31 thg 8, 2011

TÌM MỘT LỐI RA

Hai người ngồi uống rượu dưới giàn bông giấy.

Đôn Cận đến sớm, lúc tám giờ sáng, xách theo con vịt. Trọng khoái chí, lớn tiếng đốc thúc Kim Hoa chạy kiếm rượu và mồi đưa cay. Phải “chạy” dài vì nhà không còn tiền, chẳng có đến chục ngàn bạc. Nhưng biết tới đâu bây giờ. Những nơi quen lớn Kim Hoa đều đã đến thăm, vay mượn vài lần. Số nợ đã cao lút đầu. “Rồi lấy gì để trả đây. Ta còn mặt mũi nào đến các nhà quen hỏi mượn nữa”, Kim Hoa nói với mình.

Nhưng Kim Hoa vẫn phải đi kiếm rượu, dù khi dắt xe ra ngõ chị vẫn chưa biết nên đi đâu. Hoa nghe người bải hoải, hai mắt nóng, chân tay rũ liệt như vừa làm một việc cực nặng… Trọng uống quá nhiều, nay với bạn này, mai bạn khác, tuần nào cũng dự hai, ba “trận” lớn. Bốn ngày vừa qua thì uống liên tiếp, chẳng nghỉ ngày nào.

Đạp xe vòng quanh ngoài phố, từ bến xe xuống chợ, rồi từ chợ lên bến xe – nửa vòng thị trấn – cuối cùng Kim Hoa lại tấp vào nhà Xuân Dung. “Chớ biết đi đâu nữa, khổ thân tôi!” Đây là lần thứ ba trong tháng, Kim Hoa tới cầu viện nhà này. Chỉ là chỗ bạn bè, không bà con cật ruột gì, nhưng Xuân Dung rất thương quý Kim Hoa, như chị em. “Vay mượn, khốn khổ quá chừng. Nhưng nếu vay để làm ăn thì còn coi được… Cứ thế này mãi rồi sẽ tới đâu?” Kim Hoa lại độc thoại.

Chỉ có Phước – chồng Xuân Dung – ở nhà. Kim Hoa ấp úng trình bày lý do “thăm hỏi” và ngạc nhiên khi thấy Phước sốt sắng lấy cho mượn ngay một trăm ngàn đồng, đúng như mong muốn của chị. Phước mở tủ lạnh bê ra một đĩa chôm chôm, nho, mời Kim Hoa. Phước nhìn chị bằng ánh mắt trìu mến, mơn vờn. “Xưa nay Phước không nhìn mình như vậy”. Kim Hoa lấy một chùm nho, tới đứng bên cửa sổ. Dường như Phước nói nhiều, cười to hơn mọi lần. Cục hầu ở cổ anh ta nhảy như quả lắc đồng hồ. Sao anh ta vui…

Tối qua, Trọng tổng kết các khoản cần chi dùng: “Mình cần gấp ba triệu rưỡi để thanh toán viện phí và tiền thuốc cho má, và bảy triệu chuộc chiếc xe. Anh bí. Em coi chỗ nào có thể nhờ cậy được thì xoay giùm. Anh sẽ trả, vài tuần, hoặc vài tháng nữa anh trả.” Nghỉ một lúc, Trọng nói thêm: “Hiện giờ ta đang đứng ngay ở điểm “cùng”, nghĩa là sắp tới sẽ đến chỗ “biến”, sau “biến” là “thông”. Sẽ vậy thôi. Lẽ nào chúng mình cứ chúi mũi xuống mãi?” Hơn mười triệu bạc. Tìm đâu ra đủ con số đó? Trước đây, chừng ấy tiền là nhẹ như bông, chẳng đáng để Trọng quan tâm.

- Trông em có vẻ lo lắng quá. Có gì khó khổ, trở ngại nói anh nghe xem.

Giọng của Phước như cụ già hiền từ, nhưng ánh mắt anh ta là mắt của diều hâu nhìn chú gà con. Kim Hoa thành thực kể hết tình cảnh của mình. Phước nghe chăm chú, tặc lưỡi luôn miệng: “Tay Trọng bê bối, hư quá, bậy quá!”

Tiễn Kim Hoa ra sân, Phước nói:

- Nay mai nếu còn cần tiền tiêu em cứ tới đây, đừng ngại. Xuân Dung đi Cai Lậy chơi mười ngày, anh tự do, không sợ bà ấy giám sát. Nhớ nhé.

Rồi anh ta vỗ lưng Kim Hoa: “Tội nghiệp em!”.

“Em tới đây… Xuân Dung đi Cai Lậy… Anh ta nói gì vậy, hở trời!” Đi khỏi cổng nhà Phước một quãng, Kim Hoa dựng xe bên vệ đường, ngồi thụp xuống, gục đầu vào gối, khóc.

<>

Đã 6 giờ chiều, hai người vẫn ngồi uống dưới giàn bông giấy. Chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ cuộc rượu sắp tàn, cả hai đều còn tỉnh táo.

Đôn Cận kể một chuyện vui. Kể xong anh cười lớn, tán thưởng mình. Nhưng Trọng không nhếch mép.

- Không buồn cười à? – Đôn Cận hỏi.

- Tếu lắm, nhưng bụng này đang chứa nhiều mối lo, chẳng vui được.

- Đâu có gì quan trọng, mọi trục trặc trong cuộc sống đều là nhất thời.

- Xin hỏi, khi gặp hết thất bại này đến thất vọng khác, ông có oải không?

- Đương nhiên là oải.

- Khi mà cả trời và người cùng hùa vào xí gạt ta liên tục hàng chục keo, ông có cáu không?

- Cáu, tất nhiên! Nhưng coi lại, có phải các vị đó gạt ta, hay do ta bước đi xiên xẹo?

