6 thg 9, 2011

BIỂN CŨ


       Một ngày cuối hè, Hậu về xóm Thượng – một xóm chài nhỏ nằm bên hóc núi trọc, trong bán đảo Hòn Mê – thăm cậu Qua. Cậu là anh họ của mẹ Hậu… Hậu dự tính sẽ ở chơi hai ngày. Đến một nơi chó ngáp, gặp những người xa lạ, chẳng có lấy một điều lý thú nhỏ. Nhưng, sự việc diễn ra sau đó trái ngược hoàn toàn với những ý nghĩ ban đầu, Hậu có một cuộc nghỉ mát hào hứng, vui chưa từng gặp, lâu tới sáu ngày.
*
       Tối đến, ông Qua đãi Hậu món thịt dông. Dông nướng, chiên, uống với rượu trắng ngâm thuốc Bắc. Đây là đặc sản, ít nơi có. Con vật này sống trên mấy đồi cát, sau lưng xóm chài. Dáng nó giống thằn lằn, lớn hơn tắc kè. Thịt nó ngon, mùi thơm lạ. Ngon hơn gà, rùa, thỏ, dê. Hậu khen: đặc sắc, thượng hạng. Ông Qua thích chí bảo, nếu muốn, Hậu ở lại chơi mười ngày, ông sẽ đãi năm chầu thịt dông, ăn rồi năm mươi năm sau còn nhớ!
       “Buồn quá, ở lâu không được”.
       “Bà con xóm này sống cả đời thì sao?”.
       Xóm Thượng nằm trên một bãi cát rộng chừng sáu mẫu, địa thế trông giống một vịnh nhỏ. Nó mọc lên cách đây hơn hai mươi năm, theo kiểu tự phát. Cư dân là những người chài lưới bần hàn, từ nhiều nơi tụ lại. Hai mươi bốn gia đình. Xã Hải Triều mới cấp giấy khai sinh, kết nạp nó khoảng mười năm nay.
       “Mày học tới lớp mấy?” ông Qua hỏi Hậu.
       “Dạ, lớp mười”.
       “Sao nghỉ?”.
       “Học thua kém bạn bè, mắc cỡ”.
       “Ba mày không nói gì?”.
       “Ba con dễ chịu. Ổng nói: Mày không muốn làm thầy, thì làm thợ. Làm gì có tiền là tốt, miễn đừng đi ăn cướp! Với lại, gần đây các đài cũng thường nói: nước ta thừa thầy, thiếu thợ!”.
       “Uổng!” Ông Qua hớp ngụm rượu, trầm ngâm. “Uổng! Cậu muốn có đứa con làm thầy giáo, nhưng không được, đứa nào cũng chậm lụt… Con Luận, con May chỉ theo tới lớp năm, thằng Tạo thì học ba năm vẫn đọc sách chưa thông… Ở đây xa xôi, đi học nhiêu khê quá”.
       “Dạ, nghề dạy học nhàn, khỏe”.
       “Không đổ mồ hôi mà vẫn có tiền, ấy mới tài! Lương lậu thầy cô thế nào?”.
       “Dạ, trước kia èo uột, nhưng nay ngon lành rồi… có thể sống ung dung, nhưng cũng khó giàu, không bì được với nuôi cá, nuôi tôm”.
       “Sao lại so vậy? Gã đánh cá dù có bạc tỉ vẫn là anh cà cộ, tóc tai cháy nắng, người ngợm tanh khét”.
       Bà Qua đem ra mấy cái bánh tráng mè.
       “Ổng được bầu làm ông lớn, hách lắm đấy”. Bà nói.
       “Trưởng xóm, to nhỏ gì!” Ông Qua giải thích: “Lúc đầu mọi người nhất trí chọn ông Cảng, kính lão, nhiều tuổi nhất, nhưng ngặt, ông ấy không biết chữ”.
       Từ nhà bên cạnh, một chị, tiếng nghe còn trẻ, hát ru con: “Con ơi con ngủ cho rồi. Đèn khuya hắt bóng, mẹ ngồi than thân”.
       “Buồn chết được!”. Ông Qua cười. “Uống mạnh vào, chẳng mấy khi mày ra đây… Dông ngon, lúc nãy mày gọi là gì? Đặc biệt, đặc sản?... Tôm, cá, sò, ngao, chim chóc đều do đất trời sinh ra, để nuôi chúng ta, phải không?”.
       “Con uống yếu, vài ly thôi”.
       “Ăn nhiều, vững bao tử, sẽ uống được… Ở xứ này, nếu không có mấy hũ rượu thì chẳng biết lấy gì giải sầu!... Mày biết không, vào mùa mưa, tháng chín tháng mười, vùng này ngó đâu cũng thấy một màu trắng đục, âm u hết sức!”.
       “Không điện, không máy hát, không phim ảnh”.
       “Không xe, không chợ quán… mà người ta vẫn sống!”.
       “Quả là buồn thật!”.
       “Hồi mới ra đây, vào mùa lạnh, cuối năm, các bà các chị khóc dài”.
       “Sao không vào gần quốc lộ, gần chợ?”.
       Ông Qua thở dài:
       “Vào đó ở đâu, ruộng đất, bãi bờ đều có chủ… Vài bộ quần áo, hũ gạo, chiếc ghe tí tẹo, làm sao chọi lại thiên hạ!... Rượu được không?”.
       “Dạ, ngon ác, dông cũng vậy, miệng mới ngậm đã thấm vào cổ!”.
       “Thẫn thơ đứng dưới gốc mai. Bóng tôi, tôi tưởng bóng ai, tôi lầm”. Người mẹ trẻ hàng xóm lại hát ru.
       “Xóm biển mờ mịt này có một điểm tốt, là dễ chịu. Dù trong túi chẳng có đồng xu nào ta vẫn sống mạnh. Ốc, cua, dông, sò luôn có sẵn… Năm này qua năm khác. Ta trẻ, rồi ta lớn, lấy vợ, sinh con đẻ cái, âm thầm, thảnh thơi… như con sao biển, như cây cam dại!”.
*
       Tạo nhỏ hơn Hậu bốn tuổi, mới tròn mười bảy, nhưng vai anh, chiếu trên, nên xưng hô mày tao với Hậu ngọt lịm. Anh đô con, da đen, tóc vàng hoe, ngực nở, tay chân bắp thịt nổi vồng như lực sĩ. Anh làm việc giỏi, lanh lẹ, không kém người lớn.
       “Mày trắng kỳ cục, con gái xóm này không ai trắng vậy!”. Tạo nói. Anh ngạc nhiên khi thấy Hậu không biết bơi.
       “Ở lại chơi một tuần mày sẽ biết bơi, tao có cách dạy, hay lắm”.
       Anh bảo, có hai kiểu học bơi: cấp tốc và tà tà. Ai muốn nhanh, lên ghe, ra chỗ nước sâu hai ba thước, nhảy đại xuống, huơ tay quạt chân, uống vài hớp nước mặn, sẽ bơi được. (“Thầy” và chiếc phao trực sẵn bên cạnh, yên tâm). Mau, hiệu nghiệm, đó là cấp tốc. Ngược lại, đứa nhát gan, đứng gần bờ, nước cạn, ngoi lên hụp xuống, mất chục ngày, cũng sẽ bơi được, nhưng ì ạch lắm! Hậu chọn cách sau, chậm nhưng chắc… Chiều ngày thứ hai, Tạo đưa Hậu đến bãi cát hẹp sau một gành đá, cách xóm Thượng chừng nửa cây số, tập bơi.
       “Chỗ này vắng, tập thoải mái. Mày lớn như tướng núi mà tập ở bến ghe người ta cười thúi mũi!”.
       “Không biết thì tập, sợ gì”. Hậu nói, đỡ ngượng.
       “Con nít xóm này mới bảy, tám tuổi đã bơi như rái, tới mười tuổi là đi thả lưới, giăng câu… Mày ở chơi lâu lâu nghe, chừng bơi rành mới về”.
       “Năm ngày thôi, em phải về vì có nhiều việc cần làm”.
       “Hay do buồn, mày không ở được?... Sau này, chắc còn lâu mày mới ra đây lần nữa?”. Giọng Tạo thật buồn. Hậu không ngờ anh mến mình như thế.
       Hôm sau Tạo cho Hậu coi số đồ nghề, dụng cụ câu mực. Anh nói, kỳ tới, nếu gặp mùa nắng, anh sẽ đưa Hậu đi câu mực vài đêm cho biết. Rất hay, vui, dân phố không dễ được thấy tận mắt. Những vật dụng đi câu vừa ít, vừa đơn giản. Một đèn chong, một chiếc vợt, và chùm dây câu. Mồi không phải trùn, nhái, dế, chỉ là những vụn vải nhỏ (có lúc dùng tôm giả, bằng nhựa). Thật lạ. Mấy sợi cước làm dây câu. Cách khoảng hai gang tay, trên những dây đó, người ta cột một mẩu vải. Mực đớp mồi vải, người câu kéo nó lên gần mặt nước, rồi dùng vợt “múc” lên.
       “Hè sang năm mày ra chơi, tụi mình sẽ đi câu mực. Chắc chắn mày mê, vui lắm… Ta đem theo hỏa lò, chanh, ớt, muối mắm, rau, bánh tráng, bia. Vớt vài “em” lên, ta mổ xẻ ngay, luộc, xơi tái, ngon ê răng đấy!”.
       Hậu hứa: “Nghe anh nói phát thèm, ờ, hè qua năm em sẽ ra”. Nói để Tạo vui lòng, thực bụng Hậu chưa nghĩ đến. Từ nay tới đó còn lâu, hơn nữa…
*
       Như nhiều phụ nữ xóm Thượng khác, bà Qua đan lưới giỏi. Nếu không ra bến đón ghe về, không nấu nướng trong bếp, thì bà ngồi trước thềm vá, đan lưới. Bà có thể ngồi suốt buổi, lặng lẽ, chăm chỉ làm, chẳng nói tiếng nào, không ngơi tay. Ngoài việc vá lưới nhà, bà lãnh đan lưới cho các tiệm quán trên huyện, mỗi ngày kiếm được chừng ba, bốn chục ngàn. Đó là mức thu nhập đáng kể, nó không nhiều, nhưng ổn định.
       Hậu ngồi xem bà Qua đan lưới, mới chừng nửa giờ đã thấy mỏi lưng.
       “Con chịu thua, mợ giỏi”. Hậu khen.
       Bà Qua cười: “Cố làm kiếm tiền, giỏi quỉ gì… Việc này cũng dễ, nhẹ”.
       “Nếu có cái máy hát, mợ vừa đan vừa nghe, đỡ buồn”.
       “Có vài người cùng ngồi đan, chuyện trò qua lại, chắc bớt mỏi”.
