16 thg 2, 2012

ÔM ĐĨ MẤT TIỀN


        Chú Năm Hàn nhắn tôi đến gặp chú. Việc gì chưa rõ, nhưng đứa bé đưa tin nói: “Gấp lắm, đến ngay hôm nay”… Tôi ngồi đợi chú ở phòng khách. Người nhà đem trà, thuốc ra mời. Đã gần 8 giờ nhưng chú Năm còn ngủ. Tôi không thấy lạ, đối với chú “mặt trời mọc hai sào còn ở nhà đủng đỉnh uống trà” là chuyện thường ngày.
        Chú Năm Hàn là em út của ba tôi. Trước kia chú nghèo nhất trong gia đình ông tôi và trong cả họ. Chú có nhiều “cái nhất” đáng buồn: đông con nhất, nhà cửa xập xệ nhất, thường gặp chuyện xui xẻo nhất.
        Sinh thời, ba tôi không thích chú Năm, thường nhận xét về chú bằng giọng nghiêm khắc, thiếu cảm tình. Ông nói, rạch ròi – theo cách của các viên chức viết thông báo – để chúng tôi thấy các nhược điểm của chú Năm, với chủ ý răn dạy, sợ chúng tôi bước giẫm lên dấu chân gồ ghề của chú.
        “Một là, không biết tính toán làm ăn, việc gì cũng lao vào theo kiểu cầu may. Không biết quan sát, phân tích, phán đoán cách làm việc của bà con xung quanh nhằm rút ra những bài học, đem các tinh hoa về áp dụng cho mình.
        Hai là, lười nhác, chậm chạp, lúc nào cũng uể oải, ì ạch bám đuôi thiên hạ. Sống ở quê mà theo giờ hành chính, chủ nhật nghỉ. Sáng thì mặt trời mọc hai sào còn ngồi trước thềm khật khưởng uống trà. Cuốc cày phơn phớt, sợ đau đất. Làm ngại mệt, chưa nóng lưng đã về.
        Ba là, thiển cận, không phòng xa. Kiếm được một ngàn là phủi chân nằm nghỉ, ăn tiêu cho hết ngàn đó mới chịu làm tiếp. Không có tiền gạo dự phòng, mỗi khi trong nhà lỡ xảy ra xui rủi là chạy quáng quàng khắp nơi cầu cứu, vay mượn”.
        Rồi, bao giờ cũng vậy, ông gút lại: người như chú ấy sẽ đói khổ triền miên, nghèo suốt kiếp thôi.
        Những điểm trên ba tôi nói chính xác, nhưng câu kết luận, kỳ quái thay, hiện nay không còn đúng nữa!
        Cách đây chín năm, Hà Sơn – đứa con sáng sủa lanh lợi nhất của chú Năm – bằng con đường đi chui đã vù thẳng sang Pháp. Cũng như tám anh em trong nhà, Hà Sơn chỉ được học đến cuối cấp một. Nhưng, lạ làm sao, sống ở cái xứ văn minh giàu có ấy, chỉ vài năm Sơn đã phất to. Nghe đâu nay nó là chủ của một quán ăn bề thế ở một thành phố lớn. Người ta đồn, Hà Sơn gặp may nhờ cờ bạc. Lại có người nói, tất cả số của cải ấy xuất phát từ người vợ, một cô nàng gốc Khơ-me Sóc Trăng đen đúa, nhỏ bé. Thực hư ra sao chẳng ai kiểm chứng được, có điều “thằng Sơn Còi giàu to” là sự thật.
        Ngoảnh đi ngoảnh lại, như trong cổ tích, chú Năm Hàn đổi lốt, trở nên giàu sang, lọt vào nằm trong giới tai mặt của làng Tân Dân. Giờ đây chú đã có những “cái nhất” sáng giá: nhà cửa lộng lẫy nhất, xe cộ xịn nhất, làm ăn vững vàng mạnh vốn nhất.
        Chú Năm dậy, rửa mặt mũi, chải tóc, cạo râu, thay quần áo mất nửa tiếng. Kế đó chú ra ngồi đối diện tôi, chẳng nói gì, khề khà uống trà hơn nửa tiếng nữa! Biết tính chú, tôi không vội, không hỏi. Dễ gì bỏ được một thói quen đã ăn sâu vào xương tủy hơn 60 năm! Dường như bon chen, chụp giựt chưa hẳn lúc nào cũng hay? Và chậm lụt, rề rà đâu phải lúc nào cũng về bét!
        Sau tất cả các nghi thức “trà đạo” dềnh dàng, chú Năm cho tôi biết tin vui: Hà Sơn gửi tặng tôi một mớ đô la. Ái chà, đô la! Mừng quính, tôi cảm ơn chú Năm rối rít! Trước tới nay Sơn cũng đã tặng quà tôi nhiều lần, nhưng chỉ là một lọ dầu gió, vài cục xà phòng, một hai chiếc áo thun rộng thùng thình đầy hình chim cò!. “Do đâu nay tự dưng nó cho ta nhiều tiền?”. Tôi suy đoán, ra sức động não để tìm nguyên nhân. “Chắc nó nhớ lại thời nhỏ đã từng chơi thân với ta, nhớ lại những ngày hai đứa cùng nhau đi bẫy chim, gài thỏ?... Hay nó nhớ cái ơn ta đã kèm cặp dạy nó học trong những tháng hè?”.
        “Đừng cảm ơn chú, hãy cảm ơn thằng Sơn, bởi chính là tiền của nó!... Có điều, chú muốn nói, bạc tiền của bản thân ta làm ra thì ta tiêu pha cách nào tùy ý. Nhưng đây là tiền bà con, của ơn nghĩa, ta nên dùng sao cho hay, cho đúng cách!”.
        Tôi ngồi ngay ngắn, hai tay để trên đùi, chăm chú nghe chú giáo huấn. Chú nhìn ra sân, nói chậm, rành mạch, tuồng như đã nghĩ kỹ, sắp xếp sẵn.
        “Cháu nên biết rằng, dù ở bên Tây, nhưng mỗi đồng bạc kiếm được người ta cũng phải đổ ra biết bao mồ hôi, sức lực. Chỉ có bọn gian trá, bất lương mới làm được tiền dễ dàng, đó là thứ tiền nổi trôi, hôi hám! Cháu nghe rõ chưa?”.
        Tôi “dạ” khá lớn.
        “Cháu là người hiểu biết, nên chú không nói nhiều, chỉ tóm tắt vào mấy điều sau đây:
        “Trước tiên – chú đằng hắng – Phải biết nhìn xa trông rộng, ăn hôm nay phải nghĩ đến ngày mai, làm được mười đồng thì chỉ nên ăn năm, còn năm cất vào tủ, đề phòng khi sảy chân, mất việc, đau ốm… đúng không?”.
        Tôi “dạ” sốt sắng.
        “Kế tiếp là – chú lại đằng hắng – luôn chăm chỉ, năng nổ. Để ý nhận biết ngay những hiện tượng, ngành nghề mới, tốt, xuất hiện trong xã hội. Vươn lên không mệt mỏi, đi trước mọi người, kịp thời chớp lấy những cơ hội mà duyên may đưa tới cho ta. Nên nhớ, may mắn, tốt đẹp chỉ đến với kẻ nào biết đón chờ nó… Cháu rõ chưa?”.
        Tôi dạ, dạ và gật liền mấy cái.