- Ông biết đấy, tôi không phải hạng người dễ chịu thua, nhưng khi rơi vào cái trận đấu suốt 90 phút ta co chân sút mãi mà cứ trúng cột dọc với sà ngang…

- Sút tiếp, rồi sẽ “vào”, chắc chắn như thế, vì sà ngang cột dọc chỉ cách thắng lợi vài phân… Đừng lo, tôi sẽ góp cho mấy ý mới để bạn bắt đầu làm lại.

Đôn Cận cười thật giòn, và lại kể một chuyện vui khác… Trọng nắm tay Kim Hoa, bảo chị ngồi xuống cạnh Đôn Cận.

- Em ngồi dậy, châm rượu cho anh Đôn.

- Em bận nấu nướng, dọn dẹp.

Trọng cười hềnh hệch:

- Khoan nấu, nghỉ dọn. Đôn là tri kỷ của anh, em biết đó… Có gì đâu, chỉ rót rượu thôi. Đừng làm anh buồn. Anh buồn nhiều quá rồi… Em có còn coi anh là… là chồng không?

- Thôi nào, Trọng, để Kim Hoa lo bếp núc.

- Hoa muốn tôi buồn. Thời còn làm ở quán Chiêu Anh, cô ấy phục vụ biết bao người… Mà nào chỉ rót rượu thôi đâu, còn táy máy, mơn trớn và chớp nháy nữa kia!

- Anh Trọng! - Kim Hoa kêu lên.

- Bạn say rồi, Trọng ạ – Đôn Cận đứng dậy, nhưng anh lảo đảo, muốn té, nên lại ngồi xuống – Chúng mình nghỉ là vừa, tôi cũng mềm rồi.

Đèn đường bật sáng. Kim Hoa đến mở đèn thềm. Trọng ngồi chống cằm. Anh nói chậm, rành rọt như chưa uống giọt rượu nào:

- Tôi đâu còn là tôi nữa. Tôi kém cỏi, bất hạnh, sờ vào đâu hư hỏng đấy… Qụy ngã, thua lỗ, xúi quẩy – Anh chỉ Kim Hoa, và chỉ vào nhà – Tài sản của tôi chỉ còn có cô này, và cái nhà trống huếch.

- Biết rồi, Trọng. Này, làm hớp nước chanh, giải nhiệt.

- Ông chẳng biết gì nhiều đâu. Xin lỗi, cho tôi nói thực. Khi xuống chó thì người ta xuống cấp… thành một thứ người loại hai! Kim Hoa kia, ông biết không, mới năm nào cô ấy còn coi tôi là ân nhân đáng kính trọng, là phu quân vĩ đại… Nay thì sao? Bây giờ em gọi tôi là gì? – Trọng đưa ly rượu cho Kim Hoa – Em mời anh Đôn ly này, nhá.

Trọng lại nhắc tới mụ Chiêu Anh, và chuyện cũ, Kim Hoa cảm thấy chua xót.

- Ông nên tin tôi, khi say người ta thường nói thực, Đôn ạ… Không chỉ buồn, tôi đang tuyệt vọng. Nhưng tôi vẫn yêu thương Kim Hoa… Đúng thế, kép Văn Trọng sắp thở hơi cuối cùng nhưng vẫn yêu đào Kim Hoa mê đắm!

Trọng cười sằng sặc, sắc lạnh, như tướng cướp trên sân khấu. Rồi bỗng anh thôi cười, gào to: “Kim Hoa, lúc sáng em mượn tiền ở đâu?”

<>

Năm đó Kim Hoa là ngôi sao sáng của quán Chiêu Anh. Quán có nhiều chiêu đãi viên, nhưng Kim Hoa là người xinh đẹp nhất, nổi nhất. Quán thu hút khá đông khách, phần lớn thuộc giới khá giả. Các cô gái bán bia, rượu, tiếng cười, và cả mấy “món cấm”. Các đấng mày râu thì mua vui, mua sắc, và mua cả những vầng hào quang hão huyền. Người ta không tiếc thời gian, công sức, tiền bạc. Dường như ai cũng muốn cố vượt lên để tới một cái đích nào đó, cố nhảy qua những bậc cấp, những chiếc thang mơ hồ nào đó.

Trọng đến Chiêu Anh thường xuyên. Lúc này bạn bè gọi anh là Trọng Bụng. Anh đang ăn nên làm ra, đang phất. Anh làm gì cũng trúng, nhúng tay vào đâu cũng êm xuôi, trôi chảy, lời to. Ở Chiêu Anh, Trọng Bụng được các nàng kiều quý trọng, chìu chuộng. Anh xài “sang hơn Tây”, vui tính, hào phóng. Cùng nhiều hảo hớn khác, Trọng lao vào cuộc đua tranh nhằm chiếm đoạt minh tinh Kim Hoa, và anh đạt được mục đích sau hai năm chiến đấu quyết liệt…

Trọng Bụng bứng Kim Hoa ra khỏi động Chiêu Anh tối tăm cũng khó khăn, chật vật như viên tướng chiến thắng trong một trận đánh mà đối thủ là kẻ tài trí chẳng kém mình bao nhiêu. “Tao vớt nàng ra khỏi vũng lầy. Tao sẽ cưới nàng… Hoa sẽ coi tao như thiên thần sáng láng, hào hoa.” Trọng Bụng nói với các bạn thân, và sau đó anh cưới Kim Hoa ồn ào, linh đình như đã nói. Hai người sống với nhau êm ấm, hạnh phúc như những cặp vợ chồng trẻ tân, như là Trọng chưa hề trải qua một đời vợ, như Kim Hoa mới cởi bỏ áo học trò tháng trước. Thời gian tươi đẹp ấy kéo dài được ba năm.