       “Con nghe nói dân biển không bao giờ dẫm lên hay bước qua lưới và các ngư cụ khác?”.
       “Không cấm, nhưng mọi người đều kiêng cữ. Ai cũng sợ xấu, xui… Tin khơi khơi vậy mà”.
       Bà Qua chỉ bến ghe: “Con ra bãi cát kia, nhìn về phía mặt trời mọc, sẽ thấy một hòn núi nhỏ, thấp, mờ mờ, đó là đảo Gầm. Nó như một doi cát dài, hình chiếc lá. Đảo hoang, không người ở. Trên đó có những vạt cây chành rành, cam đường, rau muống biển, và sỏi, đá. Giữa đảo, dưới gốc một cây cam đường lão có một ngôi miếu cổ, dân chài gọi: miếu Ông. Ông là thánh thần nào, chẳng ai rõ. Nhưng miếu thường được nhiều người đến cúng bái, nhang khói ấm áp. Cách đây mấy năm mợ cũng được ghé đó thắp nhang một lần”.
       “Chắc miếu linh thiêng, cầu được ước thấy, nên bà con tôn kính?”.
       “Đâu biết. Có lẽ đây là chuyện nói chuyền tai nhau, chắc cũng chẳng ai thấy gì, nhưng ghe tàu chạy ngang qua miếu, những người lái thường giở mũ, cúi đầu”.
       “Về mặt tâm linh, dân đi núi, đi biển giống nhau. Nơi làm ăn của họ bao la, bất an, nên họ cần có chỗ dựa, cần các quyền lực vô hình độ trì… Chắc không bao giờ con người chế ngự được giông bão, động đất, núi lửa”.
       “Người xưa kể: Trước kia, thời chưa có máy móc, dân biển còn dùng sức người chèo chống, có anh trai trẻ nghèo khổ thường ra đảo Gầm đánh cá. Đêm nọ, sau khi giăng lưới, anh ta lên bãi cát nằm ngủ chờ nước ròng. Đang ngon giấc, anh nghèo thấy một ông già đến gọi: “Dậy con, bọn trộm lấy hết lưới rồi”. Anh ngơ ngác. Ông già tiếp: “Lưới không còn, con làm gì? Con muốn có lưới mới không?”. Anh chàng vội quỳ lạy, xin ông cho tấm lưới khác. Ông già đưa cho anh một tấm lưới xanh, chỉ bằng bàn tay. “Đây là lưới thần, nhỏ, gọn, có thể cất giữ trong túi. Lúc cần dùng, con đặt nó xuống biển, vái ba cái, lưới sẽ lớn ra, càng vái nhiều lưới càng rộng. Nhưng con không được tiết lộ chuyện này với ai, và chỉ được dùng trong ba năm. Đến hạn, đem lưới tới đây trả lại cho ta, nếu không con sẽ bị nhiều tai họa”. Anh dân chài lạy như gió. Ông già bảo: “Không phải chuyện đùa, nếu quên lời hứa, con sẽ biến thành con cá nhái, phải sống quanh quẩn bên đảo này mãn kiếp”. Tỉnh dậy, chàng trai chạy xuống biển. Quả nhiên, lưới đã bị cuốn mất. Trở lên bờ, anh thấy trong giỏ mây của mình một tấm lưới nhỏ như bàn tay… Từ đó về sau, anh chàng tốt số làm ăn tấn tới, trở nên giàu có. Nhưng đến hạn ba năm, do lòng tham vô độ, anh ta không trả lưới cho thần… Vào một đêm biển động, giông gió nhấn chìm ghe anh ta bên đảo Gầm. Người và ghe biến mất tăm. Không rõ anh chàng đã hóa thành cá, hay trôi dạt về đâu… Biết chuyện, dân đi biển trong vùng chung tay xây nên ngôi miếu lớn trên đảo Gầm, thờ vị thần lưới. Nay, mỗi khi vác xấp lưới lên vai, nhiều người nhớ lại chuyện xưa. Bên trong thứ vật dụng lam lũ này cũng ẩn chứa lắm điều huyền ảo. Nên người ta quí trọng đồ nghề, không dám làm ô uế, không ngồi lên hay bước qua chài, lưới”.
*
       Ngày cuối, trước khi Hậu về, bà Qua đãi anh một chầu ghẹ luộc. Ghẹ chấm muối ớt… Trước kia, vùng biển này nhiều ghẹ. Mấy năm gần đây trên tỉnh, và các thị trấn mọc lên nhiều nhà hàng sang trọng, du khách đổ về đông, những loại hải sản cua, ghẹ, sò huyết vốn gốc bình dân, bỗng nhiên được nâng cấp, gán cho các nhãn mác “đặc sản” xanh đỏ, đọc lên nổ nghe như súng. Đến nay, chính dân biển, người trực tiếp đánh bắt, cũng hiếm khi được ăn các sản phẩm loại một ấy, do nó đắt tiền… Bà Qua mang ra một rổ ghẹ đầy vun, đỏ au. Những con ghẹ to bằng bàn tay xòe, càng que lòng thòng, mới nhìn đã thấy ngon. Chơi đẹp, đãi khách quí. Ông Qua có dịp khoe rượu hảo hạng.  Gọi là tiếp khách, ly anh ly tôi, nhưng thực sự khách uống một, ông “chơi” ba.
       “Cho cậu mợ gởi lời thăm ba má… Ít lâu nữa cậu sẽ lên thăm… Lâu rồi, gần chục năm, cậu chưa ra phố”.
       Ông ăn một càng ghẹ, ăn thật chậm, hớp ngụm rượu, khà thật lớn.
       “Lên chợ, cậu không biết làm gì. Đi lòng vòng thấy nhà cao, xe cộ bóng loáng càng thêm… phiền lòng! Xe, nhà là của thiên hạ, của người khác… Chậc, điện đóm, hát hò đều xa lạ đối với cậu! Cậu chưa biết nhiều thứ… chưa biết thì cũng như quên!”.
       Rượu xịn, ghẹ quá ngon. Ngon và hiền. Chắc chắn không có các chất độc hại tẩm ướp trong này, đây là điều xóm Thượng hơn đứt thành phố!
       “Cậu sẽ lên thăm ba má mày… nhớ nói rõ như thế. Uống, cháu… Mày còn nhớ góc biển này, cậu mợ vô cùng cảm ơn!”.
*
       Ông Qua không giữ được lời hứa.
       Ngay năm đó, vùng Hải Triều và các xã lân cận nổi lên phong trào nuôi tôm. Tôm sú và tôm hùm. Tôm sú nuôi trong đìa gần bờ. Tôm hùm nuôi trong lồng neo ngoài xa, thường dựa các vịnh đảo. Nghề này không khó lắm nhưng vốn ban đầu bỏ ra khá cao nên không phải ai cũng có thể làm chủ đìa. Phân nửa hộ dân xóm Thượng cất lưới, bỏ nghề đánh cá, xô vào nuôi tôm. Ông Qua cuống lên, thèm muốn, nhưng đành đứng xa nhìn, do yếu vốn. Ông buồn cả năm, nhưng không biết cách nào thoát ra khỏi thế bí… Đất cũ đãi nghề mới. Những láng rộng chỉ chứa rặt cây mắm xơ rơ đìu hiu, những bãi đá lổn nhổn xám xịt xưa nay chỉ sinh ra mấy con hàu, con ốc giờ bỗng thành đất vàng. Hai năm đầu trúng nhỏ, các năm sau lời to hơn. Sau sáu năm xóm Thượng đã có bảy gia đình thoát nghèo, mua được nhà trong thị trấn… Nhìn hàng xóm phất to, xênh xang, ông Qua rầu rĩ, đâm chán cảnh lưới chài thu nhặt vài ba chục ngàn nhỏ nhoi. Nhưng nếu bỏ lưới thì đi đâu? Từ nhỏ đến nay, hơn 40 năm, ông chỉ quẩn quanh với biển. Xưa kia cha ông cũng sống nhờ biển… Đến một ngày, có người em họ mách cho ông cách làm khác. Vẫn là lưới, biển, nhưng ở phạm vi rộng hơn: gia nhập đoàn tàu đánh bắt xa bờ. Không thích lắm, nhưng ông Qua gật đầu bởi mê chỗ lương cao và những khoản phụ thu rủng rỉnh, như người em họ vẽ ra. Nhưng ông lo, đi làm mướn cho người ta, chắc nặng nhọc lắm. Cuối cùng, ông đi, với ý định làm ít lâu kiếm mớ tiền về mua đìa tôm.
*
       Ông Qua lâm nạn trong chuyến đi khơi thứ ba. Trên tàu có tám người, chết bảy, chỉ ông sống sót. Ông bám vào một tấm ván, vật lộn với sóng gió bốn ngày, may được một tàu lớn vớt. Nhưng ông ngất, không còn biết gì. Vào bệnh viện nằm hai ngày, ông chết, vì đuối sức… Bà Qua nói, ông chết giống hệt mẹ ông. Hồi xưa cha mẹ ông Qua sống khá lâu trên đảo Đầm Mây. Năm ông lên bốn, trong một lần đi chợ huyện, chiếc ghe nhỏ của mẹ ông gặp gió chướng chìm giữa vời. Ghe chở sáu người, mẹ ông là người duy nhất bơi được vào bờ, (xa khoảng bốn cây số), nhưng bà bất tỉnh, nằm thiêm thiếp hai ngày rồi qua đời, do kiệt lực.
       … Hậu không ngờ mình sẽ không còn cơ hội quay lại thăm cái xóm chài nhỏ đáng yêu. Mợ Qua mất, chỉ sau chồng vài năm. Anh Tạo có vợ, bỏ biển, lên đồng cày cuốc… Mỗi lần bất chợt nhớ tới gia đình cậu Qua Hậu lại thấy bụng dạ xao xuyến. Anh nhớ những buổi tập bơi bên gành đá vắng vẻ, trên trời dưới nước, đẹp như tranh. Nhớ mấy lần ăn thịt dông nướng, ghẹ luộc, đơn sơ mặn mà. Nhớ câu chuyện về ngôi miếu cổ rêu phong, với những tình tiết lung linh sương khói. Nhớ cái bến ghe nồng nặc mùi mắm, mùi cá khô, xế chiều nào bọn trẻ da đen tóc vàng cũng bơi lội nô đùa huyên náo… Có lẽ nào đổi thay là chuyện thường tình? Dù muốn hay không tháng ngày vẫn trôi qua, con người vẫn già đi, bệnh tật rồi mất mát, đều đặn, thản nhiên ./.