        “Sau nữa là, phải quan sát xung quanh, làm theo những cái tốt của thiên hạ, tránh vết xe đỗ của họ… Làm ăn, mọi việc đều tính kỹ, chu đáo, chi li, không chạy theo những thứ mình chưa nắm chắc, nhưng cũng không lờ đờ, chần chừ, nằm chờ sung rụng”.
        Chú lớn tiếng gọi Dung – con gái chú – bảo dọn bữa điểm tâm. Tôi trực nhận ra, tình cờ những điều chú vừa dạy tôi khá giống những khuyết điểm mà chú mắc phải ngày trước, ba tôi đã từng chỉ rõ!
        Tôi mau mắn, vâng dạ liền miệng! Còn biết làm sao bây giờ? Đây là tiếng nói của đồng tiền! Đừng tự ái, hãy kiên nhẫn! Sau 40 năm sống trên đời, tôi hiểu được nhiều điều về đức tính kiên nhẫn. Nếu sáng suốt, biết dùng nó đúng lúc, thì ta sẽ gặt hái được lắm lợi ích!... Tôi phải biết ơn Hà Sơn là đúng. Tôi nên “dạ” thật nổ, thật nhiều cũng đúng! Vì, dù chưa rõ tại sao Sơn cho mình nhiều tiền, nhưng trong đầu tôi mới nảy ra ý: nên cố gắng lấy lòng cha con chú Năm. Sắp tới đây có thể thằng Sơn lại nhớ đến ta, sẽ còn cho ta nhiều hơn nữa. Biết đâu đấy!
*
        Dung bưng ra một tô bún giò và hai trái chuối. Tô bún khá to, chắc mới mua ở chợ làng.
        “Con đi mời bác Hai, bác Ba, cô Ghi tối nay về đây để ba bàn chuyện”.
        “Chuyện gì vậy, ba?”
        “Đúng bảy giờ. Nói về việc cúng kính. Ý thằng Sơn là từ nay giỗ ông, bà nội sẽ tập trung lại, cúng tại nhà mình, không mạnh ai nấy giỗ như xưa giờ”.
        “Chuyện này đã nói năm ngoái. Ý hay, nhưng chắc khó làm đấy”.
        “Hôm trước nói phớt qua, nay gút lại… Ta gánh hết mọi chi phí. Các vị khỏi phải đem xôi, xách vịt gà bánh trái tới góp, trò bưng bê đó lạc hậu rồi”.
        “Dạ, con hiểu”
        “Cúng khác với nhậu nhẹt. Đó là lễ lạc, tập quán lâu đời. Giỗ chạp, tết tiết, cưới hỏi, anh em con cháu tề tựu về đông đủ mới bày tỏ được lòng tôn kính, sự biết trọng lễ nghĩa của mọi người. Và nó cho thấy, chúng ta biết cách gìn giữ sợi dây thân ái ràng buộc các thành viên của dòng tộc, phải vậy không?”. Chú Năm hỏi tôi.
        “Dạ, chí phải!”.
        Chú Năm cười, khen: “Mày nói giống hệt Hoài Linh!”.
        Chợt điện thoại đổ chuông. Cái điện thoại nằm trên bàn thờ. “Chuyện gì đây?”. Chú Năm cầm máy lên. Một giọng nữ trẻ. Cô ta hỏi, sáng thứ ba chú Năm tính đi Qui Nhơn ăn cưới bằng xe gì. Hai người nói qua lại mất non hai chục phút. Tôi chờ nhận tiền, và muốn về, nhưng dường như chú Năm đã quên mất tôi! Chú cũng thích nói điện thoại, như bọn trai trẻ. Việc nhỏ, đơn giản thế này lẽ ra chỉ cần nói chừng năm phút. Dễ thấy, chú cố ý kéo dài cuộc trò chuyện, và khá quan tâm đến bề mặt, phần nổi của sự việc.
        “Nên mướn xe bảy chỗ. Cậu tính rồi, đi gắn máy tốn xăng, lại mệt, bụi bặm… Đây ra đó hơn ba tiếng, đường đèo dốc quanh quẹo, không chạy nhanh được… Trưa ghé Tuy Hòa nghỉ, ăn uống… Với lại, xe bốn bánh lúc nào cũng oai hơn xe hai bánh! Sẵn dịp, ta ghé Phú Lâm thăm ông Bá, ổng nằm mẹp đã hơn hai tháng… Ờ, ghé chừng nửa giờ. Tất nhiên phải có quà. Vài hộp sữa, chục lon nước yến, đừng lo, để cậu mua… Nói là Qui Nhơn nhưng không phải ở phố, nó nằm tuốt luốt trên núi cao rừng sâu. Ờ, nếu về tối quá, mình sẽ tấp vô Qui Nhơn ngủ cho khỏe, vội chi… Thì ở khách sạn, khéo hỏi, chẳng lẽ ngủ ngoài chợ! Ôi, con ơi, sao cứ mở mồm là than thở tiền với bạc, có cậu đây, cậu bao tất!”. Chú Năm cười một tràng dài. Úp ống nghe xuống đùi, chú nói với tôi: “Con Thoa. Con ma le này ranh và kẹo lắm. Nó thuộc dạng người cúng tế sợ thần ăn hết chuối chè!”. Rồi chú lại nói điện thoại: “Hở, cái gì, cậu giống đại gia à? Da thịt gì con ơi! Cậu làm gì ra tiền, chỉ là ăn bám mấy đứa nhỏ, chúng nó cúp thì cậu ngáp thôi! Nhưng dù sao nay mình cũng có chút uy trong làng, nên phải chơi cho ngon, để chúng nó nể… Chúng nó là ai à? Là tất cả, là nhân dân! Con nên biết, bụng dạ con người hiểm hóc lắm, nếu ta giỏi hơn chúng, chúng ghét, ta kém thì chúng khinh bỉ, thế đấy!”.
        Ngồi mỏi lưng, nhưng điều tôi muốn biết: sao bỗng dưng Hà Sơn cho mình nhiều tiền, tôi vẫn không hỏi được. “Một mớ đô la” cứ vang lên trong tai tôi không ngớt.
        “Nhớ bảo thằng An, thằng Mãi bận đồ vest, mấy mụ thì áo dài. Đứa nào lùi xùi sẽ không được lên xe!”.
        Cứ thế, chú nói, và cười, rổn rảng, khoái trá!
        Xong vụ cưới hỏi, chú Năm quay sang tôi: “Giờ đây mày thấy chú còn thiếu thứ gì?”. Câu hỏi khó, tôi ngắc ngứ. “Nghĩ xem, chú thiếu gì?”. Thấy tôi bối rối, chú cười vang. Nghĩ mất mấy phút, tôi đáp: “Dạ, thiếu lời khen nồng nhiệt, sự ngưỡng mộ”. “Ngưỡng mộ là sao?”. “Dạ, là khen hết mức, hết lời”. Xoay tròn ly trà trong tay, chú Năm nói nhỏ: “Có lý, có lý. Mày nói y như thằng Sơn”. Chú ngồi im khá lâu. Chắc trí óc chú xoáy vào cái sự “ngưỡng mộ”! Rồi chú châm thuốc, kéo một hơi sâu, trầm ngâm nhìn ra sân, nói nhỏ, như nói cho mình nghe. Chú ôn lại chuyện xưa, ngày chú còn nhỏ.