Nhưng từ khi bị mấy vụ thất bại, thua lỗ nặng liên tiếp ập xuống đầu hồi cuối năm kia, Trọng đã biến thành một người khác. Anh mất tinh thần, không còn thiết gì đến việc làm ăn, và trở nên một kẻ nóng nảy, hời hợt. Biết vợ không may vá, không buôn bán, không dạy học, không có một nghề chắc chắn, nhưng anh không biết đặt câu hỏi các món tiền chị mang về thời gian qua có được từ nguồn thu nào?

<>

Chỉ hai ngày sau lần nhậu trước, Đôn Cận lại đến. Cùng đi với anh có một người đàn ông tuổi chừng năm mươi, tướng sang trọng. Ông ta mang kính mát, ria mép rậm, mặt ngầu, như mấy tay trùm xã hội đen trong các phim truyền hình. Đôn Cận gọi người này là anh Năm với giọng kính nể. Trọng lăng xăng đón khách. Anh vội vã lâu qua bàn ghế, pha trà, và vác chiếc bàn thấp ra đặt dưới giàn bông giấy.

Trọng nói nhỏ với Kim Hoa: “Có anh Năm Phán đến chơi. Anh ấy ở Hòa Hưng, là dân xịn, làm ăn to, đứng đắn… Em nhớ cho, đây là khách đặc biệt. Lâu nay Đôn xoay xở, tìm cách chúng giúp mình. Anh ấy câu Năm Phán tới đây. Anh Năm chính là kẻ mang hy vọng đến cho chúng ta… Hoa ạ, anh đang cần một chiếc phao, một bàn tay vững chãi để bám víu, lấy đà… Giờ em chạy tìm chai rượu và đồ nhắm, nghe.”

Kim Hoa ngẩn người. Moi đâu ra tiền để tìm với mua! Số tiền mượn của Phước đã chi cho cuộc rượu hôm đó. Trọng ôm Kim Hoa:

- Không tiền? Phải, hết từ lâu rồi. Anh biết chớ! Biết, nhưng anh khổ quá, em ạ. Anh rối trí, muốn cuồng điên luôn… Hơn năm qua để mặc em chạy ăn là chuyện đường cùng.

Trọng vuốt tóc vợ:

- Ta tiếp anh Năm chu đáo, em ạ… Anh phải đứng lên, bày keo khác. Anh muốn được cao lớn, mạnh khỏe trở lại.

Trọng nhìn quanh phòng:

- Em coi còn có gì bán được chăng… Không à? Hết thực rồi!… Dào, chỉ còn bàn ghế, giường.

Kim Hoa cười:

- Còn em với cái nhà nữa chớ!

- Sao em cười?… Đừng cười anh!

Trọng chậc chậc, chép miệng và thở phì phì như những lúc say. Rồi anh lại vuốt tóc Kim Hoa, vỗ vỗ nhẹ lưng vợ, động viên:

- Em cố chạy lần nữa, ráng lên… kiếm chai rượu loại kha khá, mồi thì gà, vịt, bò, hoặc khô sặc, khô thiều cũng được.

Anh khích lệ, và cười gượng, nói đùa. Anh vỗ lưng Kim Hoa giống hệt như hôm trước tay Phước đã vỗ. Kim Hoa chết lặng… Cố gắng, Hoa cố được. Nhưng đối với một kẻ mà sự chạy tiền chỉ có nghĩa vay mượn thì phạm vi của sự cố gắng hết sức hạn hẹp. Kim Hoa đau đớn thấy mình bất lực. Cái xui xẻo của Trọng đã lan rộng, hay có một ông trời tai quái theo rình rập quyết hại gia đình chị? Mấy món tiền cuối cùng, cộng với số tiền bán nữ trang, Kim Hoa đổ ập cả vô mấy đầu huê, mới đây đã rơi vào tay hai mụ lừa đảo. Mất êm ái, trong chớp mắt, như là bay biến, như bốc hơi.

Kim Hoa yêu kính Trọng, muốn anh bước ra khỏi vùng u ám. Chị biết rõ là Trọng siêng năng, tháo vát, và rộng lượng, tốt bụng, thường giúp đỡ những kẻ thất thế, nghèo khổ. Một người như vậy chắc thế nào cũng vượt qua được hoạn nạn, sẽ gặp nhiều may mắn, sẽ có đường hậu vận tốt lành… Nhưng còn chuyện này, bây giờ tính sao, đến gõ các cửa nào?

Họ ngồi bên chiếc bàn nhỏ dưới giàn bông giấy. Đôn Cận nói liền miệng, tiếng khàn khàn. Năm Phán nói nhỏ, chậm rãi. Trọng thì luôn miệng vậng dạ, mau mắn, ngọt ngào.

Kim Hoa lấy giỏ, dắt xe đi ra cửa sau. Chị đứng mấy phút trước cánh cửa mở hé, ôn lại trong đầu những tên người, những gương mặt thân sơ có thể đến nhờ vả. Cuối cùng thì gương mặt nổi nhất vẫn là Phước. Anh ta cười cười, giả vờ lắng nghe, giả vờ thương xót. Nhưng khi anh ta đưa tiền ra, đúng là những xấp tiền thật, không phải “giả vờ”. Khuôn mặt Phước đung đưa, lấp lóa, lúc mờ lúc sáng như trên màn ảnh. Anh ta nhíu mày, nghiêng tai lắng nghe, rồi cười tít mắt. Và anh ta nói: “Tội nghiệp em… nếu cần tiền em hãy tới đây…”, rồi vỗ nhẹ lưng Kim Hoa. Anh ta vỗ lưng nàng!

Kim Hoa ra đường, thờ thẫn đi về phía trước mặt, như để đến một nơi vô định, một vùng đất trời nhạt nhòa, xám xịt. Thật là khổ nhọc phải ra đi trong khi trước mặt không có một ngõ lối, một con đường nào ./.

