3 thg 9, 2011

BẠN QUÊ


       Khương bước xuống bến xe thị xã Đại Bình trong tâm trạng một du khách. Trước kia anh đã từng qua lại đây nhiều lần nhưng chỉ ngồi trên xe, nhìn thoáng qua, chưa ở lại một ngày nào.
       Khương định bụng sẽ thả bộ, ngắm nhìn phố xá chừng nửa giờ cho giãn gân cốt, rồi vào quán cơm ăn trưa, trước khi đến khách sạn. Nhưng anh mới đi vài phút đã gặp bạn. Một người đàn ông đi vespa, chạy chậm, tới đỗ sát bên anh, kêu toáng lên: “Ôi, Lâm Khương, ông bạn vàng!”
       Khương nhận ra Bảng, người bạn thân thuở nhỏ, lúc anh còn ở Đà Nẵng.
       “Mày làm gì ở đây?”
       Khương kể vắn tắt: mẹ anh bị một chứng bệnh giống như thần kinh tọa, chữa nhiều năm chưa khỏi. Nghe nói Đại Bình có thầy Bảy Nồng giỏi nên đến thỉnh ít thuốc. Khương không mặn mà với cái món am miếu nhưng vẫn đi, để mẹ anh vui lòng. Bảng cho biết, thầy Bảy mới nổi lên chừng nửa năm nay. Giỏi đến đâu không rõ, nhưng người tứ xứ đổ về ùn ùn. Khách đông, nên tới sớm, xếp hàng, lấy phiếu thứ tự. Anh nhấn mạnh một điểm: đến cầu xin tại am này hầu hết là dân thập phương, người “bản địa” rất ít. Bảng bảo, yên chí, sáng mai anh sẽ chở Khương đến đó.
       Ngắm Khương, Bảng nhận xét:
       “Mày trẻ, chẳng khác xưa mấy tí… Coi tao đây, bệu, mập quá cỡ phải không?”
       Bảng diện đồ lớn, người đẫy đà, có vẻ già. “Ai cũng nói tao già! Thôi, lên đây” Bảng vỗ yên xe, “rồi tụi mình sẽ nói chuyện, nói suốt ngày nay.”
       Khương lên xe. “Có thể mình trẻ thật, vì mình không phải lo nghĩ, giành giật, bảo vệ cái gì to lớn; cũng chẳng sợ mất mát tài sản này, chỗ ngồi nọ!” Khương nghĩ. Chạy được một đoạn, Bảng nói:
       “Mày định tìm khách sạn chớ gì? Xóa ngay ý đó… Tới ở nhà tao… Mày hên, tha hương ngộ cố tri! Về đó, thuận lợi lắm, gần trung tâm thị xã này, rộng rãi mát mẻ này… Trời đất, mười bảy mười tám năm nay chúng mình mới gặp nhau!… Tao quyết định rồi, về nhà tao, đừng tơ tưởng đến mấy cái khách sạn nữa!”
       Xưa kia Bảng và Khương học cùng lớp liên tục chín, mười năm, thân nhau như hình với bóng.
       Xe chạy nhanh qua năm, sáu con phố. Bảng hỏi:
       “Mày thấy Đại Bình thế nào?”
       “Chắc mày muốn nghe những lời khen?… Đẹp, sáng sủa, nhưng chẳng có gì độc đáo… nó hao hao Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Phan Rang.”
       Nơi đến là một ngôi nhà ba tầng rộng lớn, một khách sạn.
       “Nhà tao đây!” – Bảng nói. Thấy Khương ngơ ngác, anh giải thích: “Cơ ngơi này của bên vợ tao cả đấy. Ông bà nhạc, cả nhà vợ đi Canada tuốt… tụi tao hưởng sái, làm chủ bốn năm nay.”
       Bảo Khương ngồi nghỉ trên một ghế dài trước hành lang, Bảng đi loanh quanh một lúc rồi trở lại.
       “Định giới thiệu bà xã tao với mày, nhưng bà ấy đi vắng. Có thể tóm tắt mấy điểm về tổ ấm của tao để mày nắm tình hình: bọn tao lấy nhau đã hơn mười năm, có hai con, một gái một trai. Bà xã tên Kim Ngọc, kém tụi mình bốn tuổi, trước là dân trường Tây.” Bảng tóm lấy cái túi xách của Khương: “Lên đây, mình chỉ phòng, tắm rửa nghỉ ngơi.”
       Đến trước một gian phòng ở tầng hai, Bảng nói:
       “Thế này nhé, có một điều mày lưu ý giùm, trước mặt Kim Ngọc chúng ta nên xưng hô “tôi, anh” hoặc “cậu, tớ”, đừng xài “mày, tao”. Lằng nhằng như vậy, vì Ngọc muốn tao đổi mới, thành một anh trí thức trưởng giả thành thị… Chỉ vậy thôi, còn lại là tự do, tự nhiên, như ở nhà mày vậy.”
*
       Bỗng dưng Khương được sướng ngang. Vợ chồng Bảng tiếp đãi anh như thượng khách. Anh được ở phòng đặc biệt, một căn phòng thênh thang, bàn ghế bóng lộn, giường tủ đẹp. Khương nghĩ: “Phòng này sáu người ngủ vẫn rộng. Nếu Hoa, Hải – các con anh – được ở đây một ngày chắc chúng sẽ trầm trồ cả năm!” Lâu nay gia đình anh sống chen chúc trong căn nhà bốn mươi hai mét vuông, chật hẹp, ngột ngạt.
       Bảng trao cho Khương một chìa khóa xe gắn máy và chìa khóa phòng sách. Anh bảo, muốn đi chơi đâu thì sẵn xe, muốn đọc sách lúc nào thì xin mời! Đây là đặc quyền của khách quí… Phòng sách nằm kế phòng Khương ở, rộng như thư viện huyện, sách xếp kín bốn bức tường, lên đến tận trần. Ông thân sinh Kim Ngọc là tay sưu tầm sách. Ông nguyên là giáo sư triết, dạy học hơn ba mươi năm. Bảng nói với giọng tự hào:
       “Phòng sách này làm tao khác với các vị nhà giàu khác.”
       Khương được phục vụ chu đáo. Các bữa điểm tâm và các cữ cà phê tối được người làm mang đến tận giường. Hai bữa cơm chính anh ăn với gia đình Bảng. Nhưng những bữa ăn này làm anh lúng túng, mất tự nhiên. Anh không quen với lối ăn uống cầu kỳ, rườm rà. Mấy chục năm qua anh sống ở nông thôn, giữa những người dân quê mùa. Bữa cơm nhà anh không có bàn ghế, không mời mọc, không rượu nhẹ nho tươi. Đây là kiểu ăn lấy no, mau lẹ, đơn giản. Chỗ nào ăn cũng được. Thường là mọi người ngồi bệt xuốngnền nhà, ăn mạnh bạo, cười nói ồn ào vui vẻ… Bữa ăn ở đây trịnh trọng, thịnh soạn, kéo dài cả tiếng, với nhiều nghi thức như trong các gia đình quyền quý ngày xưa. Ngay như ghế ngồi cũng đã quy định sẵn, ai có chỗ nấy, không tùy tiện. Ngồi vào bàn, hai con Bảng nói liến thoắng: “Mời má dùng cơm, mời ba dùng cơm, mời chú Khương dùng cơm.” Kim Ngọc nói, kèm theo nụ cười: “Mời anh Khương dùng cơm, mời mình dùng cơm.” Bảng cười: “Vâng, mời anh Khương, mời mình.” Bên cạnh đó còn mèo trên ghế, chó dưới bàn, khăn lót chén, giấy lau, ly tách, trái cây, rượu, hoa, đủ màu sắc, lắm kiểu dáng, la liệt, rối mắt! Khương ăn chậm rãi, khoác cho mình bộ mặt dửng dưng, làm như các món cao lương mỹ vị trước mặt là thứ anh vẫn dùng hàng ngày.
       “Ôi dào, ăn cơm ở đây, tao hãi!” Khương nói với Bảng. Bảng cười:
       “Quý phái, lòng thòng? Năm hôm là quen thôi! Thực bụng, tao cũng không thích, rõ ràng là nó kịch, phù phiếm, nhưng Ngọc bảo phải như thế, vì ở đây thường tiếp khách, toàn khách hạng sang. Mày chịu khó hòa nhập. Người xưa nói “nhập gia tùy tục”, nhớ không? Hai đứa tao cũng mới áp dụng kiểu sinh hoạt này bốn năm nay, từ khi về đây.”