        Thủa đó, bên quê vợ chú Năm có một phú nông đa tài. Ông này có ba vợ, mười sáu con, nhà cửa to rộng, ruộng vườn bao la. Nhà ông như dinh quan. Ruộng ông toàn loại thượng đẳng, phải cần đến mười tá điền mới canh tác xuể. Nhưng sự hưng thịnh ấy chỉ trụ được ba mươi năm… Chiến tranh nổ ra. Bom đạn đến, tàn phá chết chóc tai ương đến. Mãnh liệt hơn bão tố. Mức khốc hại của nó ngoài sức tưởng tượng của những đầu óc giàu trí tưởng tượng. Cuối năm 1970, nếu là người lạ, gặp ông người ta sẽ tưởng đây là một anh nhà quê nghèo mạt, thiếu ăn kinh niên. Ông cựu phú nông vẫn còn ba vợ, nhưng mỗi người ở một tỉnh. Vườn ruộng vẫn còn nguyên, tất nhiên, nhưng của người khác. Ông ta xuống cấp rõ. Có điều, do lòng nhân ái, hoặc do thói quen, dân làng không gọi ông là “thằng”. “Thế đấy. Sự đời như mưa bóng mây, gió thoảng hoa rơi, phải không nào?”. Chú Năm hỏi tôi. “Dạ, chí phải!”. “Cho nên, nếu chịu khó quan sát, nhìn ngắm kỹ, ta sẽ thấy có nhiều thứ đáng sợ… Ngày tháng qua mau, mọi thứ lần lượt già cỗi, ngã lăn, đổ sụp, trắng xác!... Quên, rất dễ bị quên! Làm sao để, sau khi ta chết, thân xác bị vùi lấp, nhưng vẫn còn lại một chút gì, chứng tỏ rằng ta đã từng có mặt trên đời”.
        Để lại chút tiếng tăm, “phải có danh gì” không mới. Nhiều người đã viết về ý đó. Tuy nhiên, như chú vừa nói, gió thoảng hoa rơi, tên tuổi sống thêm vài chục năm, hoặc hơn, rồi sau đó, thì sao?
        Chú Năm hút thuốc, chậm, thông thả. Chẳng có gì phải vội. Ung dung là cốt cách của giới trưởng giả, quí phái! “May quá!”. Chú Năm vỗ trán: “Chú mới nghĩ ra ý này, mày xem được chăng? Ta sẽ xây tặng làng một nhà mát, bên cạnh đình, làm nơi dọn cỗ bàn đãi bà con trong các dịp kỳ yên, cúng tế… Cùng lúc, ta đóng vài chục bộ bàn ghế mới, mua vài trăm tô chén mới. Thế là dân quan, ai nấy đều mê!”. “Dạ, rất hay, mấy thứ đó ai cũng thích”. Tôi khen, chú Năm sướng ra mặt. Nhưng, ít phút sau, chú lại đưa ra lý lẽ mới, bác bỏ các ý trước. “Đúng tốt, nhưng mấy món đó đều nhỏ, vụn vặt, chỉ chục năm đã cũ, hư hao, họ sẽ quên ta ngay!”. May sao, đúng lúc cần, óc tôi nảy ra sáng kiến: “Hay là chú xây cho làng ngôi chợ?”. “Chợ à?”. Chú Năm đứng bật lên, vỗ tay khen: “Giỏi, thằng này tài!... Một chợ mới, thay chỗ cái chợ tênh hênh giữa trời. Sẽ tốn kém nhiều đây, nhưng quá cần, quá đúng!”.
        Thế rồi, trong mười phút, chú vẽ ra ngôi chợ mơ ước, như người ngồi ôn lại một thần thoại rực rỡ. “Địa điểm có sẵn. Nó không cần to như chợ huyện, nhưng kiểu dáng phải mới và sang. Nó sẽ đẹp hơn chợ xã Vạn Khánh, Vạn Hưng. Ta sẽ nhờ thầy vẽ kiểu… Thầy gì vẽ? À, kiến trúc sư!... Nhà lồng xây cao ráo. Phân chia các khu đâu ra đấy, cá tôm không ngồi cạnh chè xôi bún bánh! Các dãy kệ hàng thịt cao hơn các kệ bán thức ăn chín. Bên này là khu tạp hóa, quần áo giày dép xoong chén. Bên kia là hàng rau đậu hoa quả. Chà, nhiều thứ, tức là sẽ mất khối tiền!... Chính mình sẽ đứng ra đốc thúc, trực tiếp theo dõi việc thi công. Không giao cho ai. Khó tìm ra người đáng tin cậy. Phải tránh cho được các hiện tượng bầm dập, cầu vừa khánh thành đã nứt nẻ, đường khai trương mới hai tháng đã xuống cấp!”. “Dạ, chú tính rất hay!”. Tôi khen, nhằm tăng thêm sự phấn khích cho chú, để lấy lòng. Có dịp ta nên ban tặng những lời khen ngợi, chẳng mất gì! Tôi nói: “Sẽ gắn tấm bảng đồng trước cổng, ghi tên người tài trợ, ngày xây”. “Đương nhiên phải vậy… Điều cốt lõi là, ngoài việc tiện nghi, đẹp, nó phải có tuổi thọ cao. Nếu làm chụp giựt, chỉ ít năm gió bão hất đổ sụp thì công cốc!”.
        Chú Năm cười lớn, ban phát cho tôi thêm mớ lời khen: “Mày tốt, sáng dạ lắm!”. Tôi vui, nhưng sốt ruột. Tôi muốn cầm những tờ giấy bạc, muốn về!. “Ta tính thử xem, sẽ tốn chừng bao nhiêu?”. Không rành chuyện xây cất, tôi vẫn đáp bừa: “Dạ, nhiều tiền đấy, chắc cỡ bảy tám trăm triệu”. Chú Năm ngồi lặng giây lát, có lẽ chú đang làm các con tính trong đầu. “Hơi nặng, nhưng biết làm sao bây giờ… Nếu sợ mất tiền thì đừng ôm đĩ, phải không?”. “Dạ, chí phải!”.
        Chú Năm lấy tiền đưa cho tôi, và chú nói ra điều tôi muốn biết: “Ý tưởng cần làm một cái gì để lưu lại tiếng thơm là của thằng Sơn. Nói thực, chú chưa nghĩ ra chuyện đó… Sơn nói, lâu nay ta tặng người này người nọ vài trăm ngàn vài triệu, nhẹ quá, xoàng, dễ bị quên, chẳng ai phục. Nay phải làm khác, chơi sang, vung mạnh tay, để có tiếng vang. Đây là đợt mở đầu, mày được bảy trăm đô. Bác Ba, cô Tư cũng bảy trăm, bác Hai tám trăm. Tháng sau tới lượt những vị khác. Ai cũng có phần, cứ thế, mỗi năm một lần! Cùng lúc, “ta sẽ tặng làng cái gì đó, ngon lành, đồ sộ, để mọi người đều sướng… ba nghĩ xem, nên tặng gì?”.
        Tôi đứng lên, đội mũ, chào chú Năm. Chú Năm không gật đầu, không nhìn tôi, nhưng tôi chẳng quan tâm. Tôi vui mừng. Đã lâu, cả chục năm qua, tôi mới gặp chuyện vui thế này. Không làm đổ mồ hôi mà có tiền. Sơn sẽ tiếp tục tặng nữa, đều đặn, để mua danh! Đẹp như mơ!... Làm ruộng thu nhập thấp, bòn mót từng đồng, muốn có chục triệu phải đổ bao nhiêu công sức, và còn phải trông chờ may mắn… Ra đường, tôi quên ngay chuyên xây chợ. Tôi nhớ lại ý cũ: chú Năm muốn người ta nhớ mình vài chục năm, trăm năm, rồi sau đó thì sao? Và nhớ câu nhận xét của ông Cảnh, người không thích chú Năm: “Thằng Sơn làm trò gì mà giàu thế, đúng là dốt nát làm nên lịch sử!”. Dốt, bởi học lực Sơn chỉ là lớp 4! Rồi nghĩ, lát nữa đây ta sẽ báo tin vui cho mụ “hiền thê” cọc cạch như thế nào. Nên khéo léo, kín đáo, nếu nói to người ta cười cho. Có lẽ nên giấu chi tiết mỗi năm Sơn cho tiền một lần. Còn sớm, lỡ nó không giữ lời thì sao? Thêm nữa, vui quá, mụ ta có thể bay bổng lên mây, khó tìm ./.