30 thg 8, 2011

TÌNH QUÊ XA KHUẤT


Một chiếc xe ngựa mui trần chở đầy dưa hấu đến dừng trước cổng nhà ông An. Người đánh xe là một cô gái khá xinh, vóc dáng đẹp, trông nhanh nhẹn mạnh mẽ như đàn ông. Cô gái xách mấy trái dưa đựng trong chiếc giỏ mây vào, nói với Duy Ninh:
“Em gởi giỏ dưa cho chú Tám”.
Thấy cô gái hay hay, Duy Ninh ghẹo:
“Dưa này tặng hay biếu đây, cô em?”.
“Dạ, tặng đấy ạ”.
“Nhưng phải biết của ai, tôi mới nhận”.
“Của hàng xóm, nhà kia – cô gái chỉ ngôi nhà ngói mới ở kế vườn ông An – của em, em là Son”.
“Son, chị thằng Hưng, tôi biết rồi. Thế mà tưởng ai!”.
Cô gái cúi chào: em về.
“Cảm ơn cô Son. Hôm nào tôi sẽ qua chơi, nhờ cô dạy đánh xe ngựa”.
“Không dám dạy đâu, nhưng em chẳng giấu nghề, trong một buổi biết ngay, dễ ợt, anh Ninh à! – Son cười, hàm răng đều, trắng bóng, nụ cười mặn mà”.
“Vậy ra cô cũng biết tên tôi. Thế là chúng ta quen nhau rồi nhé!”.
… Qua những lần trò chuyện với cậu bé Hưng, Duy Ninh biết ông Mới – cha Son – làm nghề đánh xe ngựa. Son có một chị đã có chồng. Hưng là em út, kém Son bảy tuổi. Những việc đồng áng của nhà ông Mới như trồng mía, mì, sắn nước đều do Son đảm trách. Cô gái cày cuốc, khuân vác gọn gàng, khỏe không thua trai tráng.
*
Làng cận sơn Mậu Lâm nằm trên bờ sông Bương, một con sông nhỏ, đẹp. Sáu mươi ngôi nhà ẩn mình dưới bóng tre, mít, khuất sau những ruộng mía um tùm. Lặng lẽ, yên tĩnh, ở đây ít khi nghe được tiếng động gì lớn. Đất thổ cư, vườn cây ăn trái rộng, nhà cửa cất cách xa nhau, nơi nào gần nhất cũng trăm mét… Ban ngày, trên các thửa ruộng mía, đất mì thanh niên nam nữ đội nón lá, khăn che mặt, cặm cụi xới đất, cuốc cỏ. Trẻ em tụ tập chơi trước sân trường, hoặc tắm dưới bến đò… Làng hẻo lánh, cách núi chỉ một cây số, cách quốc lộ I và đường xe lửa đến ba mươi cây số, chưa có điện, xa ánh sáng văn minh. Hưng nói, xưa giờ em mới được lên chợ huyện có ba lần. Tuy thế, về vật chất dân làng không nghèo lắm, sống khá ung dung, nhàn hạ, nhờ đất nhiều và màu mỡ… Mậu Lâm không có nhà tranh, tất cả đều lợp ngói. Hộ khá giả xây tường gạch, hộ yếu hơn thì trét vách đất. Có thể xếp khoảng một phần ba số gia đình vào hạng giàu, chủ yếu nhờ mía đường, và nhờ đức tính sống cần kiệm. Nhiều người nói, giọng tự hào: tuy nhiều năm chưa được ra phố vào quán “kéo ghế” lần nào, nhưng nếu có dịp thì ta cũng sẽ ăn xài mát tay không thua bất cứ ai!
*
Duy Ninh nghiện ma túy một thời gian, tuy chưa lâu lắm nhưng cũng đã khiến cơ thể anh suy nhược, người xanh xao gầy còm. Khi Ninh ở trường cai nghiện ra, theo lời khuyên của các bác sĩ, ông Đăng – cha Duy Ninh – tính đưa anh về vùng quê tĩnh dưỡng. Suy nghĩ, cân nhắc, cuối cùng ông chọn nhà ông An – một người em họ – ở làng Mậu Lâm, “một làng quê không đâu quê hơn, một nơi xa không đâu xa hơn” để Duy Ninh có cơ hội hồi phục sức khỏe, được hít thở không khí trong lành, xa cách hẳn phố xá với đám bạn bè xám xịt.
Lúc mới đến, Duy Ninh nghĩ chắc mình không thể trụ lại đây quá một tuần! Heo hút, buồn rớt! Phía tây núi cao chập chùng chắn tầm mắt. Ba bên đất mì, ruộng mía vây bọc, xanh tốt, như rừng rậm. Nhà thưa thớt. Không thấy bóng xe hơi, không điện đài chợ búa. “Ái chà, sao trên mặt đất lại có cái làng rầu rĩ thế này… sao người ta có thể sống suốt đời ở một nơi như nơi này?” Chiều xẩm chim công trên núi rộ lên tố hộ, sầu thảm khắc khoải, nghe rõ như kêu ngay sau hè. Đêm đến, thỉnh thoảng lại nghe bầy ngỗng la quàng quạc như bị ai chộ, rồi tiếng chim te te đột nhiên kêu giật giọng, lảnh lói ma quái. Sau trước tối om. Những ngọn đèn dầu nhỏ nhoi vàng vọt, tù mù. Chưa đến 9 giờ mọi người đã lục tục vào giường, đi ngủ!