       Các buổi tối, sau 10 giờ, Bảng thường đến phòng Khương chơi. Đôi bạn nằm chung giường, tán đủ thứ chuyện trên đời, và say sưa ôn lại những kỷ niệm thời xưa. Bảng hỏi về các bạn cũ, ai còn, ai mất; hỏi về những đổi thay của các thành phố mà hai người cùng biết; hỏi cặn kẽ về vợ con, về chuyện làm ăn của Khương. Anh băn khoăn khi biết những năm qua Khương vất vả, sống trong cảnh eo hẹp, thiếu thốn. “Thế mà mình có biết gì đâu… Tụi mình mất hút nhau, hầu như quên hẳn, không biết còn có nhau trong đời, bạc thật.” Hai anh hàn huyên đến một, hai giờ sáng mới dứt.
       “Vài hôm nữa tao sẽ đưa mày về tận nhà.” – Bảng nói – “Hơn ba trăm cây số chớ gì? Khỏe, như chơi, mình chạy tà tà năm tiếng là cán đích… Tao muốn ra mắt vợ con mày… Tao chẳng có bạn thân nào khác. Đúng vậy, số bạn quanh đây của tao chỉ là bạn làm ăn… Kiếm được thằng bạn thân không phải dễ.”
       Và Bảng thổ lộ, anh sống trong nhà này, vương giả, sung túc, nhưng không thoải mái:
       “Dường như có một bức màn xám, mờ đục, lúc nào cũng treo ngang mắt mình. Và có một vật gì đó, như cuộn chỉ rối khổng lồ cứ lởn vởn quanh chân… mình bị dòm ngó, thúc ép, ràng buộc… Ngay như việc nằm đây chơi với Khương cũng có vấn đề. Phải đóng kín cửa, sợ Ngọc nhìn thấy. Cô ấy sẽ buồn khi thấy chúng mình nằm như thế này. Cô ấy muốn, chuyện trò cũng phải ngồi ở bàn, ngay ngắn, nghiêm chỉnh, như trong lớp học vậy!”
       “Mệt nhỉ”
       “Ừ, mệt, một thứ mệt ngầm… Bực lắm, nhưng sau nghĩ lại, ta nên ngả theo chiều gió thôi, làm gì có cái tuyệt đối trong cuộc sống?”
       “Đúng vậy.”
       “Chưa hết đâu. Kim Ngọc còn quan tâm đến cương vị của mọi người. Với ai cô ấy cũng muốn biết rõ chức vụ, học vấn, nghề nghiệp, các khả năng nổi trội, vân… vân.”
       “Mệt nhỉ.”
       “Ừ, chán ngắt! Mình đoán, đến một ngày nào đó mình sẽ biến thành một ông Kim Ngọc!… Điều đáng nói là, trước đây tính cô ấy không phải như thế!”
       “Chắc do môi trường sống… phụ nữ thích nghi rất nhanh với…”
       “Nhưng, nói cho công bằng, Ngọc không phải người xấu. Cô ấy rộng rãi, hiếu khách… Ngọc cũng không độc đoán. Cô ấy nói: Em không mong muốn gì cho riêng em. Em muốn có được mọi điều ích lợi, tốt đẹp cho chúng ta, cho cả nhà.”
       “Khôn khéo lắm”
       “Cô ấy chỉ đề nghị mình nên làm điều này, việc kia, không hề buộc mình phải tuân theo những luật lệ, qui tắc nào cả.”
       “Trong đời đã có vô số luật lệ.”
       “Nhưng mình vẫn thấy nó cồm cộm thế nào ấy. Và nhiều lúc mình nghĩ: giá được quay trở lại sống như trước kia thì sướng quá!”
       Khương cười. “Mày nghĩ thế thật sao, điên!”
       “Có thể là dại, nhưng mình đã mong vậy, không chỉ một lần… Cái khách sạn này, Khương thấy đó, đẹp, đồ sộ, hàng tháng đem về cho mình cả đống tiền, nhưng… nhưng nó vốn là của cha mẹ Ngọc.”
       Một lát, Bảng tiếp: “Mình sẽ đi chơi với Khương một tuần, hoặc hai tuần, sau đó vù lên Đà Lạt mươi ngày nữa. Chắc chắn Ngọc sẽ không vừa ý, nhưng mặc xác cô ta!… Mình muốn đổi gió. Mình đã thấm mệt… “Anh nên làm như thế này, đừng làm theo cách đó… Có lẽ anh phải… Em nghĩ có lẽ anh cần…” Những điệp khúc ướp mật đó đã được tấu lên dồn dập, đầy ứ! Mình ngán, đau tai, nặng óc!… Nghiệm lại sẽ thấy, trên đường đời, lắm lúc ta khó biết được thế nào là đủ, là thiếu, cũng khó biết thế nào là sướng, là khổ!”
*
       Mua thuốc xong, Khương ở lại Đại Bình chơi một ngày, rồi xin về, nhưng Bảng không cho.
       “Mày ở lại chơi ba ngày nữa. Không có gì phải suy nghĩ, ngần ngại. Ba ngày. Mấy cái việc ruộng vườn có quái gì phải gấp!… Sau này biết đến bao giờ tụi mình mới có dịp tái ngộ.”
       Anh giấu biệt cái xách hành lý của Khương.
       “Nếu mày cứ khăng khăng đòi về thì đừng phân bua, đừng nói đến tình anh em, bạn bè chi nữa.”
       Dù lòng rất bồn chồn, phân vân, nhưng Khương cũng phải nán ở thêm. Bảng mừng rỡ, hí hửng như đứa trẻ được quà.
       Tối ngày thứ năm Bảng bê đến cho Khương một thùng giấy, vuông vức, bọc giấy màu, thắt nơ rất đẹp.
       “Đây là quà cho Lâm phu nhân và các tiểu thư, công tử! Kim Ngọc làm cả đấy. Đích thân cô ấy đi mua, về gói ghém, trang trí.”
       Bảng có vẻ vui thích: “Về chuyện mình đi chơi với Khương, Ngọc không phản đối, tức là thuận! “Tùy anh”, chẳng rõ lắm, nhưng có thể coi là thuận!… “Tùy anh”, cô ấy vốn ít nói!”.
       Quả thực, Kim Ngọc ít nói, chỉ một lần chị hỏi Khương về chuyện vợ con của anh. Chị có một nét gì hiện rõ trên mặt, khiến Khương ngờ ngợ. Mãi sau, lúc gần về, anh mới gọi được tên của nó, đó là sự tự tin no đủ thỏa mãn.
       Mấy ngày qua Khương cứ ngỡ Bảng nói cho vui, đâu ngờ anh muốn đi thật. Khương thấy khó nghĩ… Anh không muốn Bảng về thăm nhà anh. “Tốt khoe xấu che”. Anh không muốn Bảng thấy cảnh sống nghèo nàn, nhếch nhác của mình… Nghèo chẳng có gì xấu, người ta nói thế. Nhưng sau khi đã nghèo khá lâu Khương cho rằng nghèo cũng không phải tốt. Nó là hiện thân của sự nặng nề, tối ám, đáng bị vứt bỏ, đáng được che kín, giấu kỹ. Nhưng cản ngăn Bảng bằng cách nào? Nên nói với anh ấy những gì? Trí óc Khương rối tung, bí rị… Gần trọn một ngày anh nằm nghĩ về chuyện này. Nó khiến anh lo lắng thực sự. Người anh đờ đẫn, như sắp phải làm một công việc khó khổ. Khương rất sợ bị người ta thương hại. Nếu Bảng không giàu thì khỏe quá, chẳng có gì để nói… Sau cùng, Khương cũng tìm được cách giải quyết: anh sẽ ra về lặng lẽ, bỏ đi khỏi nơi đây, không cho Bảng biết. Chỉ gói thuốc là quan trọng, túi hành lý chẳng đáng kể. Về, như chạy trốn. Như kẻ có tội phải lánh mặt… Làm vậy có vẻ khó coi, không bình thường. Chắc Bảng sẽ giận. Chắc Kim Ngọc sẽ gọi anh là gã quái gỡ, một tay nhà quê sặc mùi bùn. Nhưng mặc chị ta, anh chẳng cần khen chê, khi cái sự chê khen đó không đem lại đồng xu nào! Khương muốn làm như thế. Chỉ còn cách đó… Không phải tất cả các vở kịch (kể cả kịch đời) đều kết thúc giống nhau. Có vở kết có hậu, có vở bi thảm, có vở kết hợp lý, nhưng nhiều vở thì chẳng khác gì chuyện thần thoại! ./.

