng, ma cô, giết người, trộm cướp, lừa đảo, hiếp dâm, tham ô, đàng điếm, gian trá, đần độn, điên khùng…
       Tôi yêu nó lắm!


LẮM   MỒM
       Hắn nói: “Đời đẹp rực rỡ, sơn thủy hữu tình thế kia, tiếc ta không có mười mắt để nhìn – của ngon vật lạ, sơn hào hải vị đầy ắp thế kia, tiếc ta không có mười miệng để ăn – cuộc sống tươi đẹp, trong sáng, ngát hương, sao ngày chẳng dài ra 48 tiếng để ta thỏa sức hưởng thụ. Ôi, lão Trời thiển cận, nghểnh ngảng, lười nhác quá thể”!
       Cha hắn phàn nàn: “Mấy mươi năm qua lận đận, công việc làm ăn cứ liên tục vấp váp, trầy trật, xui rủi – phước lộc quay lưng với ta – 60 năm cắm đầu cày cuốc, chui rúc ở xó làng – từ ấu thơ đến bạc đầu làm chẳng ngơi tay – Phật Chúa bất công, thần thánh đui mù. Thử hỏi sống thọ làm quái gì!”.
       Thiên hạ nói: trăm người trăm tánh, trăm bụng. Cha con hắn hai người hai bụng. Có lẽ nên xin Thượng đế ban cho gia đình hắn hai ông Trời xuề xòa dễ chịu!


NHÌN  ĐỜI
       Anh thanh niên nói: tỉ phú là người thông minh, cần cù, khôn ngoan. Người lớn tuổi nói: tỉ phú là người lanh lợi, chịu khó, sáng trí và may mắn.
       Thấy các cô gái làng ngồi chễm chệ trong quán tranh se lông mặt, sửa móng chân, ông già phê phán: “Chiều lội xuống ruộng mà bây giờ trang điểm… bầm giập, ngớ ngẩn hết sức!” Anh thanh niên bênh vực: “Chúng nó trẻ trung, lãng mạn, yêu đời. Chúng đem làn gió mát đến cho xóm làng. Lẽ ra ở đây nên có ba quán như thế, bố già ơi!”
       Tình cờ gặp Tina Ut Le từ Canada mới về, ông già trố mắt nhìn. Mới ngày nào con bé Lê Thị Út quần áo xốc xếch, mặt mũi buồn xo, dáng đi tất bật vất vả… nay trông nó sạch bong, trắng phau, chẳng còn sót lại chút nét quê nào. Cái gì làm nó đổi thay đến thế? Ông tự hỏi, và trả lời: chắc đồng tiền. Anh thanh niên nói: “Ngộ quá. Cô ta đổi mới hoàn toàn hay chỉ thay cái vỏ?… Úm ba la, Thị Út biến thành Tina!”.
       Hai người loay hoay đánh giá đồng tiền. Anh thanh niên nêu một định nghĩa: “Tiền bạc là thứ đồ vật kỳ quặc, khó hiểu. Nó không tuổi tác, co giãn được, biết phù phép, dễ bốc hơi.” Ông già gật gù, nói như mớ ngủ: “Có lẽ thế, chắc thế.” ./.


(1) Hitler bị đuổi ra khỏi trường năm 15 tuổi vì học kém.
   (“Mao, tấn thảm kịch của Đảng CS Trung Quốc” NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội 1985 – Tập 5, tr.257
(2)  Ngô Đình Diệm, Cẩn, Khôi và con trai (không rõ tên), Nhu và con trai (Ngô Đình Trác) đều chết bất đắc kỳ tử.
(3)  “Putin, ông là ai?” Tuổi trẻ Chủ nhật ngày 2-4-2000 (trang 10) – Nước Y: Nga – WK: Putin – 1966 : 1999