Nhưng về sau Duy Ninh đã nghĩ khác. Thì ra, không phải chỉ có vậy. Ở đây không hẳn là ốc đảo, chẳng phải chỉ toàn ảm đạm với buồn vắng. Làng quê này còn có một mặt khác, cái mặt thứ hai, trong sáng, đậm đà, đáng yêu… Dân làng hiền hòa, chất phác. Họ ít nói, và nói chuyện có vẻ ngập ngừng, thiếu mạch lạc. Không thấy họ to tiếng, cãi vã nhau. Không có những vụ gian lận, trộm cắp. Không thấy cảnh thanh niên đàn đúm nhậu nhẹt rồi quậy phá, đánh đấm nhau ngoài đường. Trong việc làm ăn họ thường dùng hình thức vần công đổi công, giúp nhau qua lại, ít thuê mướn. Khi một nhà có đám tiệc, hiếu hỉ những người cùng xóm tự động đến góp mặt, góp tay, chẳng cần mời mọc… Duy Ninh thích con sông nhỏ lặng lờ, nước trong vắt; mê cái cầu tắm dưới bóng cây vú sữa trước nhà chú An. Trưa nào anh cũng cùng Thanh – con chú An – đùa giỡn thỏa thích trong dòng nước mát. Bà con ở đây biết anh là cháu ông An, ở Tân Phú về dưỡng bệnh, chỉ như vậy, họ chẳng hỏi gì thêm. Duy Ninh nói với họ anh là thợ điện, không nhắc tới chuyện đá bóng. Anh nghĩ, chắc dân làng không coi đá bóng là một nghề, chẳng tin người ta có thể sống bằng cái việc phập phều là đi “đánh banh”. Họ quen gọi “trái banh”, không gọi “quả bóng”… Nhờ chiếc máy ảnh Duy Ninh nhanh chóng làm quen, thu được cảm tình của cánh thanh niên và những người lớn tuổi… Không đợi ai đốc thúc, anh lao vào “tham gia” lao động tay chân, làm những việc xa lạ xưa nay anh chưa hề biết. Nhà ông An làm đường thì anh cầm rựa phát mía, rồi vác mía vào che, ôm bã ra phơi. Lúc thu hoạch khoai mì, anh cuốc, nhổ, vác cây, đánh cộ bò chở củ từ ruộng về nhà. Anh mặc áo vá, đội nón cời, làm hăng say, cật lực. Rất được việc. Đặc điểm của nông dân ở đây khi làm ăn là chậm rãi, chắc chắn, không thuyết lý. Làm bằng mắt và tay chân, không bằng miệng… Trong tháng Mậu Lâm bước vào vụ thu hoạch mía, nấu đường, xóm làng có cái mùi riêng, đặc biệt, một mùi thơm ngọt dịu, bao trùm khắp nơi, ngoài ruộng, trong nhà, trên tóc tai, giường chiếu. Từ đó người ta dễ tưởng mọi thứ đều thấm đẫm hương vị ngọt, tiếng chim ngọt, gió ngọt, giọng cười ngọt. Duy Ninh nghĩ, chắc mình sẽ không khi nào quên cảm giác này… Rất nhanh, bà con xóm giữa của Mậu Lâm yêu thích “anh chàng công tử trắng trẻo, vui tính”. Duy Ninh chụp hình thật nhiều, không chán. Cảnh các cô gái phát mía, ôm bã. Cảnh các chàng trai nấu đường, nhổ mì, đánh xe bò. Cảnh bọn trẻ đá banh, câu cá, bơi đùa trên sông. Chụp xong anh nhờ ông Mới đem ra chợ huyện rửa, rồi tặng cho mỗi người vài tấm. Ảnh màu, sáng rỡ, sinh động, đẹp hơn “ngoài đời”. Ai nấy thích mê. Xưa giờ, “từ thuở cha sinh mẹ đẻ” chưa thấy ai chơi đẹp như thế!
*
Ngay từ những ngày đầu, qua chiếc cầu nối là quả bóng da, Duy Ninh được băng thiếu nhi Mậu Lâm yêu thương. Thanh giới thiệu anh với đám bạn của nó. Sân bóng nằm sau trường học. Bằng phẳng, thênh thang. Có điều lạ, giới đứng tuổi và thanh niên làng này không yêu bóng đá, chỉ ham mê nuôi chim mồi và gà chọi, trong khi bọn trẻ suốt ngày chạy theo “trái banh” hệt như trẻ em ở thành phố… Trước tiên Duy Ninh chỉ các cậu bạn mới sửa lại sân bóng cho đúng quy cách. Sau đó anh gởi mua hai quả bóng da loại xịn, và một chiếc còi. Rồi chiều nào anh cũng ra sân, làm huấn luyện viên kiêm trọng tài, điều khiển các trận đấu! Khỏi phải nói, bọn trẻ sướng phát điên, chúng mê Ninh ngay tức khắc! Chưa khi nào chúng được sờ đến một trái banh tốt như vậy, gặp một người rành về trò chơi này như vậy. Nếu biết ông trọng tài cao lòng khòng này nguyên là tuyển thủ quốc gia, bốn năm trước đây còn là tiền vệ phải xuất sắc của đội tuyển tỉnh T.P chắc các cầu thủ trẻ Mậu Lâm hoảng hồn! Duy Ninh dạy các chú cách đá, cách đi bóng, tranh bóng; kỹ thuật tấn công, phòng thủ; phân tích vai trò nhiệm vụ của hậu vệ, tiền vệ, tiền đạo, thủ môn. Thế nào là việt vị, phạt trực tiếp gián tiếp, lỗi nặng, lỗi nhẹ… Dần dà, sau vài tháng, hai đội bóng – U14, và U10 – của Mậu Lâm đã đi vào nề nếp, chơi có nét, tiến bộ rõ rệt.