14 thg 10, 2011

THẦY XƯA


       Hè vừa qua tôi theo ba tôi đến thăm cụ Phan tại Ninh Hòa. Cụ Phan là thầy dạy ba tôi ngày trước. Nhà cụ ở Xóm Mới, nằm trên một con đường lớn nhưng khá vắng vẻ, thưa tiệm buôn, hàng quán.
       Trong ngôi nhà lớn, cổ lỗ này có nhiều thứ làm tôi ngạc nhiên. Trên cái sân rộng bày đầy kín cây kiểng. Trong nhà thì hai gian phòng thênh thang chứa toàn những giá, những kệ sách, sách chất chồng, như một thư viện nhỏ.
       Cụ Phan dáng người cao lớn, tráng kiện, râu tóc như mây trắng. Cụ đón tiếp chúng tôi niềm nở:
       “Mời vào, hai bạn, quí hóa quá”.
       Cụ và ba tôi ngồi trò chuyện ở bộ ghế bành giữa nhà. Tôi ngồi nơi cái bàn thấp cạnh cửa sổ với một dĩa quít và một chồng báo.
       Ở trong nhà nhưng cụ Phan vẫn đội mũ, chiếc mũ nồi cũ màu nâu nhạt. Ba tôi nói:
       “Con mê cái sân nhà thầy”.
       Cụ chủ nhà cười:
       “Có hơn 50 loại cây trong đó… Đây là công việc lao động có tính chất bắt buộc của tôi. Tôi ép mình đứng vào khuôn khổ. Phải làm để giữ cho chân tay nó khỏe. Chân tay mạnh thì đầu óc sáng, bác sĩ bảo thế… Bao lâu rồi chúng ta mới gặp nhau đây, anh Phú ?”.
       “Thưa thầy, hơn mười năm ạ”.
       “Hơn mười năm! Lâu hơn cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi!… Nào, mời anh uống nước, rồi anh kể tôi nghe chuyện xóm làng, vợ con, làm ăn ra sao”.
       Trong lúc ba tôi uống trà cụ Phan nói, lúc trước, khi mới nghỉ hưu, cụ sống với người con gái ở Phan Thiết, cách nay bốn năm chuyển về đây nương nhờ người trai út. Thật ra trồng cây cảnh đối với cụ, chỉ như một thú tiêu khiển, chẳng phải là công việc kiếm tiền. Cuộc sống ở đây bình lặng, nhàn nhã nhưng buồn… Cụ nhắc đến một số thầy cô cũ của ba tôi. Thầy Bá, cô Anh hiện ở trong Nam, chẳng biết ra sao. Thầy Điểm, thầy Nhơn đã qua đời. Cô Tuất được con bảo lãnh đi Úc năm ngoái. Thầy Đào nay làm chủ một hãng buôn lớn ở Phan Rang. Thầy Trữ đã lòa, phải ngồi một chỗ… Nghỉ một lúc, cụ nói, nhỏ giọng:
       “Mình còn sáng mắt nhưng chẳng hơn lòa bao nhiêu, cứ quanh quẩn ra vô trong cái nhà này… Học trò cũ của tôi, những người nay tôi còn gặp lại, đều tốt. Phải, không ai bê tha, chẳng ai xấu cả. Chắc họ nghĩ, nếu không làm được gì nổi bật thì cũng đừng hư hỏng… Năm 1998 có việc cần tôi phải đi Sài Gòn. Ở đó tình cờ tôi gặp anh Dương Thanh. Chắc Phú còn nhớ anh Thanh lớp phó giỏi văn, hát hay? Lẽ ra tôi phải ở trong đó vài tuần, đi lại tốn kém vất vả, nhưng nhờ Thanh giúp nên chỉ mấy hôm là xong việc… Kể ra có nhiều người quen cũng có lợi!”.
       Cụ cười rồi đứng dậy tới mở chiếc tủ gần chỗ tôi ngồi, lấy ra một gói giấy. Cái gói vuông vức bọc giấy bóng vàng.
       “Đây là cà phê Ban Mê Thuột, loại ngon, của cô Trúc Quỳnh gởi tặng. Anh Phú nhớ Trúc Quỳnh không? Cô bé như con chim sẻ ấy mà! Quỳnh đang làm hiệu trưởng một trường gì đó ở Biên Hòa. Không chỉ cà phê, còn có một bịch trà to và bốn chai rượu nữa. Chắc Quỳnh tưởng tôi đang bán tạp hóa!
       Cụ Phan cười xòa, tới đặt gói cà phê xuống trước mặt ba tôi.
       “Tôi xin tặng lại anh. Gần đây tôi chỉ uống trà. Cái quả này của tôi không còn vững lắm”.
       Cụ chỉ vào ngực trái của mình. Ba tôi nói:
       “Nay nếu gặp lại các bạn ấy chắc con cũng không nhận ra, ba mươi năm rồi”.
       Cụ Phan gật gù:
       “Phải, đã lâu quá. Chúng tôi đều cụ kỵ, các anh cũng bắt đầu ngã xế”.
       “Chỉ có ngôi trường là lâu già. Con thấy dường như nó vẫn thế, bất chấp tháng ngày”.
       “Vậy à? Ba bốn năm nay tôi không thăm nó…. Giờ mắt yếu, chân run, lười đi. Lắm khi trực nhớ là đã nhiều tháng mình không bước ra khỏi cổng nhà, giật mình”.
       Cụ Phan vỗ trán:
       “Vừa rồi tôi nói về cái lộc muộn của nghề dạy học, nhưng ngoài nó ra còn có món phẩm tước muộn nữa. Hồi trẻ tôi chẳng có chức vụ gì đáng kể, nhưng hiện giờ lại được đến hai: tổ trưởng lão ông của Khóm và hội phó của câu lạc bộ hoa kiểng. Oai như quan lớn!”.
       Hai thầy trò cùng cười vui vẻ. Chợt có tiếng chuông reo trước thềm. Vài phút sau một cô bé bê vào một xấp báo và mấy lá thư. Chỉ chồng báo, cụ Phan nói:
       “Đây là một phần trong lịch sinh hoạt thường ngày của tôi. Chăm sóc cây lá, họp hành với các bạn già, đọc sách báo… Đấy, toàn cảnh đoạn đường gần đến đích của tay đua kỳ cựu!”.
       Cụ nghiêng đầu, nheo mắt nhìn ba tôi:
       “Tôi nhớ anh là người khá văn, siêng đọc sách”.
       Cụ đứng lên tới bên giá sách.
       “Tôi sẽ tặng Phú cái này”.
       Tìm một lúc, cụ rút ra hai cuốn sách khá dày, bìa đẹp. Trở lại bàn, đặt sách lên trên gói cà phê, cụ Phan nói:
       “Tặng anh bộ Liêu Trai Chí Dị, để anh đọc lai rai, và nhớ tôi lâu lâu”.
       Ba tôi nâng hai cuốn sách lên, cám ơn thầy rối rít.
       “Điều đáng nói không phải là giá nó đắt hay rẻ, nhưng quý ở chỗ tôi giữ nó đã mấy mươi năm”.
       Ba tôi kể cho thầy cũ nghe công việc làm ăn của mình, những chuyện vui vui lạ lạ ở quê tôi, chuyện học hành của anh em chúng tôi. Cụ Phan trầm ngâm:
       “Mừng cho anh, thế là quý, tốt lắm rồi. Có lẽ ta cũng không nên đòi hỏi được cao hơn nữa. Tùy theo hoàn cảnh. Tùy theo trường hợp… Trên đời còn có biết bao người thiếu thốn, lận đận hơn ta. Cầu mong sao cho mọi người đều no đủ, và gặp toàn những điều tươi đẹp trong cuộc sống… Còn anh, riêng anh, thì xin nhớ thỉnh thoảng lại về đây chơi, thăm tôi, đừng để hơn mười năm mới tới một lần… Tôi không thể nhớ hết các anh chị, và dù nhớ thì tôi cũng không đi lại được… Đã ngoài bảy mươi, tôi nhận thấy rằng mình sống khá đủ, khá vuông tròn… Nếu như có một phép màu, có thể trẻ lại, bắt đầu bước vào đời một lần nữa thì tôi lại chọn nghề dạy học. Nghề này vừa sức tôi. Nó bình dị, trong sáng, có trước có sau, và vui”.
       Chúng tôi ra về. Đi được một quãng xa, tôi nói:
       “Mình chỉ tặng mấy trái cam, ông cụ tặng lại đủ thứ, mình lời!… Cụ Phan vui tính, cởi mở quá, ba nhỉ”.
       Ba tôi cười: “Hầu hết các thầy cô của ba đều như thế”.
       “Cụ nhặm lẹ, chu đáo, và hơi hơi buồn cười”.
       Ba tôi hỏi lại: “Buồn cười à? Có thể. Còn tùy cách nhìn của mỗi người”.
       Ngẫm nghĩ hồi lâu, ông tiếp: “Thời đó các cụ vừa là thầy vừa như những người anh cả, dạy dỗ tận tình, thương yêu học trò… Nay, lúc nào nhớ về các vị ba cũng thấy như nhớ chú bác, anh chị thân thuộc xa cách lâu năm… cảm nghĩ ấy thường khiến bụng dạ ta nao nao, bồi hồi”. ./.