BẤT NGỜ


       Như thường lệ, Xuân Phương đem cơm đến cho ông Duy Lực. Cô bé không về ngay, ở lại một lúc lâu, quét dọn căn bếp, rửa ly chén giúp ông nhà văn, và rề rà trò chuyện. Phương thích nói, về đủ đề tài, chuyện mình chuyện người, trong nhà ngoài phố. Cô có cái nhìn, lối nghĩ trong sáng, chơn chất của đứa trẻ, của người nông dân thực thà. Dù “lên chợ” đã khá lâu nhưng Xuân Phương ăn mặc, nói năng chưa giống dân thị thành. Cô bé quý ông Duy Lực. “Chú giống ba cháu. Nhìn thấy chú cháu lại nhớ ba cháu.”  Ba Phương mất năm ngoái, lúc vừa tròn năm mươi. Ông là trụ cột gia đình, nên khi không còn ông nhà em rơi ngay vào vòng túng bấn, Phương phải ra phố làm thuê, phụ giúp mẹ nuôi các em.
       Phương làm cho quán cơm bà Kim Quyên – một người bà con xa – với công việc chính là rửa chén bát và mang cơm đến nhà cho khách ăn cơm tháng. “Mấy cái việc tủn mủn này chẳng nặng nhọc gì nhưng nản, buồn lắm, chú à. Nó giống như mình vẽ ra một vòng tròn rồi nhắm mắt lại, cắm cúi đi quanh trong đó! Chắc cháu sẽ không làm ở đây lâu, cháu sẽ đi… tìm một chỗ khác… nhưng đi đâu?” Phương hỏi, rồi tự trả lời, chẳng chú ý xem ông Duy Lực có nghe không.
       - Cháu đâu có muốn làm thế này. Lương thảm, tạm bợ, không phải một nghề. Cháu muốn đi, nhưng đi đâu thì chưa biết. Cháu muốn học nghề… Trước ngày lên đây cháu đã xin việc ở trại nuôi ngọc trai và nhà máy đông lạnh. Không ai nhận, họ đòi phải có chứng chỉ lớp chín. Những thứ quỉ quái ấy mà cũng cần đến lớp chín! Chẳng có việc nào cho lớp bảy… Nếu má cháu không sinh thêm Út Em thì chắc cháu đã học lên lớp mười… Chú biết không, cháu có tới ba đứa em tên Út!
       Ông Duy Lực nghe, tiếng được tiếng mất. Ông tiếp tục viết.
       - Hôm  qua cô Kim Quyên dạy cháu “một bài” mới. Gần như tuần nào cũng có một bài. Cô bảo, cháu lơ mơ, ngơ ngác quá. Cô sợ cháu bị vấp ngã, bị lừa. Mười bảy không còn là trẻ con, vào tuổi này lắm người đã có chồng.
       Ông Duy Lực đặt bút xuống, bưng ly hớp một ngụm cà phê.
       - Mời chú dùng cơm, còn nóng ăn ngon.
       - Cháu đem cơm cho các người kia chưa?
       - Dạ xong, chú là người sau cùng… Hôm nào cháu cũng để dành phần đến nhà chú sau, để có thể nói chuyện với chú lâu lâu.
       - Cháu có nói chuyện với những người kia không?
       - Chú Quang Bảo vui, thường hỏi cháu nhiều thứ. Còn chú Nhật, Bác Hải, chú Phúc và cô Hương nghiêm lắm, gần như chẳng nói gì.
       Ông Duy Lực nhìn ra cửa sổ, chắc ông lại quay về với các nhân vật của mình. Xuân Phương biết ông là nhà văn, sống bằng cây bút nhưng không hiểu mấy về cái nghề lạ này. Có lần cô Kim Quyên nói: ông ấy là nhà báo, cần yên tĩnh để viết, cháu đừng quấy rầy. Nhưng cô bé thấy ông vui tính, dễ chịu, lúc nào cũng sẵn sàng nghe em nói.
       - Cô Quyên bảo phải thận trọng khi tiếp xúc với đàn ông. Đừng đánh giá một người qua vẻ mặt, bề ngoài của họ. Quần áo, xe cộ là vỏ bọc. Lớp vỏ này có thể sơn phết, tô điểm, ngụy trang dễ dàng… Anh chàng 20 với ông 70 giống nhau nhiều điểm, nguy hiểm như nhau… Nếu nói rằng 90 phần trăm đàn ông là những con công sặc sỡ, những võ sĩ chuyên múa mồm thì chắc không đúng, hơi nhiều, nhưng cũng chẳng phải hồ đồ!… Và cô nói, với bốn mươi năm sống trên đời, cô đã thấy đã biết quá nhiều, quá đủ. Nên bây giờ, không còn trẻ nữa, nhưng cô vẫn chưa gặp một ông nào vừa ý. Cô cảnh giác, chọn lọc kỹ lưỡng. Nay cô có khá đông bạn trai, một đám công giỏi múa may, nhiều màu sắc!
       Ông Duy Lực nói:
       - Cô Quyên khó tính, đa nghi. Rất khó tìm được một người hoàn hảo. Mà thế nào là hoàn hảo? Chắc cô ta sẽ sống một mình tới chết thôi!
       - “Chớ nhìn bằng mắt, chớ nghe bằng tai người khác!” Cô ấy nhắc đi nhắc lại, như để tô đậm vào óc cháu.
       - Hay quá, giống một châm ngôn.
       Xuân Phương cười.
       - Cách ngôn, ngụ ngôn, phương ngôn, cháu lẫn lộn giữa mớ chữ nghĩa rắc rối đó!… Cô Kim Quyên nói, chú là nhà báo. Ở cái thành phố nhỏ này làm báo là nghề hiếm, đặc biệt.
       - Như các nghề khác, nó cũng vất vả, khổ nhọc. Nhưng chú không làm báo, chú viết văn.
       - Cháu không hiểu hai nghề đó khác nhau ra sao?
       - Một anh nói to, anh kia nói thầm! Một anh đi nhiều, một anh thì nghĩ nhiều!… Nhưng có chỗ khác khá rõ, ông nhà báo kiếm được nhiều tiền hơn!
       - Chết, cháu không nói nữa, để chú viết!
       Phương đọc báo. Em chỉ xem hình vẽ, ảnh, không đọc chữ. Ông Duy Lực gấp tập bản thảo, cất vào ngăn kéo. Cuộc sống của các nhân vật trong truyện cũng ngổn ngang, chằng chịt, bề bộn như ngoài đời. Nhưng ông nhận thấy lắm lúc mình chẳng viết rõ được những điều mình nghĩ, diễn tả không khúc chiết, sáng gọn các tình huống của chính mình tạo ra. Người ta khuyên, nên đưa vào tác phẩm những mẫu người độc đáo, có cá tính, và đan cài vào đó các chi tiết nổi, đắt. Phong cách viết phải sinh động, tự nhiên, không giả tạo… Biết thế, nhưng khi cầm bút lên thì lạng quạng, ngắc ngứ!… “Rõ ràng, có viết đến trăm năm ta cũng chỉ nói được về một góc nhỏ, thật nhỏ của cuộc sống.” Ngay trong ngôi nhà hai tầng tối tăm này cũng có hàng chục chuyện đáng viết. Ngay như Xuân Phương và các vị khách ăn cơm tháng của em cũng đã là một cuốn tiểu thuyết! Thoạt nhìn Xuân Phương, dễ tưởng cô bé khờ dại, quê mùa, nhưng khi nghe em tâm sự sẽ thấy em nhìn đời rất chăm chú, suy nghĩ đánh giá về mình và những người xung quanh khá kỹ, tinh tế. Em không cam chịu sống lam lũ, nghèo hèn. Em phân tích, chỉ ra khá đúng các mặt yếu, nhược điểm trong cách làm ăn của người dân ở vùng quê. Em nói, có lên đây mới mở được tầm mắt, mới biết lâu nay mình sống như con ếch. “Số người khá giả ở làng cháu không nhiều. Phần đông đủ ăn, và nghèo. Khó giàu lắm, bởi đất ruộng ít, cằn cỗi, người lại quá đông… Nghèo thì chịu được, nhưng không quen được!… Cháu định sẽ học một nghề, nhưng nay kiếm được đồng nào xào ngay đồng nấy, còn tiền đâu để học?” Trong cái đầu bé nhỏ này đầy ắp những dự tính nóng bỏng. Không thể quen được với cái nghèo, ý tưởng sắc bén như người lớn. “Cháu sẽ cho xây lại ngôi nhà. Nhà cháu đã cũ nát, sắp sụp ngã… Cháu sẽ cho thằng em trai học hết cấp ba, mấy đứa em gái học đến cấp hai… Cháu sẽ không lấy chồng nếu má cháu còn cực khổ, các em cháu không được học hành… Cháu muốn trở thành chiếc xe xúc, để ủi, hất đổ mọi vật chướng ngại trên đường đời!… Cháu dự định, mơ ước nhiều thứ, nhưng cái điều quan trọng: làm thế nào để có nhiều tiền, thì cháu chưa nghĩ ra!”