*
Đêm không trăng, tĩnh mịch, mát mẽ. Bà An, Duy Ninh và Son ngồi xắc khoai mì bên gốc mít trước sân. Công việc có hai khâu, lột vỏ và xắc củ khoai ra thành những lát mỏng. Đơn giản, dễ làm, nhưng nếu không quen thì không ngồi lâu được, mau mỏi lưng, buồn ngủ. Bà An kể chuyện ma cho hai bạn trẻ nghe đỡ buồn. Bà có một kho chuyện loại này, tình tiết phong phú, như thật, ly kỳ, rùng rợn. Ông An ngủ trên thềm, ngáy to, lúc trầm lúc bổng, nghe buồn cười.
“Ông ấy vô tư, đói không lo no chẳng biết, đặt lưng xuống là ngáy! – Bà An nói”.
“Làng này làm sao đói được, mía mì là gạo, cá có sẵn dưới sông, lo gì… Sống ở Mậu Lâm sạch đẹp thanh thản tuổi thọ con người dễ cao, thím à” Duy Ninh cười.
“Con dám lấy vợ, ở luôn đây không?”.
Son trả lời thay:
“Dân phố phường ăn nói đẩy đưa khéo lắm… dì Tám chớ tin…”.
“Đừng nghĩ lệch lạc. Thế còn nông dân tốt hay xấu?”.
“Cũng có kẻ không tốt, con người mà… Theo anh, đặc tính của bà con miền quê là gì?”.
“An phận, quen nhìn gần, không mơ ước cao, ít thích tranh đua… Có lẽ anh sẽ xin ở đây luôn, để trở nên người trong trắng!”.
“Anh lại chọc quê em!” Son nói lảng sang chuyện khác “Mai cháu đánh xe, lên chợ huyện, dì gởi gì không?”.
Bà An nghĩ ngợi một lúc.
“Mua giùm gì cái nón, một lưỡi cuốc, một ký hột rau muống”.
“Anh gởi gì? – Son hỏi Duy Ninh”.
“Mua giùm anh hai cuộn phim”.
Cây đèn hết dầu, ngọn thu nhỏ lại, chấp chới muốn tắt. Bà An bưng đèn vào nhà rót dầu. Duy Ninh chồm tới hôn lên má Son.
“Coi chừng, thằng Thanh!”. Son chỉ ra cổng.
“Thanh?”
“Nó họp đội banh ở nhà em”.
Duy Ninh hôn tới tấp lên cả hai má cô gái.
“Bợm, giỏi chưa!”. Son cười “Dì Tám ra kìa!”.
“Cơ hội tốt, cho anh tranh thủ!… Không sợ. Thím Tám thích em lắm. Em biết thím nói sao không”.
“Nói sao?”.
“Thím khen em giỏi, hiền, chín chắn… Thím muốn anh ở luôn đây, đừng về”.
“Thím thương thì nói vậy, làm sao anh ở Mậu Lâm này lâu được, buồn chết”.
“Hôm mới đến anh tưởng chắc chỉ ghé chơi vài bữa, vậy mà…”.
“Hết buồn?”.
“Hơn sáu tháng rồi, nhanh chi lạ… Giờ thấy vui, nhờ cảnh đẹp, nhờ tụi nhỏ, và em.”.
“Chúng mình quen nhau bao lâu rồi?”.
“Anh không nhớ”.
“Chắc bốn tháng”.
“Mới quen, nhưng anh yêu em thì đã khá lâu, hồi anh mới đến đây một tuần, ngay lần gặp đầu, trong buổi chiều em đánh xe chở dưa…”.
“Gớm, ông kẹ, mồm mép ghê chưa!… Sáu tháng… Nhưng thời gian cũng có giới hạn… Trong các tuồng hát có một câu ngắn mà rất đúng, rất buồn, anh biết không?”.
“Câu gì?”.
“Sinh ly tử biệt”.
“Ờ, buồn lắm!”.
“Mỗi khi nghĩ tới nó là em chảy nước mắt!”.
“Đừng ủy mị, mít ướt như thế… Nhìn qua cứ tưởng em cứng cỏi”.
“Coi vậy chớ em mềm yếu, hay mủi lòng… nghe kể chuyện sầu thảm là em ủ dột luôn mấy ngày! Xem hát thấy đào kép khóc em cũng khóc!”.
“Người ta bảo như thế là đa cảm”.
“Đa cảm tốt hay xấu?… Sinh ly cũng buồn như tử biệt! Em nghĩ tới ngày anh trở về tỉnh…”.
Yên lặng một lúc.
“Em chớ nghĩ xa… còn lâu… anh sẽ ở đây nhiều tháng nữa. Sau đó tất nhiên anh sẽ về Tân Phú. Nhưng có điều chắc, mai này dù làm gì, ở đâu anh cũng không bao giờ quên đất nước và con người Mậu Lâm đã giúp anh mạnh khỏe, trở lại vui sống, yêu đời”.
Mười ngày sau
Đúng vào đêm trăng đẹp, tại nhà ông Mới diễn ra một cuộc hội họp nhộn nhịp, tưng bừng. Đây là tiệc liên hoan, ăn mừng chiến thắng đội bóng U14 vừa giành được ban chiều. Với lần ra quân đầu tiên, trên sân làng Cao Phong láng giềng, đội Mậu Lâm đã lập thành tích bằng trận thắng thuyết phục 4 – 1… Út Hưng là đội trưởng, ông Mới là cổ động viên tích cực của Mậu Lâm. Trong buổi chiều, dù nắng gắt, chiếc xe ngựa ông Mới đã chạy như con thoi, đi về tám chuyến, đưa đón cầu thủ và cổ động viên Mậu Lâm. Giống hệt ngày hội. Bàn tán, bình luận xôn xao, mọi người háo hức, vui vẻ. Cánh thanh niên vốn mê chọi gà nay cũng đi xem gần đủ mặt. Bóng đá có không khí, sức hấp dẫn riêng, rất đặc trưng.