ĐẰNG SAU NHỮNG ĐỨA CON


       Cha mẹ Nhâm muốn có cháu bồng nên thúc giục anh lập gia đình sớm. Nhâm cưới vợ năm hai mươi tuổi. Nhưng bảy năm trôi vút qua vợ chồng Nhâm vẫn chưa có con.
       Nhâm thấp người, nhỏ con nhưng khỏe mạnh, rắn rỏi. Bảy Là – Vợ Nhâm – cao lớn hơn chồng. Chị là nông dân nòi, sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời nối tiếp nhau sống trên đồng ruộng. Hai người đều sợ bị quy tội gây ra việc hiếm muộn. Bảy Là tìm đến hàng chục chùa, đền, am miếu, cúng lạy cầu con. Nhâm lui tới mòn dép ở các phòng khám, bệnh viện, bác sĩ, thầy lang, tây ta đủ dạng. Và cuối cùng Bảy Là chán nản, buông xuôi. Nhâm quay sang làm theo kinh nghiệm dân gian: bí mật đi “gieo giống” trên nhiều “loại đất”.  Cũng chính cái khâu này đã nói cho Nhâm biết, một cách hùng hồn, anh là hạt giống mốc hư!
       Nhâm buồn, chán đời, bê trễ trong việc làm ăn, tính nết thay đổi. Trước anh hiền khô, ai nói gì cũng cười, tối ngày cái cuốc nắm trong tay, trời chưa sáng đã có mặt ngoài đồng. Nay anh nói năng cục cằn, mặt mũi lúc nào cũng cau có, ưa gây gổ với mọi người, và lại thêm tật thích rượu… Chỉ một thời gian ngắn Nhâm đã chễm chệ ngồi vào cùng chiếu với băng nhậu Năm Giáo. Tên anh nằm trong sổ nợ của tất cả quán trong làng và nhiều quán lớn ở chợ xã. Năm, sáu ngày trong một tuần người ta thấy Nhâm ôm chai nước cay khư khư trước ngực, say mèm, đi nghiêng ngả, xiêu vẹo trên đường như người bị bịt mắt. Anh nói với các bạn: “Ông trời chỉ con đường này cho ta thì ta phải bước đúng trên đó, tiến về phía trước, tới đâu mặc xác!”.
       Một đêm trăng Nhâm tắm sau vườn, Bảy Là ra xách nước. Nhâm bảo:
       - Bồ yêu, tắm đi, anh xách nước cho.
       - Tử tế gớm, nhưng đây tự làm cũng được – Bảy Là cười.
       - Tắm kỹ, xối mạnh cho trôi hết đau buồn.
       Nghe cách nói là lạ, Bảy Là tới gần nhìn sát vào mặt chồng.
       - Nói hay quá, như kịch vậy, buồn à?
       - Buồn lắm, chết được! – Nhâm ngồi xuống thành hồ bên cạnh giếng – Ngồi đây, anh nói cho nghe.
       Trời quang, trăng sáng tỏ, có thể nhìn thấy hàng chuối tận cuối vườn.
       - Anh không phải thứ người ồn ào, hời hợt như bọn Năm Giáo… Em biết đấy, anh khổ vì chuyện con cái của tụi mình.
       - Nghĩ ngợi làm gì cho đau đầu, thong thả rồi sẽ có!
       - Không thể có, em à, anh biết. Lúc có thì tám tháng mười ngày đã có thể đón mừng một chú nhóc! Chúng mình sống với nhau lâu quá rồi… Đừng tránh né sự thật, không nên lừa dối nhau.
       - Thôi, để em xách nước, bỏ qua chuyện đó đi.
       Nhâm nắm tay vợ, hôn liền mấy cái.
       - Anh thương em… chuyện này do lỗi của anh.
       Bảy Là đẩy Nhâm ra.
       - Em đi đây, anh đừng nói nữa.
       Nhưng Nhâm vẫn không buông tay vợ.
       - Đâu phải chuyện đùa. Ba má mong cháu đỏ mắt, em cũng muốn con, nhưng anh…
       Bảy Là ôm đầu Nhâm vào ngực mình, vỗ nhè nhẹ, nói như ông đánh xe nựng con ngựa.
       - Im, im nào! Bữa nay sao ăn nói lung tung thế!
       - Anh không con, nhưng em vẫn ở với anh chớ? – Nhâm nghẹn ngào, như sắp khóc. Bảy Là bối rối.
       - Đã biểu đừng nói nữa!
       Nhâm nói đứt quãng:
       - Đã quen có em, nay anh không thể tưởng tượng ra cảnh sống mà thiếu em bên cạnh. Anh thương em… Em đừng bỏ anh… Anh biết rằng em sẽ thương người khác, sẽ bước qua một con đường khác!
       Bảy Là vò tóc chồng, cười nhỏ, nói bằng giọng đùa cợt:
       - Lớn sù còn làm nũng, không mắc cỡ sao?… Nếu có rẽ sang con đường nào khác thì em cũng sẽ dẫn anh theo, em hứa!
       Sau vài phút nín lặng, Nhâm nói:
       - Anh muốn tụi mình có hai con, một trai một gái.
       - Em chỉ cần một, trai gái chi cũng được.
       - Anh sẽ đặt tên bé gái là Trúc Đào. Bé trai để em đặt.
       Bảy Là lại cười. Chị vui tính, thích đùa, nhưng trong cuộc sống lại gặp nhiều chuyện buồn.
       - Tên không quan trọng, anh có thể đặt cho tất cả.
       Hồi lâu, anh chị không nói gì.
       - Con của mình… Em muốn có một đứa để sáng chiều chở nó đi học.
       - Anh mong hai đứa đều giống em, chỉ giống em… anh chẳng có điểm nào đẹp cả.
       - Anh nịnh, em như cây cau!… Chị Thủy thường nói, chị chán cái việc đưa đón bọn trẻ đi học, coi đó như một gánh nặng. Còn em, em lại thích việc ấy.
       - Anh đã nghĩ rồi, nghĩ rất chín, là em có thể có con, nhưng vẫn ở với anh.
       - Anh sao em vậy, mình không thể cãi trời. Chúng ta sẽ sống với nhau tới chết!
       Nhâm rúc đầu vào ngực vợ.
       - Được rồi, em tốt lắm… Nghe này, em có thể đi lại với bất cứ ai để có con… như thế nghe chưa… đó sẽ là con của chúng ta.
*
       B
ảy Là không để ý lắm đến chuyện “tìm con” của Nhâm nói, nhưng chỉ hai tuần sau, như có một bàn tay phù phép nào đó xếp đặt, chị chạm trán Chín Chu, một chuyên gia “cho con”. Trong làng Chu nổi tiếng với hai đặc điểm: giàu có và máu trăng hoa. Tính tình anh ta dễ chịu, rộng rãi, thường giúp đỡ mọi người. Hàng xóm ai túng thiếu chạy đến Chín Chu sẵn sàng đón tiếp, cho mượn tiền, không hơn thiệt, không tính lời. Riêng đối với phụ nữ Chu càng tỏ ra hào phóng. Anh ta dùng tiền bạc làm mồi câu, mua chuộc lòng người. Gần như ai cũng biết Chu là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Không có con mẹ nhà nghèo nào chê tiền!” Gặp ai quen anh ta cũng nói đến cái ý đó một cách thích thú, như truyền bá một tư tưởng lớn… Trong khắp ba xã quanh vùng, Chu có hàng chục nhân tình với sáu, bảy đứa con rơi. Mọi người biết rõ chuyện này, vợ Chu cũng biết, nhưng chị ta yếu ớt, đau bệnh rề rề nên làm ngơ… Qua miệng mấy bà làm thuê, người ta loan ra nhiều giai thoại về chuyện lăng nhăng của Chín Chu. Bữa nọ cô vợ trách móc: “Ông cứ đem tiền nuôi mấy con quỷ cái, thiên hạ cười xấu mặt.” Chu hỏi: “Nuôi ai, ông ngu lắm à?… Mày thấy, ông làm ra tiền, mà những đứa làm được nhiều tiền không bao giờ ngu.” – “Nuôi ai thì ông biết, không che được mắt làng xã đâu.” Chu nổi quạu: “Có gì phải che giấu! Tiền của ông, ông xài, đây không cướp giựt của cha mẹ đứa nào!” – “Thấy chướng thì họ nói, vì trời cho người ta cái miệng và hai mắt, cấm sao được!” Chu cười gằn: “Vậy là mày muốn gây sự. Ờ, nói cho bớt tức, nhưng nên nhớ, ông không lấy tiền của cha mẹ mày!” chị vợ thở ra: “Chắc ông nghĩ hễ có tiền là làm gì cũng được, muốn nói sao thì nói, hèn chi ông tuyên bố rùm lên: hết thảy bọn đàn bà nghèo đều mê tiền!” Chu quát: “Đúng, chính ông rao thế đấy!