       Con người ta ai cũng có ước mơ, chắc vậy. Xuân Phương nói, ở quê em mong ước phổ biến nhất là cái nhà và chiếc xe. Căn bản là ngôi nhà ngói đẹp đẽ chắc chắn, nay nhiều người đã đạt được. Tiến thêm một bước là chiếc xe hai bánh có máy nổ, tượng trưng cho sự phong lưu. Hình như ai cũng mong muốn vừa phải, từ thấp đến cao… Phương kể, cạnh nhà em có một chị góa chồng, tên Nhờ, hai con, nghèo túng. Ba mẹ con sống trong căn nhà vách đất mái lá dừa. Chị Nhờ làm lụng cần cù nhưng cũng chỉ đủ ăn, không có dư để xây nhà mới. Cha chị bảo, muốn khá lên thì phải đi buôn hoặc chăn nuôi. Không có vốn đi buôn, chị bèn trút hầu bao ra mua một con bò cái nhỏ về nuôi. Theo tính toán của người cha: hai năm bò đẻ, mỗi năm được một nghé, lớn lên mỗi con ba triệu. Như thế “ngó qua ngó lại, bảy tám năm sau con sẽ có mười, mười lăm triệu, xây được một nhà lô nhỏ gọn đẹp!” Con bò lớn nhanh như bò trong phim quảng cáo, mẹ con khấp khởi mừng thầm. Nhưng vừa đến tròn một năm thì bò trong vùng bị lây nhiễm dịch lở mồm long móng. Bò chị Nhờ mắc bệnh, nằm ì, bỏ ăn. Chị lo cuống cuồng, gọi thú y tới chích thuốc tây, thoa xức thêm cây lá thuốc nam đủ loại. Người ta nói – chẳng hiểu có thêm thắt để đùa chơi hay không – mỗi khi cho bò uống thuốc, chị nói với nó: “Bầy ơi, chịu khó uống nhiều vào, mau mạnh! Mày là gạch ngói, cột kèo, xi măng, sắt thép, là chỗ che mưa đỡ nắng của mẹ con tao! Tao chưa xây lên thì mày đừng ngã xuống!”.
       - Mời chú dùng cơm, ăn nóng ngon.
       Phương nói quen miệng, chắc cơm không còn nóng nữa!
       - Ở quê không có ai như chú. Làng cháu có mấy trăm hộ, hơn ngàn rưỡi khẩu, chẳng một ai mua báo, đọc báo… Cô Quyên nói, rất hiếm khi chú ra khỏi nhà, cũng không thấy khách đến thăm.
       - Đúng vậy, cô ấy tinh lắm… Chú muốn sống trong khung cảnh yên tĩnh, một mình… chú không chịu được ồn ào.
       - Cô bảo, mỗi năm vài lần, không phải, “xuân thu nhị kỳ” chú mới bước ra đường… và không thấy chú cúng kính, nhà chẳng có bàn thờ.
       - Chú thờ phụng cha mẹ, ông bà tổ tiên, bàn thờ đặt ở trong này – ông Duy Lực chỉ vào đầu mình, cười – ôi, chú bị theo dõi sát quá, dễ sợ!
       - Nó nằm sờ sờ ra đấy, chỉ nhìn qua là thấy!
       - Cúng, sao không? Chú có ba cái giỗ, cha mẹ và người em. Có điều, chú thường giỗ vào ban đêm, gọn, đơn giản. Chú nghĩ, các đấng khuất mặt không đòi hỏi ta cúng tế linh đình.
       Ông Duy Lực thấy cũng nên giải thích đôi chút cho cô bé hiểu:
       - Thờ kính tổ tiên, cha mẹ, sống lương thiện, có ích cho đời cũng là một đạo giáo. Nó giản dị, văn minh. Những tôn giáo rườm rà, cầu kỳ thường chứa đầy mê tín, lạc hậu, phù phiếm, phiền toái… Con người chỉ có một đời sống một nơi cư trú hạn hẹp, còn tôn giáo thì có đến hàng ngàn, chúng gây nhiễu, làm ta rối mắt rối trí.
       - Cháu chẳng hiểu gì hết!
       - Người ta còn nói: trên đời có ngàn thứ đạo tức là có ngàn Thượng đế. Vậy có thể nói ông Trời là sản phẩm của con người, do con người tạo ra, đúng hay bậy?
       - Dạ, khó quá, cháu không biết.
       - Chú cũng vậy, thật ra chú cũng không hiểu mấy về nó… Theo chú, vai trò chính của tôn giáo là làm cảnh sát tâm linh. Con người vốn yếu đuối, cần một nơi vững chải để nương tựa, nhất là trong khi gặp hoạn nạn, lận đận, khi đối mặt với cái chết… Nhiều người hiểu đạo giáo theo cách khác, coi nó như một loại bùa chú… Đó là chiếc áo nhiều màu, cháu ạ, ai thích người đó mặc, ai tin thì cứ sợ!… Đây là vấn đề bao la, khi có dịp cháu mua sách mà đọc, sẽ hiểu dần dần.
       - Nhà cháu cũng thờ tổ tiên. Má cháu thường nói ta sống tốt, không làm ác thì sẽ gặp may… Cháu luôn cố gắng ăn ở hiền lành. Cháu tin rồi có ngày mình sẽ gặp hên, được quí nhơn phù trợ, vượt qua cơn bí bết hiện nay… Bao giờ đến ngày đó, không thể biết được. Cháu lo đến phát bệnh!
       - Về đạo giáo thì tự hiểu thôi, khó giảng khó nói được! Thường, khi về già người ta đâm ra yếu đuối, tin đủ thứ… Lúc nào đau bệnh, thấy sắp ngã xuống chú sẽ năng cúng bái, sẽ dựng các trang thờ… Chú tự rèn luyện, để cho tâm trí mình vững vàng cứng cỏi khi đối mặt thần chết. Chết là khỏe, là được giũ bỏ khối phiền trược u ám, nặng nề đã bám cứng chân ta mấy mươi năm; là trở về với nguồn cội thênh thang… Đã có hơn sáu mươi tỉ người từng sống trên trái đất này, và đã chết. Thế thì có gì phải sợ. Ta sẽ đi, bay vút lên, rồi ta sẽ gặp lại cha mẹ, anh em, bà con…
       - Nhà cô Hương có hai trang thờ, luôn chỉ cắm một loại huệ trắng, ngày thường thắp điện, rằm mùng một thắp nến… Chú Quang Bảo có tới bốn chỗ thờ, nhang khói lúc nào cũng mịt mù… Chú ấy thiếu cái tay và con mắt nhưng vật chất tiền bạc thì thừa mứa. Nhiều người phục vụ chú. Một người đem cơm đến, một người đem sách báo, và một người chuyên cung cấp hoa; hoa cắm ba hôm là thay, chưa tàn cũng thay.
       - Vậy có phải nhờ cầu cúng chuyên cần mà ông Bảo được các đấng thần linh phù hộ?
       - Không, chú nhờ bà cô ruột giàu sụ, không con.
       Cả hai cùng cười. Xuân Phương tiếp, trong số sáu người khách ăn cơm tháng, có ba người đặc biệt, là ông Duy Lực, cô Hương, và ông Quang Bảo. Cả ba đều sống một mình. Cô Hương khoảng bốn mươi, giáo viên, chưa chồng. Ông Quang Bảo ngoài bốn mươi, không vợ con, bị tật nguyền… Cô Hương có thói quen hơi lạ: nghe nhạc suốt ngày. Máy hát lúc cô chấm bài, tắm giặt, ăn cơm, đọc sách. Cô nói nhà vắng lạnh, nên cần có tiếng người để không khí ấm cúng… Ba người, ba cảnh đời, như ba cuộn phim dài, lạ, kỳ quặc trong đôi mắt tò mò của Xuân Phương. Có lần, cô bé hỏi ông Duy Lực:
       - Sống một mình khỏe, tự do, nhưng nếu gặp chuyện vui, vui tột đỉnh, chú làm thế nào?
       - Chú cười! Cười dai như say. Và chú đi quanh trong phòng vài chục vòng, hoặc đi hàng giờ, ngẫm ngợi về nó!
       - Chỉ thế thôi?
       - Chớ còn sao nữa! Đó là chú nghĩ vậy, thực tế thì cả chục năm qua chú chẳng gặp chuyện nào vui bất ngờ, vui lớn.
       - Cũng câu này, cháu đã hỏi chú Quang Bảo. Chú ấy nói, chú sẽ thắp nhang khắp các bàn thờ, cảm tạ Trời Phật. Rồi pha bình trà đậm, mang ra sân thượng ngồi uống, ngắm trời sao, nghĩ về niềm vui ấy!… Ôi, cái ông Bảo này! Chú biết không, một mình chú Quang Bảo ăn tiêu nhiều gấp ba gấp năm nhà cháu.
       - Cháu đoán xem mỗi ngày chú ấy tiêu tốn bao nhiêu tiền, tương đương mấy chục ký lúa? – Ông Duy Lực đùa.