2 thg 9, 2011

Công chức là ai?

Là công chức nghĩa là theo chiều sếp
Biết lựa lời và phải biết kính dâng
Có ô dù cứ mặc sức mánh mung
Vơ tài lộc không quên phần biếu sếp.

Là công chức nghĩa là “chuyên viên tám”
Tin vỉa hè ai thâu tóm hơn ta
Từ chuyện gần cho tới chuyện trời xa
Gì cũng biết thế mới là nhạy bén!

Là công chức nghĩa là chuyên ngồi quán
Việc công tư đều đàm phán tại đây
Vội gì đâu mà phải ký duyệt ngay
Nhanh hay chậm cứ phải là… biết ý!

Là công chức cứ nhẩn nha mà… phán
Đến cơ quan ngồi đủ tám giờ thôi
Dẫu ai cần ta cũng cứ thảnh thơi
Mọi chuyện cứ phớt đời ta mặc kệ!

                                (st TTC 429)

ÁNH SÁNG TRƯỚC MẶT

Vợ chồng ông Mùi từ một làng quê miền Trung vào Sài Gòn thăm con. Không phải du lịch, thăm suông, mục đích chuyến đi là làm quen vợ cho thằng con lớn.

Đến nơi, trời mờ sáng. Xuống tàu, không ai đón, hai người lúng túng. Chỗ lạ, người đông, loay hoay chẳng biết nên đi về hướng nào. Rồi, nhờ hỏi han, nhờ taxi, bốn mươi phút sau họ cũng đến nơi cần đến: nhà người em họ, trong một con hẻm đường Hoàng Diệu, Quận 4.

Sau khi ăn điểm tâm và dạo một vòng thăm chợ Xóm Chiếu, về nhà, anh chị bước vào cuộc trò chuyện căng thẳng, giống như cuộc họp đúc kết, rút tỉa kinh nghiệm canh tác của hợp tác xã. Nói thoải mái, vợ chồng anh Lập, chủ nhà, đã đi làm, mấy đứa trẻ đi học. “Chán, chẳng đứa nào ra đón”. “Ông biểu đừng đón rước mà”. “Tôi biểu, nhưng hai thằng vẫn đón mới phải”. Bà Mùi xuống giọng, nhỏ nhẹ: “Ta chớ nên khắt khe, tụi nó nhiều việc. Ông thấy đấy, ngoài đường kia, người ta đi hấp tấp... Thằng Khôi làm cách đây hơn sáu mươi cây số”. “Còn thằng Quyền?”. “Không thấy cũng biết, nó mệt, phờ người ra vì chạy xuôi ngược, lo tiền bạc, nhờ chỗ này mượn chỗ kia... nghĩ coi, lương nó hẻo”. Ông Mùi nói, với giọng bực tức: “Ai buộc nó? Chưa đổi được chiếc xe Tàu, lương lậu còn nằm sát đất đã tính cưới vợ”. “Vợ chồng duyên số. Cũng có thể nó coi đó là chuyện bình thường... Ai cấm người đi xe sáu triệu cưới vợ?”. “Chắc nó quên, mình vào đây là vì nó... Nó định làm đám cưới lớn, lấy gì làm?”. “Muốn tiếp cận giai cấp cao phải trải qua thủ tục rườm rà đó”. Một bà gánh một gánh hàng khá nặng, chạy chậm, rao to một câu nghe như hát, không rõ rao gì. “Nếu bạn gái ở Tuy Hòa vào, chúng nó có đón không?”. “Đừng khó, xét nét, ông ơi... Nhìn lại mình xem, trước kia ta đối đãi với cha mẹ thế nào?”. “Mua cho ta cái tủ, cái giường, gửi cho vài triệu bạc, chắc thằng Khôi nghĩ nó đã làm tròn bổn phận. Đồ... toàn một lũ heo!”. “Chớ nên nặng lời, tụi nó đang trên đường gia nhập vào giới trí thức. Trí thức là mềm mại, dịu dàng”. “Tôi làm ruộng... Tôi không thèm quan tâm tới mấy cái trí thức”. Bà Mùi không giận. “Giọng ông vẫn trẻ trung ngang bướng”. “Ngồi trên taxi tôi không nhìn phố phường, đèn đóm, chỉ nghĩ: nếu bạn gái từ Tuy Hòa vào, bọn nó có đón không”.
Trọn buổi sáng nhị vị nằm dài trên giường xem tivi, chẳng bỏ mục nào, ca nhạc, thể thao, hoạt hình, dạy hát... cốt để giết thì giờ. Hai thằng con gọi điện chào hỏi, nhưng chưa thấy đứa nào đến. Thằng Khôi làm cơ khí ở một hãng gì đó “nằm cách Biên Hòa hơn hai mươi cây số”. Thằng Quyền là nhân viên một công ty thực phẩm ở Bình Chánh. Nghe nói thế, nhưng ông Mùi không có một khái niệm rõ ràng nào về vị trí của các địa danh ấy... Mỏi cổ, mờ mắt, tắt tivi, hai người lại nói tiếp câu chuyện bỏ dở. “Lần đầu chúng ta đi Sài Gòn, một sự kiện có ý nghĩa!”. “Thôi mà, đừng bơm cho nó phình to ra! Lần đầu, đúng, nhưng không gán cho nó cái nhãn “sự kiện”... Mình nằm trong đám đông vô danh, dạng con nhái... Ta nên thương con. Tụi nó khổ đã lâu, đã thiệt thòi nhiều... Vào đây học, con nhà người ta xài mỗi tháng hơn triệu bạc, con mình chỉ tám trăm... Tôi nhớ mãi, hồi năm kia thằng Khôi đi Đà Lạt chơi với bạn, ta chẳng cho nó xu nào”. “Không có một đồng, lấy gì cho?”. “Khi nó tốt nghiệp, lẽ ra phải gửi tiền thêm vài tháng để nó ăn đi tìm việc, ta lại cúp ngay”. “Quen tật vu khống, không tiền sao gọi là cúp!”. Từ cổ ông Mùi phát ra những tiếng gừ gừ, đó là dấu hiệu cho biết ông đang nổi cáu. “Hơi buồn đấy, nhưng mình nên rộng lượng”. “Chúng nó sẽ phải trả giá”. “Ông định làm gì?”. “Dùng tiếng trả giá hơi nặng, tôi muốn nói bọn nó sẽ được “đáp lễ”, ví dụ như sau này cha mẹ vợ chúng nó qui tiên tôi sẽ không vào”. “Khéo lo xa, họ chẳng chú ý đến ta đâu”. “Vài trăm ngày, ba bốn năm nữa tôi vẫn sẽ còn nghĩ: nếu bạn gái chúng ở Tuy Hòa vào, chúng có ra đón không”.

*

Ông Mùi thuật lại buổi làm quen ở nhà ông sui mới. Anh Lập nghe, thích thú, háo hức... Ông Châm – cha vợ Quyền – chưa đến sáu mươi, tóc bạc, người thấp, hay cười, siêng nói. Người nói nhiều thường dễ tính? Chỉ có bà chị ruột ông Châm hỏi ông Mùi mấy câu, những người kia coi như ông không có mặt. Ông hiểu, mình chẳng có gì nổi trội để thiên hạ nhìn ngắm. Không buồn, ông còn mừng, nếu họ bu vào hỏi chuyện chắc ông cuống! Ngồi đây, giữa căn phòng lộng lẫy, nước da nâu của ông dường như sậm hơn, bộ veston (đồ mướn) ông mặc có vẻ chật chội. Ông ngồi dán trên ghế, nhìn quanh, nhìn quanh. Ông nhớ, đây là lần thứ tư trong đời ông diện đồ lớn, mệt!... Ông Châm nâng ly, hớp ngụm bia, nói hơi lớn: “Sống là đối phó, đối phó với hoàn cảnh, với tha nhân, với số phận”. Ông hỏi ông Mùi về phong cảnh làng quê miền Trung – do đâu mức sống của nông dân thấp – sống nhiều đời ở đó sao không nghĩ ra được cách tránh bão hiệu quả – đặc điểm của các tỉnh nằm gần nhau: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên là gì... Ngồi cùng bàn với ông Mùi, ngoài chủ nhà còn có bốn ông khác. Ai cũng trắng đẹp, mặt mũi đăm chiêu, chẳng nói gì. Họ để ông Châm độc diễn. Ông nhận định về giá vàng, giá đô la. Rồi qua, tình trạng tranh mua tranh bán của các đầu nậu nhà đất. Và, sự xô bồ, nhộn nhạo trong thời kỳ “tiến về phía hiện đại” của giới trẻ. Ông Mùi chăm chú nghe, đầy vẻ kính trọng. Ông ấy giỏi, biết nhiều quá! Giỏi là phải, ở giữa thành phố đầy ắp tiện nghi này, không biết gì mới đáng buồn. Có một câu ông Châm nói hai lần: “Trong hàng chục triệu người sao tôi không kết thân với ai, lại kết anh... đó là duyên số. Dù không biết ai sắp đặt, nhưng tôi yên tâm với sự sắp đặt này”. Có một câu ông ấy hỏi, ông Mùi không trả lời được: “Tại sao ta gọi thanh niên mười tám tuổi là người trưởng thành. Mười tám, không phải mười sáu, hai mươi? Người trên mười tám mà còn dại, ta gọi “vị thành niên” được không?” Ông Mùi ú ớ, ấp úng, cười trừ! Khi tiễn khách, ông ấy nói một câu ông Mùi không hiểu: “Có vui nào mà không buồn, có được nào không mất, có ràng buộc nào không có hậu ý”.