Ông Mới đãi khách đủ vị mặn, lạt: cháo vịt và chè đậu xanh. Người lớn ngồi bệt xuống sân. Cầu thủ và tốp trẻ trải chiếu ngồi dưới gốc mít. Huyên náo, rộn ràng không kém đám hát cúng đình. Chưa bao giờ người ta được hưởng một niềm vui rạo rực, ngây ngất như vậy. Đám thanh niên tranh nhau điểm lại diễn biến trận đấu, trầm trồ khen những đường chuyền chuẩn xác, mấy cú đánh gót thần sầu, mấy bàn thắng tuyệt đẹp của quân ta; những tình huống gay cấn, các nhược điểm sơ hở chết người của đối phương; tài chỉ đạo, cách điều quân khéo léo của “ông bầu” Duy Ninh. Ai cũng nói, rõ ràng đội Mậu Lâm trên chân Cao Phong, lấn lướt ở mọi tuyến. Ai cũng nghĩ, với những gì đã phô diễn trên sân chiều nay, nếu được tiếp tục nuôi dưỡng luyện tập tốt, đội bóng thiếu niên Mậu Lâm sẽ còn lớn mạnh, tiến xa.
Lúc cuộc vui sắp tàn Son kéo Duy Ninh ra sau bếp, hỏi nhỏ:
“Nghe nói hồi sáng anh nhận được thư nhà?”.
“Ba bảo anh về, có chuyện gì đó cần bàn”.
“Chừng nào anh đi?”.
“Mai”.
Son nín lặng. Duy Ninh cầm tay cô gái, bóp nhẹ.
“Gấp vậy?”.
“Mốt đi cũng được… Về coi chuyện gì, vài hôm anh lại xuống… cho anh hôn…”.
“Đừng, người ta thấy. Vui sướng gì mà hôn hít!”.
Duy Ninh cười.
“Em như cô bé dỗi hờn… Sao không vui, lâu rồi anh chưa được hưởng một ngày vui nào như hôm nay”.
“Anh về…”.
“Ờ, thì về, ít bữa thôi”.
Có tiếng gọi “Anh Ninh ơi, anh Ninh”, rồi nhiều tiếng “ông bầu ơi!”.
“Em đi với anh, lên Tân Phú thăm chơi vài hôm, nghe?”.
“Đâu được, kỳ lắm!”. Son cười.
“Anh xin phép chú thím cho Hưng đi với em, lên nhà anh chơi cho biết”.
“Không được đâu” Son lắc đầu quầy quậy “Em vụng về, quê kệch, đen đúa, thiên hạ cười”.
“Đừng nói vậy, em đẹp, chẳng thua kém ai”.
“Mới nghĩ đến thôi em đã sợ!… Rồi biết nên ăn mặc thế nào, nói năng đi đứng ra sao… Trước tới nay em lên tỉnh mới hai lần, mỗi lần hai ngày. Ở đâu quen đó!… Hơn nữa, đi như thế bà con sẽ coi là không đứng đắn”.
“Em nghĩ xưa lắm”.
Son ấp úng:
“Sợ thực!… Mà kỳ lạ, lâu nay em quên biến anh là dân Tân Phú!”.
Đây chính là điểm khiến Duy Ninh quý mến Son. Son yêu anh như anh yêu dòng sông Bương, đồng mía Mậu Lâm, không hơn thiệt tính toán. Son không cần biết đến cái nhãn nổi tiếng, giàu có của anh.
“Anh, để mốt hẵng đi, mai em còn nói mấy chuyện”.
Duy Ninh đùa:
“Chúng mình xa nhau vài hôm, chưa ly biệt đâu mà dặn dò”.
Son nói, có vẻ ngậm ngùi:
“Sinh ly”, vừa nhắc đến nó đã thấy hiện ra cảnh tượng tối tăm, như ngày không có mặt trời!
*
Xe đã đầy khách, ông Mới xách giỏ cỏ đem treo dưới gầm xe, chuẩn bị khởi hành. Trời chưa sáng. Như thường ngày, mỗi sáng xe ngựa ông Mới chạy hai chuyến lên chợ xã, cách làng năm cây số, đây là chuyến đầu. Các cô, các bà cười nói lớn tiếng. Gồng gánh, thúng mủng, trái cây, gà vịt. Son nấp bên gốc mít gần cổng nhìn ra bến xe ngựa. Một chuyến xe đi chợ, như mọi ngày, xưa cũ, quen thân. Nhưng nay có khác, có một khách đàn ông. Duy Ninh về tỉnh. Anh ngồi phía trước, bên cạnh ông Mới, gần cây đèn chai. Son nhìn ra. Duy Ninh ngồi yên, đầu không đội mũ, hai tay đặt trên gối. Bỗng nghe một bà hỏi:
“Chú Ninh về thăm nhà ít hôm hay về luôn?”.
Duy Ninh đáp, nghe không rõ.
“Ở lâu thành thân quen, nếu chú không xuống nữa thì buồn lắm”.
Một bà khác:
“Thằng Cảnh nhà tôi thích banh bóng, nó mê chú, chú mà về hẳn trên đó chắc nó khóc”.
Duy Ninh cười.
“Nhiều đứa khóc… trước lạ sau quen, chú đã thành dân làng”.
Gà gáy rộ. Ông Mới rút cây roi trên mui xe, đó là dấu hiệu lên đường. Duy Ninh đập muỗi. Tiếng một cô gái – con Hạnh – hỏi Duy Ninh:
“Cho em hỏi thiệt, khi về lại trên ấy, anh nhớ Mậu Lâm được bao lâu?”.
Duy Ninh nói gì đó, Hạnh cười giòn.
“Anh nói khéo lắm, cũng mong rằng anh không quên mau như gió qua thềm”.
Son nhìn ra. Xe chạy, chậm chạp, nặng nhọc, chìm khuất vào bóng đêm ./.