       - Để xem… chờ cháu tính… Chắc chừng ba giạ, hoặc hơn. Hoang phí quá!… Lẽ ra chú ấy nên ăn xài vừa phải, dành hẳn một số tiền, kha khá, dùng vào việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo.
       Ông Duy Lực cười lớn, ít khi thấy ông vui như vậy.
       - Phương ơi! Nếu ai cũng như cháu thì trên đời này mọi người đều no ấm, không có tội ác, không có cảnh khổ đau!
       Xuân Phương mở to mắt, ngạc nhiên.
       - Chú khen cháu về điều gì? Cháu chân thực, hiền lành?… Không hẳn như vậy đâu, chú à.
       - Nghĩ tốt sẽ làm tốt.
       - Cháu tự thấy mình không còn trong sáng, ngây thơ. Cháu suy nghĩ rất nhiều về con người, về các mặt của cuộc sống… Gần như không hôm nào cháu quên. Khuya, nằm xuống giường, không ngủ ngay, cháu nhắm mắt lại nhớ về má, các em, và làng quê. Rồi cháu quay sang chuyện làm ăn, những ước mơ, tính toán. Đó đều là các thứ cháu đã suy ngẫm đến hàng ngàn lần. Thật mệt óc, rối mù. Làm gì để có nhiều tiền hơn, trong lúc không vốn không nghề, chẳng quen biết ai… Mỗi khi bước ra đường, lọt thỏm vào dòng người và xe quay cuồng, cháu chóng mặt. Nghĩ, nghĩ mãi mà như chẳng nghĩ gì, cháu thấy mệt đuối, lắm lúc muốn khóc. Nhưng nhớ lại, mình là người đóng vai chính trong gia đình, không thể mềm yếu, phải làm gương cho các em, cháu động viên mình hãy dũng cảm, cứng rắn.
       - Cũng không lạ, cháu đâu phải thần thánh.
       - Chú biết không, nói ra xấu hổ, cháu cũng đã nghĩ đến chuyện đi bán quán đèn mờ, hoặc câu kết với ai đó đi buôn lậu đường dài! Thật chẳng ra sao!
       - Tội nghiệp, cháu gánh một gánh trách nhiệm quá to, trong khi chưa phải là người lớn.
       - Cháu thấy mình hư đốn, bệnh hoạn.
*
Hai tháng sau.Một chiều cuối tuần tiệm cơm Kim Quyên thay “lính”. Người mới là một cô bé chừng mười ba tuổi, như con chim chích, tướng lanh lợi, miệng nói liến thoắng. Ông Duy Lực chưa kịp hỏi, cô bé đã nói: “Chị Xuân Phương đem cơm tới cho chú Quang Bảo rồi ở luôn tại đó, không về nữa. Dì Quyên đến tìm mấy lần nhưng chị ấy trốn biệt. Dì Quyên tức giận la mắng chú Bảo hai trận đích đáng, nhưng vẫn không ăn thua… Chú Bảo nói chị Phương sẽ làm giúp việc nhà cho chú; chị nấu cơn, đi chợ mua hoa, mua báo. Dì Kim Quyên kết tội chú Bảo quyến rũ con nít, dụ dỗ gái vị thành niên. Dì ra hạn, trong ba hôm nếu chú Bảo không giao trả chị Phương, dì sẽ đến Công an tố cáo… Dì khóc, phân bua với những người tới xem: “Tôi sẽ nói với má nó thế nào đây, hở trời! Chị ấy với tôi là bà con, họ hàng. Dù đã khá xa, vẫn là thân tộc! Tôi đã hứa chăm sóc, thương yêu Phương như em ruột. Cái lão già dê khốn nạn này xen vào phá hại… Con bé trẻ trung, xinh đẹp, tương lai nó sẽ có một người chồng đàng hoàng, xứng đáng, chồng ra chồng! Trời ơi, tuổi lão ôn dịch hơn gấp hai tuổi nó, lại còn tàn tật. Lão dùng tiền bạc lừa phỉnh…” Chú Bảo nói: “Xuân Phương không phải con nít, chị đừng tưởng Phương ngu dại. Cô ấy tốt, khéo, làm được nhiều việc… Phương sẽ phụ giúp việc nhà cho tôi. Tôi trả lương sòng phẳng, với mức cao, cao gấp hai nhà chị! Trả công người ta bằng số lương chết đói, làm việc từ 5 giờ sáng tới mười một giờ khuya, mà chị còn nhắc chuyện bà con quen biết, khó nghe lắm!” Vậy là dì Quyên nhảy vào nắm tóc chú Bảo, đấm chú thùm thụp. Dì kêu gào to còn hơn loa phóng thanh: “cái thằng vừa đui vừa cụt dơ dáy, cái lão yêu râu xanh trời đánh! Hết biết, nhốn nháo, náo động, nhưng chị Phương thì vẫn mất tăm, biệt dạng!”
       Ông Duy Lực ngồi nghe, chăm chú, không nói tiếng nào.
* *
       Bà Kim Quyên không có cơ hội tố cáo.
       Một chiều mưa, người ta thấy có hai người lạ, một già một trẻ, tìm đến nhà ông Quang Bảo. Khách ăn mặc theo kiểu dân quê, xách một giỏ trái cây và hai con gà. Đó là bà Khen – mẹ Xuân Phương – và cậu con trai Út Lớn.
       Chính Xuân Phương mời mẹ lên, theo ý ông Quang Bảo. Ông muốn giúp đỡ gia đình cô gái nghèo nhiều nghị lực, giàu mơ ước nhưng còn lúng túng trong việc tìm đường thoát ra khỏi ngõ hẹp… Sau một lúc chào hỏi, trò chuyện làm quen, ông Quang Bảo nói rõ ý định của mình. Ông sẽ giới thiệu Xuân Phương đến làm việc với người em ruột của ông, chủ một vựa rau quả lớn tại phường 2. Làm ở đó hơi vất cả, vì phải có mặt suốt ngày đêm, nhưng bù lại được bảo đảm lâu dài, lương cao, và quan trọng hơn hết là sau vài năm ông sẽ xoay xở để Phương có một sạp hàng riêng cho mình… Phần Út Lớn, đang học lớp sáu, sẽ ở đây với ông, như con nuôi, phụ giúp những việc lặt vặt trong nhà. Ông sẽ cho cậu bé ăn học đàng hoàng đến tú tài, “rồi còn gì nữa sau đó ta hẵng tính, chớ nói trước mất hay.” Quang Bảo nói, ông sống cu ki, không vợ con, buồn nản. Ông thương những kẻ phải gánh chịu hoạn nạn, bần hàn, nhưng dĩ nhiên không thể giúp cho tất cả. “Với năng lực của mình, tôi muốn làm một cái gì đó, một công việc từ thiện nho nhỏ, để lấy phước. Xưa nay chỉ khấn vái, cầu cúng suông, thấy như có vẻ thiêu thiếu.” Ông kể cho bà Khen nghe chuyện ầm ĩ do bà Kim Quyên gây ra. Ông nói thật, để bà yên tâm, đó chỉ là chuyện vui, hoàn toàn chẳng đáng ngại. Bẩm sinh, ông không có khả năng lấy vợ, lập gia đình. Điều này rành rành, ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng, không cần bác sĩ. Đúng ra, ông thuộc “loại người thứ ba”, không phải nam, cũng không phải nữ. Hồi nhỏ, ở quê, mọi người vẫn gọi ông là “Bảo lại cái”… Ghét bà Kim Quyên ồn ào nên ông nói lần khân, chọc tức chơi. Thực ra, những điều bà ấy hò hét chẳng trúng vào đâu, giống như người dồn hết sức lực đấm đá vào không khí.
       - Đội ơn anh, mẹ con tôi… ghi xương… khắc cốt! – Bà Khen nói không ra lời.
       - Đừng nói ơn nghĩa, chị. Đã biết nhau thì chúng ta coi nhau như bà con.
       - Ơn anh to lớn quá… Anh biết không, ở làng, rất nhiều người, kể cả anh em thân thuộc, thấy chúng tôi nghèo đều lánh xa, không lui tới, như sợ bị lây nhiễm cái nghèo.
       - Đời dài lắm… cứ để họ sống theo kiểu của họ.
       Bà Khen khóc.
       - Cháu Phương là con gái, một thân một mình lên đây với ba bộ quần áo và cái bàn chải đánh răng, lạ cảnh lạ người… Ở nhà, mỗi khi nghĩ tới cháu là tôi khóc, không ngủ được… Tôi khấn xin ba cháu khôn thiêng hãy về phù hộ cháu, nhưng dường như ổng không nghe, chẳng giúp được gì, ổng chết thực rồi!
       Rồi, thình lình, bà quỳ thụp xuống, lạy ân nhân ba lạy. Ông Quang Bảo vội vàng đứng dậy, bước tránh qua một bên.
       - Chị ơi, chị làm thế này tôi tổn thọ!
       Và ông cúi xuống xá chị đàn bà ba cái, như để đáp lễ ./.