Anh Lập hỏi, bà Châm ra sao, đãi ăn có gì đặc biệt. Bà Châm? Ông Mùi ngồi yên, nghĩ một lúc. Bà ấy thường thường, như dân quê, không giống người quý phái. Bà cao hơn chồng, ít nói hơn chồng, hay hỏi “tại sao”, hay nói “thế à”. Khâu đãi đằng, bữa tiệc có sáu bàn, món ăn nhìn chung hơi giống những đám cưới ở ngoài quê, chỉ có bia ngoại là xịn. “Tôi không ngờ họ sang trọng đến thế”, ông Mùi nói như kết luận. “Anh không sợ?”. Anh Lập hỏi. “Lúc đầu cũng hơi khớp, mới đứng trước cửa đã hãi, nhưng rồi, mình trấn tĩnh được ngay. Chẳng quái gì phải sợ! Ta không nhìn vào két sắt nhà họ, không có ý nhờ cậy họ, thì ta có thể ung dung, phải không?”.

*

Tối, anh Lập đưa ông Mùi ra chợ Xóm Chiếu ăn bò vò viên. Bà Mùi và chị Thoa, vợ anh Lập, ở nhà to nhỏ chuyện trò, tâm sự. Nhà bên cạnh có người nói lớn tiếng, mẹ chửi con, bên này nghe rõ. Chị Thoa nói nhỏ: “Lúc túng thiếu hoặc giận chồng, bà ấy lôi con ra chửi”. “Nếu bà ta tụng suốt buổi chắc mình điên?”. “Rồi cũng quen, chị à. Ban đầu chán lắm”. “Quen?”, bà Mùi không tin. “Chớ sao, như quen khổ vậy”. Bà Mùi nói như đã nghĩ trước: “Tôi nghèo lâu, nhưng không quen. Mình biết mình khổ là không quen”.

Ngoài đường, con đường nhỏ, xe qua lại không ngớt. Bà Mùi thoáng nhớ vườn nhà mình, cái vườn xanh um xoài mít, rộng hơn năm sào. Khu phố này nhà cửa san sát, nhỏ hẹp. Đã non ba mươi năm, chị Thoa bỏ đồng ruộng lại sau lưng. Ở đây làm việc nhẹ, không gồng gánh, tránh được mưa nắng, nhưng nhịp sống hối hả, chụp giựt, cũng khiến người ta mệt. Mệt kiểu “công nghiệp”. Vậy là có nhiều lối khổ... Anh Lập khuân vác, và làm những việc không tên khác ở các kho hàng, các chành lúa gạo. Chị Thoa buôn bán lặt vặt bên chợ phường. Hai người đi tối ngày, không có chủ nhật, hiếm khi nghỉ. Không dễ ăn. Thế nhưng, Quyền, Khôi đều tính chuyện xin làm cư dân phường phố, tránh xa cày cuốc. Bằng cấp sẽ đỡ đầu sức trẻ. Ông Mùi ủng hộ ý thích của các con, ông nói: “Từ khi có trời đất, hai bên nội ngoại chúng ta đều bám làng xóm, nay hai đứa tiến về thành là hợp lẽ!”.

“Bà Châm nghiêm hơn chồng. Bà nói cười, đi đứng giống các diễn viên đóng vai mẹ trong những phim truyền hình”. “Tướng sang không”, chị Thoa hỏi. “Thường, trung bình. Nếu thả bà ấy vào làng tôi chắc sẽ được mọi người gọi bằng “chị”, chị thôi, không tới cấp “bà””. “Chị quan sát kỹ đấy... Nhiều người lẽ ra chỉ đáng vai “cô”, nhưng nhờ lắm tiền nên được thiên hạ nể, tôn cao thành “bà”... Bảo rằng không phân chia giai cấp, dẹp bỏ thành kiến, nhưng sâu kín bên trong vẫn còn nhiều mốc phân cách, xếp hạng con người: tôn giáo, sang hèn, sắc tộc, trình độ”. “Bao trùm lên trên là cái nhãn giàu nghèo... Bà Châm nói một câu đáng nhớ”. “Đáng nhớ, nhưng thú vị không?”. “Bà ấy bảo, sang năm sẽ ra nhà tôi chơi”. “Hấp dẫn đấy!”. Nghe chị sui nói vậy, bà Mùi giật mình. Bản mặt của mỗi gia đình là cái nhà, nhưng nhà bà hơi khiêm tốn, nhỏ và cũ, tầm thường và xấu. Nó nằm đó, đã ba mươi năm, trước mặt mọi người... Ngay từ lúc này phải nghĩ đến ngày “trọng đại” đó, ngày bà Châm về thăm. Mối lo này, suy cho cùng, xuất phát từ sự tự ti của người “giai cấp” thấp. Mong rằng bà ấy chỉ nói cho vui, nói xong quên ngay, không về. Chị Thoa đưa ra một nhận xét, để bà Mùi bớt lo: “Trọng tâm của vấn đề là đám cưới, các chuyện râu ria xung quanh đều phụ”.

Bà Mùi bị bất ngờ khi thấy chồng đón nhận tin này rất bình thản. Ông bảo, tất nhiên, họ sẽ ra. Thăm sui gia là việc của họ. “Bà lo ngại, sợ họ chê cười? Thằng Quyền từng nói nhiều lần: ta không cưới nhà cửa, xe cộ của họ... Nhà cửa lụp xụp? Họ chỉ ở chơi vài hôm, còn ta, ta gắn bó với nó đã mấy mươi năm. Nghèo, mỏng mảnh, đáng thương, chính do các điểm ấy mà ta khuyến khích con hướng về thành phố. Tương lai nằm ở đó... Thôn quê hiền hòa, thân quen bao đời nhưng đã lạc hậu, ẩm mốc”. Ông nhớ lời ông Phát, bạn thân, động viên ông trước hôm lên đường: “Mình không nhìn vào tủ tiền của họ, không định nhờ cậy họ việc gì, thì chẳng sợ”.

Bà Mùi không nói nhiều về nàng dâu. Nhìn phớt qua, có thể chấm “nó” trên trung bình. Khá cao, trắng, nhẹ nhõm, thanh tú. Chỉ vậy. Mỗi người có mắt nhìn, cách đánh giá khác nhau. Thực lòng, bà Mùi chú ý đến cặp “đối tác” sui gia hơn là cô dâu.

*

Sau cuộc làm quen, họ ở chơi thêm bốn ngày. Sài Gòn là đây, người kìn kìn, xe cộ cuồn cuộn. Bước ra cửa thấy ngay xe và người... Tối đến, lên giường, bà Mùi lại nhớ vườn cây nhà mình. Mới mấy ngày sao thấy lâu như hàng tháng. Đã ngoài hai mươi năm, nay bà mới xa nhà lâu ngày. Bà nhớ bầy gà, hai con chó, tiếng chim kêu giấc xế chiều, và cả cái nhà nhỏ “đặc trưng” của sự khổ... Khôi đãi cha mẹ một đêm cải lương, Quyền đưa nhị vị đi chơi gần trọn một ngày ở khu giải trí ST. Vui, lạ, chủ yếu là vui... Có một biến đổi thấy rõ, là tính tình ông Mùi. Chỉ một tuần, từ người khó tính, cố chấp, ông trở nên trầm tĩnh, dịu dàng. Hình như có chất gì đó, như thuốc tẩy rửa, đã tác động mạnh vào nhận thức về đời của ông. Ông ít nói hẳn. Ông quên mất chuyện hai thằng con không ra ga đón mình. Ông thấy rõ, chúng nó không vô tâm. Chúng làm việc nhiều, tất bật, quay mòng, khổ. Rất khổ. Cái khổ “công nghiệp”, lớn, mới, khác xa khổ mưa gió cày bừa, nhưng cũng là khổ. Mình nên thương chúng nó. Rút kinh nghiệm, chớ vội phê phán những điều mà ta chưa thấy rõ, chưa nghiền ngẫm kỹ.

Ngày hai lão nông lên tàu về quê, trên sân ga, Quyền dúi vào tay mẹ một phong bì, trong đó là tiền “để bố mẹ ăn đi đường”. Tuyệt, chu đáo, ông Mùi xúc động! Đột nhiên, ông nhớ lời ông Châm: “... có được nào không mất, có ràng buộc nào không có hậu ý” ./.