… Bọn chó chết nhỏ mọn đê tiện lúc nào cũng ganh tị, bêu xấu những kẻ giỏi hơn chúng… còn lũ đàn bà động đực, chúng khoái ông, ông không hãm hiếp đứa nào!” – Và chuyện khác: một hôm vợ Chu bắt gặp một bức thư với nét chữ phụ nữ bay bướm, trong túi áo Chu: “Anh Chín yêu thương – Sau khi suy nghĩ hai ngày bạc tóc em viết thư này cho anh. Em không muốn làm anh bận tâm, phiền lòng. Nhưng đã ba hôm rồi bé Phú Cường ngả bịnh. Nó nằm bẹp, lúc nóng lúc lạnh, chẳng rõ bịnh gì… Anh vẫn thường nói, anh sống có tình nghĩa, thủy chung. Bé Phú Cường là kết quả mối tình mặn nồng của hai ta. Đối với em nó là vàng ngọc, khí trời, lẽ sống… Em nhớ, anh từng nói nhiều lần, anh không phải con gà cồ, bỏ mặc bầy con cho gà mái, vô trách nhiệm. Anh cam kết sẽ chăm sóc, bảo bọc con suốt đời… Anh mau đến thăm Phú Cường – Em, người yêu anh trong kiếp này,  và kiếp sau.” chị vợ hỏi: “Thư này của ai?” Chu ú ớ. “Ghê gớm, ngọt như đường hóa học! Tình tứ, tươi mát như trai gái mười bảy!” chị ta nghiến răng, mắt long lên. “Ông nói đi, chuyện này thế nào?” Chu cà lăm: “À, nó chỉ là… chỉ là… coi như chuyện qua đường, đâu phải vợ chồng, con cái gì!” – “Rành rành một thằng nhỏ, còn nói chẳng phải con, vậy là chuột, ếch hay gà, heo?… Nó mấy tuổi?” – “Hình như bốn” – “Ông có mấy đứa loại này?” Chu đáp, nhỏ nhẹ: “Làm gì có mấy đứa… toàn chuyện vui vẻ, văn nghệ, thoáng qua rồi bỏ.” Chị đàn bà cười sắc lạnh. “Hỏi cho vui, tôi biết nhiều hơn ông tưởng! Đây là Kim Phượng, bán trái cây ở chợ Giã, ngồi gần khu giày dép… Tôi sợ một ngày nào đó người ta sẽ chém bay đầu, chặt đứt chân ông! Tôi cũng sợ sau này tôi và mấy đứa nhỏ không còn nhà cửa để ở, ruộng vườn để cày cấy, tiền bạc để học hành… Gieo gì gặt nấy… Bao năm rồi ông đi gieo gai, gieo cỏ.”
*
       B
uổi sáng, khoảng 8 giờ, Bảy Là đến nhà Chín Chu mua lúa giống. Nhà có vẻ yên vắng. Hai bé gái – con Chu – chơi nhảy dây gần cổng. Chu tưới cây kiểng trong sân. Vào giờ này chắc những người khác ra đồng hoặc đi chợ.
       Chu mời khách vào nhà dưới, ngôi nhà dài nửa là phòng khách nửa làm kho chứa lúa. Nghe Bảy Là xin mua giống, Chu nói không có gì trở ngại, năm phút xong ngay, xóm giềng giúp nhau là nghĩa vụ. Anh ta pha trà và bưng ra một dĩa bánh ngọt mời khách. Rồi anh ta rề rà nói chuyện thời tiết nắng mưa, chuyện đồng áng gieo cấy, thật cặn kẽ, dài dòng. Bảy Là nôn nóng nhưng không dám giục, ngại mất lòng.
       - Lâu lắm mới gặp em. Nay em đen, da hơi sậm, nhưng vẫn trẻ – Chu  cười hì hì.
       - Dạ, làm sao trắng được, anh Chín, tối ngày cuốc cuốc gánh gánh, phơi mặt ngoài đồng.
       - Nhưng Bảy vẫn trẻ, cốt yếu ở chỗ đó! Trẻ và đẹp, chớ già úa là hết, xong đời!
       - Loại giống này ra sao, anh Chín? - Bảy Là hỏi đưa đẩy.
       - Số một. Anh đã làm hai vụ, gieo một giạ gặt mười tám giạ. Bảy ăn bánh đi, để anh vô đong lúa.
       Chu xách bao đi ra sau. Bảy Là nhìn ngắm một lượt khắp phòng. Nơi đây cái gì cũng mới và đẹp. Tủ bàn, máy truyền hình, chiếc xe Nhật, cái đi văng… Chu ôm bao lúa ra để bên cửa rồi gọi con vào sai bảo gì đó. Hai đứa bé vâng dạ, dắt xe ra chở nhau đi.
       - Xong rồi, bốn giạ, anh đong đầy vun.
       - Không, ba giạ thôi, anh Chín.
       - Cứ lấy cả đi, gieo cho dày dặn.
       - Ba giạ là vừa, với lại em chỉ đem tiền mua ba giạ.
       - Không sao, cho em nợ – Anh ta tới ngồi bên Bảy Là – Thôi, coi như anh thêm chút ít, em đem về cho gà vịt nó ăn.
       Chu nhìn Bảy Là chăm chăm, cái nhìn rất lạ. “Chắc vua ong bướm muốn trổ tài đây.” Bảy Là sực nhớ câu nói của chồng: “Em đi lại tự do với bất cứ ai để có con”, bất giác chị rùng mình.
       - Bầy gà nhà em nhìn sướng mắt quá.
       - Anh Chín thấy à?
       - Anh mới đi ngang qua hôm kia. Lúc đó Bảy quét sân, ông già cho gà ăn gần bếp, Nhâm Lép thì dựng cây ăng ten.
       Bảy Là đứng lên, chị thấy cần phải về ngay. Trong phút chốc chị bỗng nhớ đến những điều người ta thường nói về Chu. Loại chuyện đó khá nhiều, ai cũng biết: mấy mối tình nhăng nhít chớp nhoáng. Những đứa con rơi. Các trò tán tỉnh, gạ gẫm. Thứ giọng điệu ngọt ngào đầu môi. Những đồng tiền hấp dẫn, đầy ma lực.
       - Thôi, em về.
       - Khoan đã, chơi chút nữa, vội gì.
       - Chị Chín đi chợ? – Bảy Là lúng túng, Chị chẳng hiểu vì sao mình lại hỏi thế.
       - Bà ấy đi Mỹ ăn đám cưới thằng cháu… Mỹ Đồng ấy mà!
       - Anh vui tánh quá.
       Chín Chu tỏ ra rất hào hứng.
       - Xưa giờ anh vẫn vậy. Đời mà em! Sống tốt với nhau, thương yêu nhau ta sẽ thấy việc gì cũng nhẹ nhàng, và ta phấn chấn, khỏe, trẻ lâu… Hơn nữa, thử nghĩ xem, bủn xỉn, cáu kỉnh, gắt gỏng để làm gì, được gì?… Lâu nay em sống vui vẻ không?
       - Không vui, cũng chẳng buồn – Bảy Là ngẫm nghĩ giây lát – nhưng lo lắng thì có thừa.
       - Chuyện con cái chớ gì? Đó là lỗi của Nhâm Lép, chắc chắn thế… Em khỏe mạnh, tươi tắn thế này… Nhưng đừng lo, em còn trẻ, ngày rộng tháng dài.
       Chu nhìn xoáy vào mắt Bảy Là, cái nhìn bốc lửa. Bảy Là lại nhớ câu nói của Nhâm đêm trăng nọ, và chị rùng mình.
       - Vô trong kia anh cho Bảy xem một thứ nếp giống mới – Chu nắm tay Bảy Là – Bữa rằm anh ra Vạn Phước mua được mấy bao nếp tốt. Loại này mới toanh, năng suất cao, quanh đây chưa ai có… Em vào xem, nếu thích thì lấy vài giạ.
       Không đợi Bảy Là đồng ý, Chín Chu kéo chị về phía một căn phòng nhỏ gần đó. “Không, tôi về! Tôi không cần!” Bảy Là luống cuống, hốt hoảng. Chu lôi từ túi quần ra một nắm tiền lớn, giúi vào tay chị đàn bà.
       - Em cầm lấy… đây là tiền…
       - Coi kìa! Tiền gì thế này? – Bảy Là kinh ngạc.
       - Anh tặng em – Chín Chu lắp bắp – Em cầm, đừng ngại… anh muốn nói…
       Bảy Là giấu hai tay ra sau lưng.
       - Sao lại tặng, cái ông này!
       - Nghe đây, Bảy, anh thương em, thực bụng thương em… Tối nay, 8 giờ, em ra chỗ cây bàng sau trạm y tế, anh đợi em ở đó… chúng ta nói chuyện.
       Bảy Là run sợ, chị bước lùi mấy bước. Chu theo sát, nói như dỗ dành:
       - Anh yêu thương em từ lâu. Em đẹp, hiền hậu. Anh sẽ cho em thật nhiều tiền, để em bớt khổ… Đồng tiền là xương cốt của đời. Không có nó thì dù đẹp đến mấy, giỏi tới đâu cũng chỉ như kẻ câm điếc… Em hãy quên thằng Nhâm Lép đi. Nó gà mái, ngốc nghếch, bạc nhược… Quên nó đi. Nó chỉ làm em khổ suốt đời thôi.
       Bảy Là bước lùi ra cửa lớn, xua tay.
       - Anh Nhâm có thể là con gà mờ, nhưng chắc chắn anh ấy không khi nào muốn làm khổ tôi.
       - Em hãy nghe…
       - Anh cất đi. Tiền bạc ai cũng cần, nhưng phải là tiền chính đáng… Tôi không phải hạng người bơm xơm, lông bông như anh nghĩ đâu… Tôi không biết hẹn hò để đi đêm nói chuyện. Tôi không muốn “nói chuyện” kiểu đó!
       Chị chạy ra sân, tóm lấy gióng gánh quảy về, bỏ lại đôi bao, quên thóc quên giống, nhẹ tênh như lúc đến ./.