5 thg 9, 2011

BÀN TAY ẤM ÁP


       Nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Anh rủ nhà văn Thanh Quang đi ăn tối. Hai người ra khỏi Nhà sáng tác lúc đèn đường vừa bật sáng. Thái Anh muốn đi bộ, để ngắm Đà Lạt về đêm lần cuối. Đường hẹp, điện mờ, vắng người. Từ đây lên chợ lớn khoảng hai cây số. Điện yếu, tù mù, như các cột đèn thắp bằng dầu. Càng hay, nó mờ mờ nhân ảnh, lãng mạn!
       Đoàn văn nghệ sĩ của tỉnh miền biển lên đây nghỉ ngơi, sáng tác trong nửa tháng. Nhạc sĩ, nhà văn, nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ, mỗi ngành ba bốn người. Du ngoạn, thăm thú nơi này nơi kia là chính. Chuyện viết lách, sáng tạo, nghiên cứu chỉ được coi như thủ tục, nghi thức. Phần đông đã có sẵn tác phẩm hoàn chỉnh, cất kỹ trong cặp, khi cần có thể “nộp bản, báo cáo” lúc nào cũng được… Hai tuần qua đi, khá nhanh.
       “Mai về, anh buồn không?”
       “Không mừng, chẳng buồn… thực ra, nếu đi một mình, anh chỉ ở đây chừng năm ngày.”
       “Thế à, anh khó tính đấy.”
       “Buổi sáng và ban đêm đẹp, nhưng trưa chiều thì sao sao ấy… bụi bặm, chói gắt, khó thở.”
       “Nó như sân khấu, phải có đèn màu, lúc xanh lúc đỏ mới tạo được không khí kịch”
       “Núi non bao quanh, thung lũng, không nhìn thấy xa, gây cho ta cảm giác…”
       “Đồi, hồ, thác nước đẹp đấy nhưng nhìn nhiều lần thì cũng…”
       “Tối mai, vào giờ này có lẽ mình ngồi xem phim truyện trên ti-vi, tối mốt cũng thế, và mình sẽ nghĩ về Đà Lạt như…”
       Thái Anh cười. Trời trong nhưng không thấy sao. Đây là khu phố nghèo, nhà san sát, nhỏ, thấp, xưa cũ. Trần trụi, dây điện ngang dọc, ăng-ten truyền hình tua tủa. Không thấy hoa mọc bên đường. Chất Đà Lạt không vào được trong các ngóc ngách, ngõ hẻm?
       “Em đã bấm hết tám cuộn phim.”
       “Em xài kỹ đấy. Văn Sơn đã chơi mười bốn cuộn.”
       “Số lượng chẳng nói lên điều gì, chỉ cần một ảnh đạt là sướng mê.”
       Đi qua nhiều tiệm tạp hóa, một lớp học đêm, một quán cà phê, một ngôi chùa nhỏ. Thái Anh nói:
       “Ồn thế này làm sao tu… Các thầy có uống cà phê không?”
       Xưa kia, khi mới xây chùa, có lẽ ở đây còn hoang vu. “Ai lên xứ hoa đào, đừng quên mang về một cành hoa.” Thái Anh hát nhỏ. Mùa này anh đào chưa ra hoa.
       “Anh nghe chú Bá Phước hát bài này chưa, mùi ác!”
       Những câu ca buồn khiến người ta nhớ lại những tháng ngày đã qua, những kỷ niệm bảng lảng, phai mờ xa lắc.
       “Sáng sớm em sẽ đem bình hoa phòng em qua để cạnh bình hoa của anh, không thì lúc chúng ta đi rồi, ở lại một mình nó sẽ buồn lắm!”
       Cái bình hoa buồn? Ý nghĩ ngộ nghĩnh đó làm Quang giật mình.
       “Em biết anh đang nghĩ gì không?”
       “Làm sao biết”
       “Em nghệ sĩ thứ thiệt, tâm hồn đầy ắp mộng mơ mà sao cứ sống một mình.”
       Nhờ chuyến đi này Quang và Thái Anh thân nhau. Trong Nhà sáng tác, phòng của hai người kề nhau… Thái Anh mượn chiếc gắn máy cà khổ của ông anh họ, suốt ngày đi thăm các thắng cảnh, các buôn làng vùng sâu để săn ảnh. Quang hơi khác. Sau hai ngày cùng đoàn dạo một vòng khắp những nơi cần thăm, Quang nằm nhà đọc sách và ngủ. Anh than: “Mỏng quá, cũng chỉ bấy nhiêu chỗ ấy, đơn điệu, chán ngắt.” Anh ngủ, ngủ đến sưng mắt. Thế nên khi nghe Thái Anh cần “tài xế, vệ sĩ” để tham quan các huyện xa, Quang xung phong ngay. Đi chơi, vui là chủ yếu.
       “Dùng anh là đúng người đúng việc… Phí của, mấy ngày qua không biết, em đi một mình mệt đứ đừ… Chịu khó đi với em, anh sẽ thu được nhiều cái lợi… Biết đâu, vào các buôn làng anh sẽ chộp được nhiều chuyện hay để viết.”
       “Thì đi, gần em là anh thích rồi.”
       Thái Anh đùa: “Anh muốn trả công bằng tiền hay bằng sản phẩm?”
       “Người cao cả như anh rất dị ứng với vật chất tủn mủn. Ngồi xe, em cứ ôm anh, ôm chặt vào… chỉ vậy, chẳng cần tiền bạc gì ráo!”
       Thái Anh cười: “Các quý ông ma tà, trăm ông như một!”
       Qua hai đường nhỏ, rẽ trái, vào một đường lớn. Đoạn này nhà đẹp, nhiều biệt thự. Chỉ vài người đi bộ. Xe gắn máy chạy xuôi ngược, vun vút.
       “Em mê những phố đi bộ của các nước châu Âu… Hôm qua trả xe, anh Khoa hỏi: Đà Lạt đẹp không. Em đáp, đẹp lắm, hơn đứt Pleiku, Kon Tum. Lúc ra về, em nói, thú thực em chưa biết Kon Tum, Pleiku!”
       “Ở đây anh thích nhất là những đồi thông. Pleiku cũng có thông, nhưng không đẹp bằng.”
       Hai người tấp vào một quán cơm nhỏ, gần chợ. Quán bình dân, đông khách. Bảng thực đơn khá dài nhưng chẳng món nào đáng gọi là đặc sản. Khách, toàn đàn ông, cắm cúi ăn.
       “Nghe nói cà phê Tùng nổi tiếng, anh đến chưa?”
       “Gần đây thôi, ở khu Hòa Bình, cạnh rạp xi-nê, năm 1998 anh có ghé… Trước kia Tùng có hai ưu điểm: cà phê ngon và nhạc hay, nay thì nhờ cái mác cổ xưa, nhưng nó nằm giữa phố, không thơ mộng… Mấy năm gần đây anh không thăm những nơi được thiên hạ ca tụng ồn ào, vì đọc được câu: ra Huế bạn ngủ đò sông Hương, lên Đắc Lắc bạn cỡi voi, vào Sài Gòn bạn thăm Đầm Sen thì bạn không phải người kém cỏi, nhưng cũng chẳng đặc biệt.”
       Thái Anh mua mấy tờ vé số của một bé gái có gương mặt buồn rầu. Nhiều người bán vận may quá … Bữa cơm kéo dài non một tiếng. Quang luôn miệng khen ngon. Ngon thật, bởi anh đã bỏ bữa cơm trưa. Ăn sáng lúc 9 giờ, trưa chưa kịp đói. “Ra Huế ngủ đò, cũng như lên đây thì thăm vườn hoa thành phố, chùa Tuyền Lâm, thung lũng tình yêu… cũng như giày dép phải là Biti’s, cà phê thì Trung Nguyên, quần áo thì Việt Tiến!”
*
       Quay về, anh chị lại đi bộ, theo lối mới, vòng qua phía nam hồ Xuân Hương. Đường này rộng và sáng sủa. Một nhà nhiều tầng mới xây. Khách sạn Palace lộng lẫy.
       “Lạ, sao em sống một mình.”
       “Một mình, bốn mươi xuân, có gì lạ… một mình nhưng vẫn yêu đời, không cô đơn… Chẳng ai mướn anh thương hại.”
       Có một lúc, chừng hơn mười phút, họ im lặng đi bên nhau, không nói tiếng nào.
       “Vào các buôn xa ta sẽ thấy đồng bào thiểu số không biết trồng hoa.”
       Quang đi sát vào Thái Anh.
       “Lạnh không?”