ÂM THẦM

Kéo tấm mền đắp lên ngực ba, vặn ngọn đèn dầu cao thêm chút nữa rồi Đoan ra khỏi buồng. Chị Trầm ngồi nơi bàn, hai tay chống cằm, cúi gầm đầu như¬ đang chăm chú ngắm một cái gì. Đoan đẩy cửa ra trước thềm. Gió lay vườn chuối lào rào, lào rào. Trời đất đen hầm. Những khóm cây bên gò chùa to sầm, thu lu như những đống đất cao. Ban đêm ít khi Đoan dám ra ngoài. Ba nói thổ ngơi gò ấy hiển linh lắm. Trước kia có một ngôi chùa xây nơi đó, trụ trì là một ông sư¬ già. Ngày nọ ông sư¬ tìm được trong mảnh vườn nhỏ mấy chiếc hủ sành đựng đầy vàng. Ông đem về chôn kỹ sau liêu. Rồi hàng ngày thừa lúc vắng vẻ lại ra moi lên ngắm nghía. Ông ra vào thăm nom hoài nên có người thấy được sinh nghi. Họ theo dõi nhà sư và ít lâu sau lén tới khuân vàng đi mất. Nhà sư¬ tiếc của, ngơ ngẩn suốt mấy tháng rồi lâm bệnh mà chết. Ngôi chùa bỏ hoang, bây giờ dấu tích chỉ còn cái nền gạch cây cỏ phủ đầy. Người ta nói ban đêm thường trông thấy có nhiều điềm lạ hiện ra quanh vùng đó. Khi thì vài đốm lửa xanh đỏ chập chờn, nhảy múa lởn vởn. Khi thì một ánh đuốc sáng lòe xuất phát từ cái nền chùa cũ bay vút lên cao, kéo theo chiếc đuôi dài ngòng tím thẫm. Dân chúng cho là hồn thiêng của ông thầy chùa hiển hiện hoặc những hủ vàng vẫn còn sót dưới đất, và đêm tối hơi vàng bay lên “đi ăn”. Lắm người mò tới moi móc tìm kiếm, và lúc trở về tất cả đều bị bịnh một cách kỳ dị. Họ bị vàng “bắt”. Thế là sau ấy không ai dám mon men lại gần chốn u linh ấy nữa. Cây cối ngày một lên cao, cỏ dại mặc tình sinh sôi. Ba nói thỉnh thoảng ba cũng thấy được các hiện tượng lạ, thường là vào lúc nửa đêm thanh vắng trong những ngày đầu tháng, rằm lớn, giỗ kỵ. Đoan nghe và để tâm kinh sợ.
Lào rào, gió rít mạnh thêm. Đằng xóm giữa có tiếng chó sủa. Ban đầu một hai tiếng lẻ tẻ, rồi lan ra, xôn xao. Chắc là chó đánh hơi có người đi ngang. Lạ, nửa đêm thế này mà ai đi đâu. Đoan quay vội vào nhà, hình như có một luồng gió nhẹ bay vờn sau gáy, cọ sát vào da lạnh buốt, Đoan rùng mình.

Chị Trầm tới giường ngồi, ngọn đèn trên bàn được chị vặn to từ lúc nào. Ba rên mỗi lúc một lớn hơn, kéo dài ồ ồ. Chị Trầm bảo nhỏ:

- Mày vô xem ba thế nào ?

Đoan giương mắt nhìn chị. Chị lớn sao chị không đi trước coi. Con gái thường hay nhát nhớm. Ngày má còn mạnh không đêm nào chị rời má. Thế mà hôm má sắp chết chị sợ hãi bỏ ra ngoài, không hề bước lại gần chỗ má nằm.

Cảnh vật vắng tanh, người ta có thể nghe tiếng tàu chuối xô nhau bên ngoài rõ mồn một. Cánh cửa thiếc sau chuồng heo bị giật đập lẻng kẻng. Phải chi lúc này có dượng Hanh thì yên tâm biết mấy.

- Đập thằng Chữ dậy chị Trầm.

- Biểu nó dậy làm gì ?

Đoan gắt:

- Cho vui.

Ba rên đều đều, chắc bây giờ ba mở miệng rộng ra mà tống hơi thở chứ không phải rên như thường nữa.

Đời ba thật khốn khổ. Từ nhỏ đến giờ ba chỉ hưởng được một thời gian thảnh thơi ngắn ngủi. Đó là quảng ngày ba đi lính, hồi xa xưa. Đoan nhớ những buổi chiều ba dẫn tốp lính mới ra bãi cỏ sau luyện tập đi, “ỏn đơ, ỏn đơ”. Ba mặc cái quần ka ki vàng ống dài tới trên đầu gối, áo vàng ngắn tay, đội chiếc mũ thon thon như cái thuyền nan. Ba ngậm còi thổi từng chặp, tốp lính bước đi rập rập coi lạ mắt. Ba làm xếp. Người ta kêu bằng thầy đội. Tuy lúc ấy còn nhỏ lắm nhưng Đoan vẫn nhớ được trong đồn huyện có nhiều ông Tây cao ngồng, đen thui và rất thương trẻ con. Ba nói chuyện với các ông Tây đó một cách ngon lành. Dân ở ngoài cũng nể ba, nên chi mỗi khi bắt tay ba họ thường cúi mọp mình xuống đầy vẻ cúm rúm kính cẩn. Sau này, những lúc nhớ thời gian hiển hách đó là thường giở xem lại những bức hình xưa, mân mê, nhìn ngắm hàng giờ. Những bức hình chụp ba ăn mặc bình phục oai nghi, áo gắn huy chương, lưng đeo súng lục, và tay cầm ba-tong. Ba gìn giữ nâng niu những tấm hình như người ta quý trọng vật gia bảo.

Còn những tháng năm về sau toàn là những ngày gian lao. Ba làm lụng tối tăm mặt mũi cũng không đem lại cho gia đình một cuộc sống no đủ. Trời đất gạt gẫm không cho ba sung sướng. Có lần ba đã liều lĩnh mò qua gò chùa tìm vàng. Gạt sang một bên những lời đồn đãi, ba mang cuốc xẻng đi đào xới trong nhiều đêm liền. Kết quả không có gì, ba lại bị đau. Đau nặng tưởng chết. Thiên hạ được dịp phao rùm lên là ba bị vàng bắt. Người bị vàng bắt thì nước da xanh mướt, tròng mắt vàng chái.

Thời xưa những người hiền thường gặp sự lành. Dù trước có khổ sở lận đận bao nhiêu chừng kết cục vẫn sum họp, giàu sang. Vân Tiên bị kẻ tiểu tâm hăm hại đui mù hoạn nạn, gian truân, nhưng sau vẫn đậu Trạng, làm vua. Xuân Nương có đau tủi nhọc nhằn, chết đi sống lại rồi cũng là Hoàng hậu, đoàn viên cùng Lâm Sanh. Ba đọc thơ và nói ba cũng hiền lành thôi, mà sao tới giờ vẫn còn khốn đốn.

Đoan vô buồng tới gần giường, ba nằm yên, chân tay thẳng đơ. Đầu ba hơi nghếch lên cao để chiếc cổ chuôn dài cho hơi thở dễ lưu thông. Ngoài này chị Trầm đập bép bép lên mông bé Chữ, chị kêu khe khẽ:

- Dậy Chữ, dậy.

Thằng nhỏ lăn qua phía khác ú ớ trong miệng.

- Dậy đi em, dậy em.

Và chị lại đập bép bép.

Hồi sẩm dượng Hạnh tới thăm, chị em Đoan năn nỉ dượng ở lại ngủ cho có bạn. Ba mê man đă mấy hôm nặng quá sợ khó qua, ba chị em chỉ biết chúm chụm lại mà lo sợ.

Nói thì nói nhưng Đoan biếi không thể cầm dượng Hạnh ở ngủ. Đêm nào như đêm ấy, chiều vừa chập xuống làng xóm đã im lìm. Trai trẻ đàn ông kéo lên xã ngủ từ sớm. Những người còn lại lo rút êm vô nhà, đóng cửa tắt đèn. Tiếng chó sủa ban đêm rót vào bầu không khí vẻ dọa dẫm, nặng nề. Dượng Hạnh vẹt mền sờ bụng ba. Cái bụng mấy hôm cương chang bang nay xẹp xóp, như dính sát tận xương sống, hai lớp xương sườn tranh nhau nhô ra ngoài trơ trẽn. Dượng đặt lên trán, lên cái mũi tím ngắt đón hơi thở. Quay ra dượng thở hắt buồng rầu :

- Yếu quá.