TẢN VĂN


VỀ   GIÀ

       Sống sáu, bảy mươi năm trên đời sao anh không thấy bói toán, bùa chú là khối ung bướu mê tín khổng lồ?
       Sắp đến ngày xuống lỗ, anh vẫn còn khổ sở, hì hục làm thơ ca ngợi mấy thứ tình yêu nhạt phèo, hời hợt.
       Còn thật ít thời gian để sống, anh cứ nhẫn nại luồn cúi, xoay tròn quanh cái vòng lợi danh bạc tiền bọt bèo phù phiếm.
       Với đôi mắt cận thị của mình, tôi nhìn thấy rõ kẻ đốn mạt, dù hắn có mặc áo vàng ròng, hay tô vẽ hàng tấn phấn son lên mặt.
       Bằng khối óc chim sẻ bẩm sinh, tôi nghĩ ra cách thoát khỏi mối dây ràng buộc của những đam mê lớn nhỏ, dứt bỏ thói bon chen, để thân thể mình nhe nhõm.
       Với tâm hồn nhỏ hẹp khô khan, tôi sống bằng năng lực và trí óc của mình, không tin vào các thế lực siêu nhiên xa vời, mông muội; tôi sống nhẹ như mây, thảnh thơi như sóng.
       Hãy thăng hoa, sáng lóa, phiêu du cùng mây xa sóng biếc.


CÒN   TỐT
       Lâu lâu, vì một lý do bất khả kháng nào đó, ta cũng nịnh bợ, a dua, hèn hạ tí chút. Sau đó, ôn lại, ta giật mình, ngượng thầm – Rõ ràng ta biết xấu hổ.
       Vào thời buổi khó khăn trong quá khứ, cũng có lúc ta lừa anh này một li, gạt chị kia một tẹo. Rồi sau đó, nghĩ lại, ta thấy lo lắng, hối hận – Vậy là ta vẫn còn lương tâm.
       Thỉnh thoảng, do những yêu cầu bức bách nhất thời, ta uốn lưỡi tuyên bố này kia, đại ngôn, láo xược, ba hoa. Đêm nằm, nhớ lại, ta xốn xang bứt rứt, và nghĩ: sẽ nhất quyết từ bỏ tật xấu này – Ấy là ta biết phục thiện.
       Biết liêm sỉ, có lương tâm, mắt phân biệt được đen trắng, như thế đáng mừng hay không?


TÁC  PHẨM
       Con người tạo ra thần thánh, Phật Chúa để làm chỗ dựa, trấn an mình lúc nguy khốn; đặt ra tình yêu để nhìn ngắm, làm dáng, ca tụng; đặt ra hàng ngàn luật lệ, quy định để trói buộc, răn đe nhau.
       Năm tháng qua đi, thời gian phủ trùm lên những thứ đó màn sương dày hư ảo.
       Đến một ngày Con người quỳ mọp xuống khóc lóc, cầu xin những Chúa Phật, những tượng đất tượng gỗ hãy nâng đỡ, cứu vớt, che chở mình. Và vô số người rên rỉ, đau khổ, tự vẫn bởi tình duyên bẽ bàng trắc trở. Và người ta ngã gục, kêu than, chết vùi giập trong nhà tù, trên pháp trường phép tắc.
       Khôn ngoan, đáng thương, kỳ quái biết bao, Con người!
CHÚC   LÀNH
       Hắn chê bai ruộng đồng bẩn thỉu, làng quê đơn điệu tẻ nhạt xấu xí, và luôn miệng bình phẩm hàng xóm láng giềng thô kệch, ngu đần – Đừng mong chờ hắn yêu quê hương.
       Hắn quay mặt đi khi chú bác anh em đói khổ, quen thói hành hung vợ con như đánh kẻ thù – Không thể nào hắn yêu đồng bào.
       Hắn thờ ơ lúc chứng kiến cảnh người khác gặp hoạn nạn, dửng dưng trước sự mất mát chết chóc do thiên tai gây ra cho bà con xung quanh – Chắc khó trông cậy vào lòng nhân của hắn.
       Có lẽ hắn sẽ đổi tính, nghĩ lại, khi xe hắn lao đầu xuống vực; sẽ nao núng, hồi tâm lúc thần hỏa xộc vào thăm hắn tận giường.
       Thế nhưng, như những con người có lòng bao dung, nhân hậu, ta cầu mong cho hắn an lành.


CHÍNH   TRỊ
       Chính trị là gã Hitler tính tình đồng bóng, học vấn làng nhàng được dân Đức “giống nòi thượng đẳng” phục tùng, tôn kính, ngoác mồm tung hô: Quốc trưởng muôn năm!(1)
       Chính trị là Ngô Đình Diệm hôm trước còn được ca tụng chí sĩ, cứu tinh, được gọi bằng cụ bằng ngài; hôm sau đã chết gục trong lòng xe tăng, số phận như gắn chặt vào lời nguyền bất đắc kỳ tử.(2)
       Chính trị là đầu năm 1966 người dân nước Y còn chưa biết WK là ai, đến giữa năm ông ta đã thành Thủ tướng.(3)
       Làm chính trị và làm người, những điểm nào giống nhau? Có điểm nào đối nghịch nhau?
      