       “Hơi lạnh.” Nàng hít hà.
       “Thế này mới là Cao nguyên.” Quang đọc thơ: “Tưởng đụng đầu ngàn mây, Khi ta về Đà Lạt, Người tình trong mơ đây, Bao năm giờ mới gặp.”
       “Hay, anh đọc tiếp nghe.”
       “Lòng bồi hồi khẽ hát, Mây xuống phố cuối chiều, Dã quì vàng bên thác, Mơ mơ đồi thông reo.”(1)
       Chờ cho thơ ngấm vào người nghe, Quang nói nhỏ:
       “Cho anh cầm tay em chút.”
       “Sao phải cầm tay, bổ béo gì đâu… về mà cầm tay vợ!”
       Thái Anh ra dáng nghiêm trang. Quang vẫn cầm được. Bóp nhẹ bàn tay nhỏ nhắn, Quang khen:
       “Ấm chi lạ!… Đây chín ngày làm vệ sĩ tận tụy, lẽ nào tiếc nhau cái chuyện cỏn con.”
       Thái Anh than: “Các quý ông lươn lẹo, ngàn ông như một!”
       Gió nhẹ,  chỉ vừa đủ vuốt ve cây lá. Những hàng thông xa mờ mờ, nhiều cây như không có ngọn. Hình như sương mù vừa hiện ra.
       “Bông hoa không ăn được mà người ta nuôi dưỡng chúng từ đời này sang đời nọ… Anh phỏng vấn em, rời Đà Lạt em nhớ gì đi.”
       “Hỏi à? Thưa nghệ sĩ ưu tú, khi rời khỏi đây chị nhớ gì?”
       “Thưa ông, tôi nhớ hoa. … Nếu tóm Sài Gòn vào chữ “trẻ”, Nha Trang vào chữ “biển” thì Đà Lạt là “hoa”… Thiếu hoa sẽ không có Đà Lạt.”
       Quang lại đọc thơ: “Tiếng ngựa xe lốc cốc, Người về bên kia đồi, Sương nhòa trên đỉnh dốc, Tôi đứng nhìn mây trôi.”
       “Thơ tượng hình, như phác thảo tranh thủy mặc!… Thơ cũng giống hoa, không ăn được, mà con người vẫn gìn giữ nó!… Đi chậm chút, anh.”
       “Ờ, chậm đây… đi nhanh là đặc điểm của dân quê, anh muốn bỏ nó và tật nói lớn nhưng chưa được.”
       Đường vắng tanh, chẳng lẽ mới giờ này mọi người đã lên giường.
       “Tự nhiên em muốn hát to lên… Sau câu Tôi đứng nhìn mây trôi còn gì nữa?”
       “Thông đứng kề bên tôi, Như người già từng trải, Còn tôi thì vụng dại, Chẳng tính nổi điều chi…”
       “Ai mà chả vụng dại!”
       “Trăm năm nữa chắc gì, Có một lần tái ngộ…”(2)
       “Buồn hết sức!”
       “Chuyện buồn được người ta nhớ lâu.”
       Đến quãng đường thưa nhà, tối hơn.
       “Em chưa thăm nhà thờ con gà.”
       “Đằng kia, sau lưng chúng mình, ban ngày mới thấy, nó chỉ có con gà sắt trên nóc là đáng kể.”
       Gió lào xào trên vòm thông. Những chiếc lá khô chạy trên đường.
       “Hai lần lên đây nhưng anh vẫn chưa biết mấy cảnh nằm trong phố: đồi Cù, thác Cam Ly, dinh Bảo Đại, vì nghe nhiều người bảo đó chỉ là những món xinh xinh, như cà phê Tùng vậy.”
       Thái Anh cười hích hích: “Ví von thú vị đấy.”
       “Báo chí nói, nếu các ông chủ chịu khó suy nghĩ thì thành phố này còn đẹp hơn, và có thể có thêm nhiều dịch vụ mới để câu khách.”
       Gần tới nhà, Thái Anh rút tay lại, đi nhích xa Quang một chút.
       “Thưa nhà văn Thanh Quang, lúc này ông nghĩ gì?”
       “Tôi nghĩ, không biết đến bao giờ mình lên đây lần nữa.”
       “Chỉ vài ba năm thôi, sẽ có ngày tái ngộ.”
*
       Về đến Nhà sáng tác, vừa bước lên thềm anh chị đã gặp ông Nguyên, nhà văn, trưởng đoàn. Ông cho biết, 7 giờ sáng mai lên xe. “Muốn cho người tỉnh táo, khỏe khoắn, nhị vị nên đi ngủ sớm.” Trong phòng khách có nhiều người, có cả bia rượu, kẻ nằm người ngồi, và dường như chẳng ai còn tỉnh táo! Cuộc họp mặt trước khi chia tay. Ca nhạc, đọc thơ. Mực khô và đậu phộng rang. Nhà thơ trẻ Phan Dương kéo Quang ngồi xuống, ấn vào tay anh ly bia đầy. Tâm sự, thức với nhau đêm này, mai về rồi… Về là sa ngay vào vòng thực tế đời thường quay cuồng, chán ngấy; là hấp ta hấp tấp, gạo cá điện nước, miệng nói chân bước, công kia việc nọ, khó gặp thơ ca lắm! Nhạc sĩ Bá Phước, người lớn tuổi nhất đoàn vừa đàn vừa hát “Ai lên xứ hoa đào” của Hoàng Nguyên: “Ôi, màu hoa đào, màu hoa đào, chiều xuân nào…” Giọng ông trầm, ấm, ngọt ngào: “Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa.”.
       Nửa đêm, tiệc rượu tan. Quang về phòng, nằm mãi vẫn không ngủ được. Cái bàn tay trắng, mềm mại, ấm nóng ấy hiện ra ám ảnh anh. Thái Anh chưa nói gì, không hẹn hò, nhưng tay trong tay trên một quãng đường dài như thế… chẳng phải có tình ý là gì? Còn hơn một lời hò hẹn! Quang dậy, mở cửa ra ngoài, đến trước phòng nàng. Cửa khóa, bốn bề yên lặng. “Nên ngủ sớm, 7 giờ lên đường.” Sáng về rồi, chẳng còn dịp nào khác. Quang gõ cửa, cộc cộc, hai lần, bốn tiếng, như gõ vào hư không!… Trở về phòng mình, nằm một lúc, nhờ sự tác động của mấy li bia, Quang thiếp ngủ, quên mất cái bàn tay…
       Lúc gần 4 giờ sáng, Thái Anh dựng ông trưởng đoàn dậy, nhờ giúp đỡ. Đến phòng cô ta, nhà văn thấy ông nhạc sĩ Bá Phước nằm thẳng đuột trên giường, mặt trắng nhợt, sùi bọt mép. Hoảng sợ, ông Nguyên hô hoán ầm lên!
       Cuộc chơi chấm dứt. Kết thúc một hành trình. Vở kịch hạ màn! Thái Anh ở lại chăm sóc “chú Phước” trong bệnh viện. Đoàn văn nghệ sĩ lên xe, từ biệt thành phố sương mù lúc 8 giờ. “Tiếng ngựa xe lốc cốc, Người về bên kia đồi.” Về thôi. Về để gặp lại những nhà những cảnh cũ mòn, những bận rộn những lo toan thấp bé ./.


(1)  Thơ Trn Dz L.
(2)  Thơ Nguyn Chí Hiếu.

3 thg 9, 2011

QUẢNG TRỊ - CUỘC ĐẤT TÌNH NGHĨA

Chiếc xe Asia bảy chỗ ngồi của Hà Nguyên khởi hành tại Bình Định lúc 9 giờ 30 tối, đưa chúng tôi đến Huế đúng 4 giờ sáng hôm sau.. Tấp vào một quán –café-không-tên bên bờ sông Hương vừa dọn hàng-gọi mỗi người một ly café-vừa nhâm nhi thư giản-vừa ngám sông Hương buổi sớm!. Lúc này, sông Hương vẫn còn đang mơ ngủ-mềm mại và mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Huế-sông Hương, có lẽ thơ mộng, quyến rủ nhất-chính là lúc này. Lúc Đất Trời yên tịnh vắng lặng thoát ra khỏi mọi cái ồn ào vội vã đua chen…

Tạm biệt Huế khi ly café vừa cạn/điếu thuốc vừa tàn-chúng tôi chỉ ngồi lại được với Huế có thế, nhưng khoảnh khắt ngắn ngủi bồi hồi tinh sương ấy-đã in đậm trong tôi bao niềm nhớ thương của một thời tuổi trẻ rong chơi bè bạn vô tư hồn nhiên như dòng sông lặng lẽ thuở nào!…Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình hướng về Quảng Trị/Đông Hà đang mời gọi đợi chờ phía trước!