Mấy đứa cháu nhìn nhau lo ngại. Dượng Hạnh ngồi rán lại một đỗi lâu, uống nước, nhấp nhổm ngó ra cửa. Quả đất lăn lẹ. Vườn chuối đã nhuốm màu thâm thẫm. Chợt dưới cuối xóm một con chó sủa lên rông rổng, rồi chỉ trong khoảnh khắc đă có thêm nhiều con khác phụ họa rầm rộ. Dượng Hạnh bật dậy, nhảy tới hiên lấy xe, dượng dặn với mấy câu rồi lật đật ra ngỏ. Tiếng chó sủa từng hồi, từng hồi gấp rút tống mạnh dượng Hạnh chạy khỏi làng. Trong nhà không khí lạnh lẽo trùm lên những người còn lại. Tiếng rên của người bệnh giờ một lớn thêm, như muốn lấn át tiếng gió bên ngoài.

Bé Chữ bị đập thức ngồi dậy ngơ ngáo, nó toác miệng ngáp và đưa tay dụi mắt. Chị Trầm nhìn nó, rồi chị cũng dụi mắt, và ngáp. Trông chị có vẻ bơ thờ mệt mỏi, chị từ từ vén mảng tóc rối ngà phủ trên má, nhưng chị vừa bỏ tay ra nó lại ngă xòa xuống, chị để yên không vén nữa.

Đoan lật quyển sách trên bàn, liếc những tấm hình. Mới về hơn một tuần mà thấy như đă lâu lắm. Ngày giờ sao bỗng nhiên chạy qua thật chậm. Bữa nhận được thư chị Trầm gửi về, Đoan linh cảm là lần này có cái gì khang khác với những lần về thăm nhà trước đây. Đoan thu xếp sách vở mang theo, trả hết tiền trọ, từ giã mọi người, ra xe, lưu luyến. Chị Trầm viết “ Ba đau nặng quá Đoan ”. Chỉ một câu đó cũng đủ báo cho Đoan biết là mình chắc không còn dịp trở lại nhà trường. Đoan mân mê tấm bảng danh dự kẹp giữa sách. Những dòng chữ bay bướm đậm nét. Tấm này chưa đưa ba xem. Sợ ba sẽ không còn thời giờ để xem nữa. Năm nay con chỉ kiếm được có hai lần danh dự, con cố gắng hết sức rồi đó. Mấy tháng gần đây tiền chị Trầm gởi lên thất thường, còn những lá thư kể lể sự túng thiếu thì dài và đều đặn. Nhiều bữa Đoan không ghé lại quán cơm học sinh mà lủi ra bến xe đò mua một ổ bánh về nhai đỡ bụng. Đến trường không còn thấy vui. Tối tối cái buồn ở đâu ập xuống. Và từ đó những trang vở bỗng toát ra sự lạt lẽo.

Ba nói :

- Mỗi năm mày mỗi kém đi, thích chơi rồi hả con ? Tao còn sức moi gạo ra cơm mà.

Đoan chối bay :

- Dạ không đâu ba. Tại trên tỉnh nhiều nhân tài chớ, dân tứ xứ tụ lại đông lắm. Dưới trường quận mình chỉ có một năm người xoàng xoàng để qua mặt, ở trển thì khó vượt hơn.

Ba không thắc mắc thêm. Chỉ có những tấm giấy khen mang về là làm cho ba vui. Mấy năm ở lớp dưới Đoan kiếm được khá nhiều giấy khen, về sau ít dần, ít dần đi. Ba mỗi năm một già xọm, gầy mòn. Cơm gạo chạy vào thúng ba thưa thớt, cũng như những tấm bảng danh dự ngày càng tránh xa tay Đoan. Đoan có lý do bào chữa cho sự kém cỏi của Đoan. Còn ba, không thấy ba nói tới việc xuống dốc của mình.

Chẳng khi nào ba xem xét bài vở của con, vì ba có biết gì đâu mà xem. Đoan thường kể những sinh hoạt ở trường, ba chịu khó nghe và đôi khi cũng tỏ vẻ thích thú. Học trò bây giờ nghịch lắm ba. Thầy giáo, cô giáo trẻ thường bị chúng quấy chọc. Vào một lớp xồ xào, học trò lúc ngúc nói chuyện, cô giáo bèn đập bàn bảo im, cô nói : - “Các em im lặng, học đi rồi cuối giờ cô cho chơi ”. – Im lặng ngay. Và đến cuối giờ “các em” nhao nhao : “Gần hết giờ rồi, cô cho chơi đi cô. Cho chơi chút đi cô”. Tiếng cười cợt , tiếng tán thưởng ầm ĩ. Giờ vạn vật vài đứa tìm đủ cách để xuyên tạc các bức vẽ của thầy trên bảng, chúng tìm những ý nghĩa khôi hài gán cho những hình ảnh đó, để hiểu ngầm và cười với nhau. - “Thưa cô vì sao nhũ hoa đàn ông không nẩy nở như đàn bà?” Thưa cô thế này, thưa cô thế nọ, rồi lại xồ xào, rúc rich. Nghe qua ba lắc đầu. Hồi trước đâu có tình trạng đó. Học sanh sợ thầy như sợ cọp. Trên bàn thầy nạt một tiếng là dưới chiếu cả bọn nín khe và run. Chữ nghĩa được quý trọng, sách vở không dám lót đít mà ngồi. Ba nói :

- Thời đại bây giờ có nhiều cái bậy quá hỉ. Nhưng mà này, mày đừng bắt chước bọn nó nghe, trước học lễ sau mới học văn các cụ ta ngày xưa nói vậy đó.

Ba cố gắng chịu cực chắt mót cho con theo học để may ra sau này nó làm được một cái gì, lạ hơn, vẻ vang hơn là tưới mồ hôi xuống ruộng cát, tưới mồ hôi xuống rừng rẫy để kiếm cơm, như cha ông nó. Đời ba đen đủi, cho tới ngày gần chết rồi ba cũng chưa biết mặt mày ông cha bà mẹ ngang dọc thế nào, đừng nói chi đến chuyện học hành.

Gà gáy lẻ tẻ dưới xóm. Gió vẫn còn rít vun vút. Vườn chuối bị vần xơ xải, tàu lá te bầm rách mướp. Bé Chữ khom mình mân mê chơi với mấy ngón chân của nó. Chị Trâm ngồi gục đầu xuống gối. Hình như ba đã ngủ hoặc mê đi, không còn nghe tiếng rên. Có lẽ trời sắp sáng. Mùa đông đêm dài hơn ngày. Đoan thấy đôi mắt mình muốn cụp xuống, mấy đêm liền thức trắng làm con người rã rời.

Cót két, cót két, tiếng kêu dọc đường của những chiếc xe đạp già nua vang lên ngoài ngõ, rồi lớn dần, chạy vào tới sân. Dượng Hạnh ho đánh tiếng. Đoan mừng rỡ chạy ra mở cửa. Dượng Hạnh hỏi lớn :

- Ba có bớt chút nào không cháu ?

Gió mạnh đánh bạt tiếng nói. Đoan long ngóng không nghe rõ. Dượng Hạnh đi ngay vào buồng. Chợt nghe dượng kêu :

- Ủa…trời !

Đoan giật mình, dượng Hạnh quay lại :

- Tụi mày không canh chừng, ảnh bỏ đi tự lúc nào.

Đoan bước lên. Ba nằm đó, cặp mắt trợn trừng, cánh mũi đen kịn như bị ám khói. Dượng Hạnh vuốt mắt ba, xếp đặt tay chân ngay thẳng, xong dượng dẹp bỏ những chai thuốc trên đầu giường. Đoan sững sốt, chị Trầm thút thít ngoài cửa. Dượng Hạnh kéo mền phủ mặt ba, rồi dượng xuống nhà sau lấy một lưỡi dao cùn đem bỏ lên bụng người chết. Dượng làm nhẹ nhàng, lặng lẽ ./.

31 thg 8, 2011

Về việc Tư liệu - Hình ảnh bị mất

Kính thưa bà con!

Vừa qua, tôi bị tình trạng ăn cắp nội dung truyện và nội dung ảnh bên trong Blog và Allbum Ảnh. Chỉ còn đầu truyện ngắn và bìa trắng của allbum ảnh lưu trong google mà thôi. Rất buồn! Đây là một hành vi không lành mạnh. Xin cảnh báo để bà con đề phòng.

Kẻ phá hoại như vừa nêu trên chắc là không biết sự lao động cật lực của người khác mới có được thành quả như trên nên mới phá kiểu đó. Ta xem nếu thích cái gì thì copy chứ việc vì phải lấy hết của người ta ./.