HOẠT   CẢNH
       Cô gái khóc sướt mướt, kể lể rằng vì cha đau mẹ yếu, vì đàn em sáu đứa nhỏ dại, vì tay trắng không có nghề nghiệp, nên phải liều nhắm mắt đưa chân làm gái bao, gái gọi, một kiểu mại dâm “bán chuyên nghiệp”.
       Anh tài xế khai như kể chuyện, đổ hết tội cho đám đàn em. Anh nói, đã hai mươi năm cầm tay lái, lúc nào anh cũng tỉnh táo, chấp hành tốt luật lệ giao thông, tôn trọng sinh mạng con người. Nhưng lần này do mấy gã em quỷ quái rủ rê, chèo kéo nên anh buông thả, mất cảnh giác, uống quá chén, gây ra tai nạn thảm khốc.
       Ông giám đốc cúi đầu hối lỗi. Ông cho biết, mình chỉ được học tới lớp ba, nhưng do cấp trên yêu thương chỉ định, nên phải đứng ra cáng  đáng một nhiệm vụ nặng nề, quá sức; bởi thế ông không nắm vững nghiệp vụ, hiểu biết lơ mơ chuyện giao dịch thương trường, để đám em út giựt dây, qua mặt; dẫn đến các sai phạm nghiêm trọng, khiến Nhà nước mất toi hàng chục tỷ đồng.
       Chị thủ quỹ thực thà thú nhận: chị biết thụt két là làm bậy, nhưng do chồng mắc bệnh hiểm nghèo cần đến mấy chục triệu đồng chạy chữa; do mẹ chị và mẹ chồng mất sức lao động, đã thành hai cái máy nhai; và chị còn có bầy con đông đảo, ăn tiêu học hành vô cùng tốn kém; trong lúc lương chị ba cọc ba đồng, trang trải chẳng thấm vào đâu. Chị biết mình sắp bước vào ngõ hẻm tối tăm, nhưng cũng bước đại, tới đâu hay đó.
       Có những hoàn cảnh bi đát thật, nhưng cũng có nhiều trường hợp giả mạo. Có người sảy chân, thất cơ lỡ vận, nhưng cũng có lắm kẻ cố ý làn càn, rắp tâm mưu đồ đen tối. Tất cả tạo ra một mớ bòng bong, một sân khấu hỗn tạp nhốn nháo… Chứng kiến những vụ đó, người bình thường chán nản: “sao lắm người tồi tệ, xâu xa đến thế!” Nhưng nhà hiền triết thản nhiên, cười khì: “nếu không có vậy thì chẳng phải thế giới con người; những hoạt cảnh ấy sinh động, thú vị, và hài hước!”.


CÁM  ƠN
       Gã không muốn sống ở Afghanistan vì sợ mỗi ngày phải quỳ cầu nguyện 5 lần, và có thể bị chặt tay khi mắc tội trộm cắp.
       Gã không thích lối sống chụp giựt, hối hả kiểu công nghiệp của Mỹ, như vừa lái xe vừa ăn điểm tâm khi tới sở làm, như vừa bước vội trên hè phố vừa đọc báo.
       Gã cũng chẳng mong ước làm công dân của Đức, Canada, Pháp, Anh… bởi gã chưa chuẩn bị tinh thần để hòa nhập theo nếp sống Âu Mỹ; và do gã thuộc loại người “hướng nội”, thường chìm đắm suy tư, ưa chuộng văn chương thơ phú, không có chút năng khiếu khoa học, kỹ thuật.
       Gã yên tâm khi thấy không ai có thể đẩy bật mình ra khỏi quê nhà Việt Nam, nơi gã thường ung dung thưởng thức ly cà phê trong hai tiếng đồng hồ, hoặc nhởn nhơ tham dự các cuộc đá gà đánh cờ tướng giải trí kéo rê từ sáng đến tối.
       Gã nghĩ: “chính Thượng đế ban cho ta dòng máu, màu da và gia đình. Cảm tạ Người ngàn lần, ta vô cùng may mắn.” Gã cảm thấy hạnh phúc tột đỉnh, sung sướng đến phát điên.


QUÊ   HƯƠNG
       Khánh Hòa, quê tôi đấy.
       Nhưng nó cũng là quê của những tên đê tiện, du đãng, ma cô, giết người, trộm cướp, lừa đảo, hiếp dâm, tham ô, đàng điếm, gian trá, đần độn, điên khùng…
       Tôi yêu nó lắm!


LẮM   MỒM
       Hắn nói: “Đời đẹp rực rỡ, sơn thủy hữu tình thế kia, tiếc ta không có mười mắt để nhìn – của ngon vật lạ, sơn hào hải vị đầy ắp thế kia, tiếc ta không có mười miệng để ăn – cuộc sống tươi đẹp, trong sáng, ngát hương, sao ngày chẳng dài ra 48 tiếng để ta thỏa sức hưởng thụ. Ôi, lão Trời thiển cận, nghểnh ngảng, lười nhác quá thể”!
       Cha hắn phàn nàn: “Mấy mươi năm qua lận đận, công việc làm ăn cứ liên tục vấp váp, trầy trật, xui rủi – phước lộc quay lưng với ta – 60 năm cắm đầu cày cuốc, chui rúc ở xó làng – từ ấu thơ đến bạc đầu làm chẳng ngơi tay – Phật Chúa bất công, thần thánh đui mù. Thử hỏi sống thọ làm quái gì!”.
       Thiên hạ nói: trăm người trăm tánh, trăm bụng. Cha con hắn hai người hai bụng. Có lẽ nên xin Thượng đế ban cho gia đình hắn hai ông Trời xuề xòa dễ chịu!


NHÌN  ĐỜI
       Anh thanh niên nói: tỉ phú là người thông minh, cần cù, khôn ngoan. Người lớn tuổi nói: tỉ phú là người lanh lợi, chịu khó, sáng trí và may mắn.
       Thấy các cô gái làng ngồi chễm chệ trong quán tranh se lông mặt, sửa móng chân, ông già phê phán: “Chiều lội xuống ruộng mà bây giờ trang điểm… bầm giập, ngớ ngẩn hết sức!” Anh thanh niên bênh vực: “Chúng nó trẻ trung, lãng mạn, yêu đời. Chúng đem làn gió mát đến cho xóm làng. Lẽ ra ở đây nên có ba quán như thế, bố già ơi!”
       Tình cờ gặp Tina Ut Le từ Canada mới về, ông già trố mắt nhìn. Mới ngày nào con bé Lê Thị Út quần áo xốc xếch, mặt mũi buồn xo, dáng đi tất bật vất vả… nay trông nó sạch bong, trắng phau, chẳng còn sót lại chút nét quê nào. Cái gì làm nó đổi thay đến thế? Ông tự hỏi, và trả lời: chắc đồng tiền. Anh thanh niên nói: “Ngộ quá. Cô ta đổi mới hoàn toàn hay chỉ thay cái vỏ?… Úm ba la, Thị Út biến thành Tina!”.
       Hai người loay hoay đánh giá đồng tiền. Anh thanh niên nêu một định nghĩa: “Tiền bạc là thứ đồ vật kỳ quặc, khó hiểu. Nó không tuổi tác, co giãn được, biết phù phép, dễ bốc hơi.” Ông già gật gù, nói như mớ ngủ: “Có lẽ thế, chắc thế.” ./.


(1) Hitler bị đuổi ra khỏi trường năm 15 tuổi vì học kém.
   (“Mao, tấn thảm kịch của Đảng CS Trung Quốc” NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội 1985 – Tập 5, tr.257
(2)  Ngô Đình Diệm, Cẩn, Khôi và con trai (không rõ tên), Nhu và con trai (Ngô Đình Trác) đều chết bất đắc kỳ tử.
(3)  “Putin, ông là ai?” Tuổi trẻ Chủ nhật ngày 2-4-2000 (trang 10) – Nước Y: Nga – WK: Putin – 1966 : 1999