Cách thị xã Đông Hà khoảng 40 cây số-lúc này đã hơn 6 giờ sáng-tôi gọi cho Phan văn Quang,-người bạn văn lưu lạc đã ngót 40 năm chưa gặp lại. Hà Nguyên phone cho Anh Đức Tiên-người anh cả của Bloggers Quảng Tri-để xin địa điểm gặp nhau. Bảy giờ, xe của chúng tôi đã vào phố Đông Hà-thị xã của miền địa đầu giới tuyến thuở nào! Đây là lần đầu tiên tôi được dừng chân đến Quảng Trị/Đông Hà-nên Đất Trời QT/ĐH hiện ra trong ánh mắt lạ lẫm tôi luôn mới lạ, réo gọi-thân thương! Cái thị xã của 21 năm gánh chịu bao nỗi chia xa, thù hận, bom đạn,đau thương/chết chóc- nơi miền địa đầu một thời quê hương khói lửa binh đao-nay đang trổi dậy, nẩy mầm, vươn lên-thật tươi trẻ, hiền hòa, chung thủy! Nhìn phố xá người xe Đông Hà-tôi vừa ngậm ngùi thương cảm/vừa trân trọng thán phục! Miền đát chết ấy đã sống lại-đã hồi sinh đầy sinh lực và kiêu hảnh!

Được các anh Đức Tiên, PV Quang, Thanh Tịnh đón ngay góc phố Lê Quí Đôn-chúng tôi lần đầu bắt tay nhau mà như tình thân đã muôn thuở! Sau điểm tâm-uống ly café đầu tiên Đông Hà-theo sự “sắp xếp” của Anh Đức Tiên-chúng tôi được tham quan 2 di tích đáng nhớ của Quảng Trị là Nghĩa Trang Trường Sơn/ Cầu Hiền Lương-ngay trong buổi sáng.

Con đường rộng, thoáng mát, rợp bóng cây dẫn đến NTTS thật thơ mộng. Có ai ngờ rằng-hơn 37 năm trước-cũng ở nơi đây-khói và lửa/đau thương và chết chóc/hận thù và chia xa-đã cày xới mảnh đất cằn khô này thành từng ngàn mảnh tang thương? Hơm 10.000 ngôi mộ liệt sĩ đã được quy tập về nơi đây-từng khu dành riêng cho mỗi tỉnh thành-hàng hàng lớp lớp người tuổi trẻ đã yên nghỉ lặng lẽ cùng cỏ cây-núi đồi Trường Sơn u tịch –khiến tôi nghe xót xa rưng tức trong lòng! 10.000 ngàn ngôi mộ-không phải vậy-nhiều ngàn lần hơn thế nũa của hai niên Nam Bắc tuổi trẻ đã phải nằm xuống im lìm khi mọi ước vọng tương lai đang xanh-Tình Yêu đang chớm nở! Có một nhà văn nào đó đã nói; “… Vâng, Chiến tranh là một bi kịch to lớn nhất của nhân loại-bởi vì nó tàn phá con người-mà mỗi con Người là môt bảo vật không thể thay thế!”. Tôi dóng một hồi chuông dài chiêm niệm vong linh các anh-sau khi thắp hương đặt hoa lên đài tưởng niêm! Tôi thắp hương/dâng hoa không chỉ cho 10.000 liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây-mà cho tất cả những người đã nằm xuống trên mọi miền Tổ Quốc trong cuộc chiến tương tàn dai dẳng khốc liệt này!

Xe chạy qua Quán Ngang, Dốc Miễu - tiến về chiếc cầu chia cắt 21 năm –Ôi, chiếc cầu hiền hòa bình dị nhỏ bé là thế mà sao gieo bao nỗi kinh hoàng tang thương cho Dân Tộc? Được vịn tay lên thành cầu Hiền Lương thân yêu-như được sờ mó lên từng đoạn đời chìm nỗi bất hạnh –tôi không kiềm được nỗi bàng hoàng đang dâng tràn… Đây là nhà Liên Hiệp, đây là cột cờ, đây là dãy loa phóng thanh, đây là đồn bót, đây là nhà lưu niệm (…)-mọi chứng tích hãy còn đó-mọi khổ đau đang còn kia-Cầu mong lịch sử không bao giờ tái hiện thêm nữa những vết tích đau buồn-mà hãy dựng lên nhiều tượng đài của Hy Vọng, của Tình Yêu-của Niềm Kiêu hãnh…

Buổi chiều, theo sự hướng dẫn của Thanh Tịnh-chúng tôi được thăm Thành Cổ Quảng Trị-nơi 81 ngày đêm chìm trong máu lửa! Nơi cổ thành uy nghiêm này-là nấm mồ chung của tuổi trẻ! Bước từng bậc cấp lên tượng đài-nơi dâng hương-hoa-tôi đăm đăm nhìn rộng khắp chung quanh-nhớ lại những ngày vang dội tiếng đạn bom/tiếng kêu than/ gào thét/ và máu và những giọt nước mắt cuối cùng! Thành Cổ ơi, xin thắp nén hương tâm dâng Người… Cầu mong Người được an lành nơi cõi Vĩnh Hằng!

Trời đổ mưa-Thanh Tịnh vẫn nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi với niềm- tự -hào- Quảng -Trị; đưa chúng tôi đến thăm nhà lưu niêm cố Tổng Bí Thư Lê Duẫn. Giong thanh ấm của người nữ thuyết trình viên trước mỗi bức ảnh, hiện vật, tượng khắc-làm cho gian phòng thêm ấm áp, gần gũi! Tôi cảm thấy, hình như đôi mắt cô ta long lanh chực khóc-khi nói về những ngày gian khổ của Quảng Trị! Thời gian còn lại ít ỏi quá-chúng tôi “tranh thủ” ghé qua Thánh Địa La Vang-thăm miền đất Thánh một thời còn lưu dấu!

Theo “qui định” của Anh Đức Tiên-chúng tôi phải quay về Quán Soi lúc 16 giờ30-để tham gia giao lưu với anh chị em bloggers Đông Hà/Quảng Trị. Buổi tiệc nhỏ thân mật với những đặc sản QT mà Anh Đức Tien dành cho chúng tôi thật… “hoành tráng”! Quanh bàn, đã hiện diện tương đối đầy đủ bloggers QT/ĐH: Đức Tiên., PV Quang, Thanh Tịnh, Xuân Lợi, Văn Luyến, Cô Giáo MN Moon, Hoài Nhạn… Anh Đức Tiên nói lời chào mừng-hy vọng tình-bloggers sẽ nhân lên mãi. Hà Nguyên thay mặt chúng tôi bày tỏ cảm tưởng, lời cảm ơn đối với anh chị em bloggers QT-Và cùng nâng ly trăm phần trăm chúc mừng cuộc Hội Ngộ khó quên!… Khoảng 1 giờ sau-Anh Nguyễn Quang Vinh từ Quảng Bình đã lái xe đến đúng hẹn-lại thêm một bạn văn mới tháp tùng-bạn Trần Phương đang công tác ở báo Nông Nghiệp. Bốn anh em chúng tôi (H Nguyên/NM Quang/PV Phương và tôi) -phải cụng ly… tới bến với nhiều bloggers QT hào hoa uống bia như… nước suối! Chuyện trò, tâm tình-cụng ly-và vui cười thoải mái cho đến gần 11 giờ- Hà Nguyên lại thay anh em BĐ gởi “chút quà đặc sản” (Nem chợ Huyên bà Bảy/Bánh ít đen Bà Dư/Rượu Bầu Đá)-để anh em cùng thưởng thức “hương vị BĐ” trong lúc chưa có “đủ duyên” ghé lại-Anh Đức Tiên tăng chúng tôi mỗi người một tập “Thơ Webs-Bloggers Quảng Trị-Vuontruc online”- Thanh Tịnh tặng tập thơ mới của anh (tập “Cầu vòng cõng những cơn mưa”). Cuộc vui kỳ ngộ tạm kết thúc - Chúng tôi trở về Ngân Hà Hotel “ngủ với Đông Hà” một đêm!

Hẹn nhau ở Quán Café Giang Châu (của blogger –nhà thơ Xuân Lợi) để cùng uống ly -café –tạm-biệt! Lại một cuộc gặp gỡ thật đầm ấm. Lại một tên quán Giang Châu nhiều ấn tượng. Đông Hà ơi, Quảng Trị ơi- cuộc sum hợp nào rồi cũng có lúc phải chia xa-mỗi người một cảnh đời bận rộn-nhưng trong khoảng im lặng tưởng nhớ của đời sống-Quảng Trị, Cuộc Đất Nghĩa Tình luôn sáng mãi nồng ấm trong tôi! ./.

Quê Nhà, ngày 30 th 3-2009