ƯỚC MƠ NHỎ


Hôm đó, trên chuyến xe đò từ Cầu Đúc đến Thới Thuận – hơn 200 cây số – tình cờ Lộc ngồi cạnh chị Thủy. Ở cùng làng, hai nhà chỉ cách nhau vài trăm mét, nhưng xưa giờ Lộc chưa trò chuyện với Thủy lần nào. Thú vị, vui, nhờ chị mà quãng đường dài qua nhanh. Thủy thích nói, biết pha trò, có những nhận xét phân tích đánh giá về nhiều mặt của cuộc sống khá tinh tế. Được như thế, theo chị, nhờ sách báo. Chị đọc nhiều, “nhiều nhất xã”, thượng vàng hạ cám, mấy chục năm qua không nghỉ ngày nào… Đi đôi với nói là ăn. Mỗi lần xe dừng nghỉ, đội quân bán hàng rong ào tới, Thủy sẵn sàng mua ngay. Cốm, mè xửng, hột gà, bưởi, nho, trứng cút, thơm, măng cụt, chuối ép, táo, chôm chôm… không sót thứ nào. Chị nói: “Mình ăn cho vui, ủng hộ bà con nghèo… Lộc thấy đấy, họ bươn chãi kiếm sống cực nhọc lắm.” Chị đưa cho Lộc một túi trái cây đầy tú hụ, bảo: “Ăn đi, xơi hết cũng được!” Trong túi xách của Thủy có mấy cuốn sách, và xấp báo. Chị không giống dân quê. “Lộc đọc báo không?” Lộc lắc đầu: “Cầm tới sách, chỉ đọc vài dòng là tôi ngủ, mỏi mắt lắm.” Thủy có vẻ thất vọng: “Nhiều người như vậy, Lộc nằm trong đám đông… cả làng ta, hơn hai ngàn người, chỉ ba bốn người mua báo thôi.” – “Người ta thích nghe nhạc, xem phim, ăn uống.” – “Ăn nhậu, biết bao nhiêu quán… Thị trấn huyện mình nhỏ, nhưng mỗi tuần tiêu thụ bốn xe hơi bia… Uống thế cũng tốt, nhưng không cân đối, cái bụng được nuông chiều, cái đầu bị xử ép!” Lộc ăn măng cụt, nho. Thủy ăn không ngớt, hết món này tới món khác. “Người Nhật không phải Tây, dáng vóc họ chỉ nhỉnh hơn ta chút xíu, nhưng họ đá banh giỏi, viết văn hay, khoa học kỹ thuật siêu việt.” – “Chẳng so với Nhật được, chị ạ. Đài nói, họ giàu, dân họ học đại học rất nhiều… tất cả các thành tựu đều từ cái nền học vấn ấy mà ra.” – “Họ có những tờ báo in mỗi kỳ hơn chục triệu bản… Ta phải nhìn thấy chỗ yếu của ta mới mong…” Một ông ngồi hàng ghế trước quay lại, cằn nhằn: “Bà chị nói nhỏ giùm, Nhật với nhọt!… Ta đi xe đò. Các chuyện loại đó cứ để những kẻ đi máy bay lo!” Thủy xuýt xoa: “Xin lỗi anh, tôi sẽ nói khẽ.” Nhà Thủy giàu nhất nhì làng, chị tháo vát, biết làm nhiều nghề, kiếm tiền có vẻ dễ dàng. Chỉ có cuộc sống riêng tư của chị là xộc xệch, bất ổn. Cách đây ít lâu chị “quan hệ” lén lút với một ông hàng xóm, có vợ con, lớn hơn chị hai chục tuổi, tai tiếng không để đâu cho hết. Trong lãnh vực này, xem ra sách báo chẳng giúp chị được mấy!

Thủy đọc báo. Khoảng hơn mười phút sau, chị nói: “Có khi đọc hàng chục cuốn sách vẫn không ích lợi bằng biết câu này: hãy suy nghĩ kỹ những điều bạn nói, nhưng đừng nói hết những gì bạn nghĩ.” Lộc nhớ mang máng đã nghe câu này ở đâu đó: “Hình như tôi có đọc câu chị vừa nói.” - “Trên các cuốn lịch ấy mà, người ta in đi in lại!” Bác tài mở nhạc, một giọng ca buồn thảm cất lên, than khóc cho các mối tình dang dở. Không còn yên tĩnh. Thủy có cơ hội nói thoải mái: “Thực ra, chị đọc sách chủ yếu để giải trí, lắm khi đọc cả đống sách báo cũng chẳng thu hái được gì đáng kể… chậc, xưa kia khi chưa có chữ viết, thiên hạ làm gì cho hết thời gian rỗi?” – “Không rỗi đâu, họ bận rộn trong các việc tế lễ, hái trái, săn bắn, để duy trì sự sống.” Thủy khen: “Lộc giỏi đấy, chắc đúng như thế… Đâu phải người thượng cổ nào cũng u mê… Có nhiều ý tưởng, triết thuyết, đọc qua mình cứ nghĩ nó mới ra đời năm ngoái, không ngờ đã có từ thuở chúng ta còn ở trần đóng khố.” – “Cũng như các kim tự tháp vậy mà, đã mấy ngàn năm”, ông khách ngồi ghế trước góp chuyện, chắc để khỏi phải nghe nhạc. Lát sau, ông tiếp: “Bà chị biết hơi nhiều… Phụ nữ sành như vậy sẽ… gay! Tôi dám nói, bà chị không có chồng.” Thủy hoảng. Chị ngồi im đến nửa tiếng đồng hồ.

*

Mười sáu năm sau, vào một trưa nắng gắt, Lộc gặp lại Thủy trên một đoạn quốc lộ I vắng vẻ. Chiếc xe gắn máy của Thủy trở chứng, không chạy nữa. Chị đi quanh nó, sờ chỗ này, lắc chỗ kia. Thủy khác xưa nhiều, từ dáng người đến cách ăn mặc. Chị là Việt kiều ở Úc mới về nước.. Nắng trưa nung quãng đường nhựa sáng bóng lên, như được dội mỡ. Lộc tới giúp Thủy. Thủy nhìn anh, không nói gì. Mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt đỏ au của chị. “Thủy quên mình rồi chăng… lẽ nào quên?” Chị phát phì, to lớn hơn trước gấp rưỡi. Cũng do mập thế, nên trông chị xấu hẳn đi. Lộc không rành xe cộ, máy móc, nên sau một lúc lâu loay hoay, tình hình vẫn không được cải thiện. Chiếc xe đứng ì xác ra đấy, nắng càng lúc càng dữ hơn… Từ đây đến cầu Nước Mặn hai cây số, ở đó có tiệm sửa xe. Lộc đem chiếc xe đạp và cái cuốc của mình vào giấu trong đám rừng chồi, trở ra dắt chiếc xe gắn máy của Thủy: “Ta đi, vô cầu Nước Mặn, sửa xe.” Thủy gật, mặt buồn xo. Lên đàng. Thủy đi chậm, ì ạch, cái mũ trắng rộng vành kéo sụp xuống trán, chiếc túi lớn mang xễ trên vai. Chị thở phì phò, như đô vật Sumo xuống sức. Lộc nhớ chuyến xe năm nọ. Không hiểu giờ Thủy làm gì, có còn đọc sách nhiều như xưa? Chỉ thấy rõ một điều, nay Thủy ít nói. Hồi đó chị nói liền liền, không để miệng nghỉ. Lộc nhớ hai cái túi nhựa lớn đầy ắp trái cây chị mua, và chị bảo: “Lộc ăn hết đi… mình mua ủng hộ bà con nghèo.” Ở nơi Thủy sống hiện giờ có người nghèo không? Chị ấy làm mặt lạ, coi như chẳng biết Lộc. Quên sao được, đâu phải con nít. Nhưng mặc kệ chị ta, cái quan trọng lúc này là quãng đường khá dài, trời lại nắng đổ lửa… Lộc nhớ, trên chuyến xe đò năm ấy, ông khách khó tính ngồi ở băng ghế trước lúc đầu cự nự Thủy nói nhiều, về sau lại cùng chị “đấu” ra rả. Thủy bảo ông ta: “Đọc, chẳng thể nhớ hết. Vậy mình tìm cách để nhớ những gì mình thích. Tốt nhất là gom, đúc chúng lại, như nấu thùng nước mía thành những tán đường… Tôi thường nhớ những cái là lạ, vui vui, như: ngay ở nước Pháp văn minh cũng có khoảng 14 phần trăm hộ không có cuốn sách nào trong nhà – Chỉ vì một nhúm thằng điên cuồng, chó đẻ mà hơn 50 triệu người đã chết trong thế chiến 2 – Ba trăm triệu tín đồ của Bái Thần giáo sẽ kéo rốc lên thiên đường sáng lóa? Cứ để họ lên! Còn ta, ta sẽ xuống địa ngục nhộn nhịp, vui vẻ với 4,9 tỷ người còn lại.” Ông khách thích lắm, ông ta hỏi đi hỏi lại: “Bà chị chưa chồng, phải không nào?”.

*

Đi hơn nửa đường, Thủy kêu đau chân, hai người tấp vào dưới bóng mát lùm cây bên đường nghỉ. Thủy lấy trong túi xách ra một chai nước khoáng nhỏ, mời Lộc. Chị nói, Lộc khác trước, đen quá, mất đến chục phút chị mới nhớ ra. Gần một phần năm thế kỷ, khác cũng phải! “Chị còn nhớ là mừng rồi.” Thủy cho biết, mai chị sẽ bắt đầu chuyến đi chơi xa, trong nửa tháng, ra Hội An, Huế, Phong Nha, Hà Nội, thăm những nơi chị chưa biết. Thủy nhận xét, quê nhà có phát triển, mới, nhưng không nhiều. Mặt ngoài, nhà cửa đẹp, không còn nhà tranh, nhưng đường, chợ vẫn hẹp, nhỏ, đầy rác. Mặt trong, số người ngồi đánh cờ tướng, tán phào cả ngày trong các quán vẫn còn nhiều. “Họ không lười, nhưng chẳng có công việc cho họ làm”.

Thủy kể về cuộc đổi đời của chị. Chị qua Úc bằng con đường không chính đáng. Tại đó, chị lấy một người có hoàn cảnh tương tự như mình. Sống với nhau tròn bốn năm, có một con, anh ta bỏ chị, theo người tình mới. Nay chị sống với đứa con gái, làm nghề tự do. “Tiện nghi, vật chất tốt đấy, nhưng luôn bận rộn, ít khi có dịp nghỉ ngơi ba bốn ngày… Cái lận đận, xui rủi vẫn bám theo tôi. Lão chồng cũ ấy nói giỏi, làm giỏi, tướng đẹp. Do có nhiều ưu thế, nên lão ta hất mình. Đau, bên đó đa số đàn bà “đá” đàn ông!… Mà thôi, không dằn vặt nữa, mọi thứ qua đã lâu! Nhưng, nói chung, tôi không đạt được sự thảnh thơi, sướng thỏa theo như tôi tưởng hồi xưa.” Thủy cười. “Thời đó, tôi thích mấy câu nói về những người không có cần vẫn câu cá: bằng cấp là chiếc cần, tiền bạc là con cá. Nhiều người không có cần vẫn tóm được cá. Họ bắt bằng tay, lưới, hoặc rổ rá… Người ta có thể câu được cá, kiếm được tiền bằng nhiều cách. Du lịch Úc theo kiểu đi chui là chiếc cần mạo hiểm, nhưng lúc đó trẻ, thừa nhiệt huyết, nên tôi dám “câu”.

Thủy hỏi, nay Lộc sống thế nào, khá hơn xưa ít nhiều? Lộc kể ngắn, gọn. Thực ra, cũng chẳng có gì nhiều để nói, Thủy dư biết, chị hỏi vì xã giao thôi. “Ước mơ lớn nhất của anh là gì?” – “Thằng con học đến tú tài.” – “Còn anh và bà xã?” – “Tôi chưa nghĩ tới.” Thủy cười xòa: “Ít quá, anh khiêm tốn, không lẽ chỉ cần chừng ấy.” Lộc lấy làm lạ, tại sao Thủy không tin… Có phải những người không đi xa, không đọc nhiều, thì thấy gần và nghĩ thấp? “Bên đó có người nghèo không?” Thủy gật: “Có chớ, ở đâu cũng có… Tôi đã đi Anh, Ý, Pháp… nhưng họ nghèo khác mình.” – “Vậy là có hai kiểu nghèo?” Thủy nhíu mày: “Ồ, không phải hai, nhiều hơn nữa.” Trông mặt Thủy tươi tỉnh, vui hơn lúc nãy. “Tiếc, trên chuyến xe đò năm nọ chị nói nhiều câu hay, nhưng nay tôi quên mất cả… Tôi nghĩ, biết rộng cũng thú… nhưng có điều này, tôi muốn nói, sợ chị giận.” – “Ai giận sẽ chóng già, anh nói nghe!” – “Ở bên Tây thích đấy, nhưng khi ta về già, chết đi, thì buồn quá.” – “Anh muốn nói?” – “Nằm ở đó đâu phải đất mình… lại nữa, nghe như họ đốt xác?” Thủy cười: “Tưởng gì! Nhiều người cũng nghĩ về chuyện đó… mới đầu tôi cũng lo như anh, nhưng…” Ngẫm nghĩ khá lâu, Thủy tiếp: “Suy cho cùng, trên đời đâu có gì hoàn hảo, tuyệt đối, hễ được cái này sẽ mất cái kia… trong nhiều trường hợp, ta phải nhắm mắt sống theo mọi người, theo số đông… Vấn đề anh nói, nhiều người giải quyết gọn lắm: già, họ về chết ở quê.” – “Được quá!… không phải chỉ có một con đường trên đời.” Thủy lục tung chiếc túi xách, tìm thứ gì đó, không thấy. “Ở đây chẳng có tấm ảnh nào… tôi muốn cho anh xem mặt cháu, nó đẹp lắm!” Rồi chị nói, thủng thẳng: “Tôi không nói quậy như tôi là tốt. Có điều, anh làm tôi ngạc nhiên… Sống ở đâu cứ sống, làm nghề gì thì làm, tùy hoàn cảnh và khả năng của mình. Nhưng ta nên tập nghĩ rộng rộng, và ráng nhìn ra khỏi cái lùm tre đầu làng, để biết mơ mộng, và nâng cái ước muốn của mình lên cao chút nữa.” Thủy cũng có lý. Nếu phải kể ra, Lộc sẽ nói: muốn xây cái nhà mới to đẹp, mua một chiếc xe gắn máy đắt tiền, được “cỡi” máy bay, được đi thăm hết thắng cảnh khắp nước… Nói chi xa, nay tuổi đã khá dày, anh vẫn chưa biết Huế và các tỉnh từ đó trở ra. Lộc không muốn bộc lộ những điều ấy, sợ chị Sumo sang trọng này cười. Chẳng hiểu sao, từ xưa đến giờ, từ sâu thẳm trong lòng, anh luôn kính nể những kẻ giàu có ./.

Ninh Kiều đêm thứ bảy
















Cần Thơ gạo trắng nước trong / Ai đi đến đó đều không muốn về! 
(Câu hát hò địa phương)



Thân thương sông Hậu thương yêu
Thân thương em gái Ninh Kiều
Thương em thương dòng sông Hậu
Thương em chưa đủ, chưa nhiều !…
Ninh Kiều những đêm thứ bảy
Văn nghệ (*) tình khúc mê say
Bên sông trời sao lấp láy
Thoáng buồn ngọn gió heo may !
Công viên là nơi hò hẹn …
Hẹn hò cuống quít vu vơ !
Thật thà em không e thẹn
Trao nhau lời nói bâng quơ !
Ninh Kiều về đêm thứ bảy
Giọng ca tài tử hay thay !
Đường về đầy sao nhấp nháy
Thương em từng ngọn heo may.

Ninh Kiều thương nhớ từng ngày ! …
Tây Đô – Cần Thơ – 1961
---------------------------
(*) Những năm 1960, 1961, mỗi tối thứ bảy và chủ nhật tại Bến Ninh Kiều (Cần Thơ) thường có diễn văn nghệ; sân khấu giàn dựng ngay cạnh bờ kè sông của công viên Ninh Kiều.

Buồn mênh mông

Tặng cô Diệu Hương (Quận 5 - Chợ Lớn)

Một đêm. Rồi lại hai đêm
Một đêm nay nữa! Mấy đêm qua rồi?
Vì đâu ray rức bồi hồi
Vì đâu nàng lại đứng ngồi không yên!...
Vẳng nghe sóng vỗ triền miên
Thuyền ai xuôi, ngược dặm trường mênh mông...
Dã tràn xe cát Bể Đông
Nàng băn khoăn mãi phòng không đợi chờ
Nhện buồn vương vấn giăng tơ
Nàng buồn rượi rã thẫn thờ thâu đêm!
Vầng trăng chênh chếch qua rèm
Bên song nàng tựa, bên thềm sương rơi...

Xa xa vẳng giọng à ơi
Giọng ru trầm, bổng làm nao nao lòng!...

Lạ gì bỉ sắc tư phong!
(*)

Bình Thạnh, tháng 5-2003

-------------
(*) Câu thứ 5 của Truyên Kiều (Nguyễn Du)