VỢ CON NHỌC NHẰN

“Khâm chán ghét em, đã bốn hôm anh ấy không về, chẳng rõ đi đâu. Tối thứ bảy vừa rồi, lúc đưa tiền cho Khâm đi mua chiếc xe gắn máy, thế chiếc mất tuần trước, em đùa: “Từ nay anh nhịn ăn sáng và uống cà phê trong sáu tháng, bù vào số tiền này.” Anh ấy gầm lên: “Sáu tháng! Tính kỹ chưa, sao không phải ba hay sáu năm?” Từ lúc đó Khâm không nói gì với em nữa. Anh thấy đấy, em đùa thôi mà. Khổ thực, đây đâu phải giáo đường, cười cợt tí chút cũng không được!… Hai đứa sống với nhau đã tám năm, dĩ nhiên hiểu rõ tâm tính nhau… Có một cái gì đó vừa xảy ra, dường như Khâm đổi khác. Tháng trước, trong lúc xem phim truyện trên truyền hình, gặp một chuyện tình buồn, Khâm nói: “Tình đẹp phải buồn, các cuộc tình vui đều lãng xẹt… chúng ta sống chung tám năm hai tháng hai ngày, chưa buồn!” Em sợ, anh ạ! Khâm tính lúc nào để có ngay con số tháng năm đó. Rõ ràng đây chẳng phải vô tình. Anh ấy tính làm gì? Em mất ngủ mấy tuần… Sao lại có thể lập luận như vậy? Muốn chuyện ngoài đời giống hệt trong sách truyện, phim ảnh, thật vô lý.”

Lượng ngồi nghe Hằng nói, chỉ nghe, không bình phẩm. Đối với Lượng, hai bên đều là bạn, đồng cân. Hơn nữa, anh từng đoán trước chuyện này sớm muộn cũng đổ bể, và sắp tới sẽ còn nhiều màn ly kỳ khác nữa… Khâm có một mối tình mới, đã khá lâu. Bạn bè đều biết, Khâm hiền, không đào hoa trăng hoa, anh chỉ muốn kiếm một đứa con, muốn chứng minh tình trạng hiếm muộn lâu nay của vợ chồng anh do “lỗi” của Hằng. Mấy năm qua, hai người đã đi thăm hàng chục thầy lang vườn, bác sĩ Tây, áp dụng nhiều phương pháp trị liệu, vẫn chưa thấy kết quả. Chờ đợi, trông ngóng khiến cả hai phờ phạc. Trẻ cậy cha, già cậy con. Ai cũng muốn những năm tháng cuối đời được sống đầm ấm bên con cháu.

Khâm gặp Quyên, là một cuộc tái ngộ. Thời còn nhỏ anh chị đã biết nhau. Lớn lên, Quyên lấy chồng xa, đi biệt gần mười năm, nay quay về, đem theo một đứa con gái… Trong thành phố nhỏ người ta dễ quen nhau. Không ai rõ phải mất bao lâu để từ chỗ quen biết sơ sài Khâm, Quyên tiến đến mức yêu thương. Khi sự việc này biến thành một tin nóng, anh chị đã là vợ chồng hờ hơn cả năm dài. Chỉ có Hằng, ngủ kỹ trong cái “tổ ấm” ở đầu bắc thành phố, không biết. Khâm như con chim thiên di, đêm ở chiếc tổ phía bắc, ngày về với tổ đầu nam thành phố, khoảng cách năm cây số đường chim bay.

“Em đoán chuyện này liên quan đến vụ con cái. Từ lâu em coi đây như việc đã an bài, nên chấp nhận, chẳng chống chọi nữa. Mình không sinh thì kẻ khác sinh, cõi đời luôn thừa người! Nhưng chắc Khâm nghĩ khác. Vẫn là nối dõi, có hậu, thừa tự thừa kế!… Dễ gì giũ bỏ nếp nghĩ đã ăn sâu trong máu thịt hàng ngàn năm, dù ai cũng biết kiểu nghĩ đó xuất phát từ người Tàu trung cổ… Nói thực với anh, lúc đầu em cũng buồn, em không phải thánh. Nhưng sau nhiều đêm trăn trở, nghiền ngẫm, em đã tìm thấy, chọn cho mình cái đáp án “chấp nhận”… Ở đây, chưa nói lỗi phải về ai. Không khó lắm đâu, anh ạ. Thời nay, loại bệnh này chẳng còn là vấn đề quá phức tạp… Em trọng tình nghĩa. Hai đứa sống với nhau từng ấy năm, chưa hề xích mích lớn, nói theo lối văn hoa: vẫn mặn nồng như thủa ban đầu! Nên em thấy rằng, có thể xí xóa châm chước cho nhau mọi lỗi lầm… Con người sống trên đời ai cũng gặp trục trặc, phải gánh chịu lắm điều bất ưng, không ở mặt này thì mặt khác. Nghĩ cho rốt ráo, đây là thứ lỗi ta vô tình mắc phải, đúng không anh? Vậy, nếu có gì đáng kể, đó là cách ta đánh giá, nhìn nhận nó. Em coi nó như món nợ lớn số phận dành sẵn cho mình… Em sẵn sàng sống tiếp với Khâm, như từng sống hơn tám năm qua.”

“Hai bạn nghĩ tới việc xin con nuôi chưa?” Lượng hỏi.

“Em đã đưa ra giải pháp đó, nhưng Khâm bác bỏ. Anh ấy bảo, chỉ dùng đến nó vào phút cuối, khi hết cách, bởi nó nhão lạt như đồ hộp hư, gượng ép giả tạo như ca kịch vụng.”

Hằng pha cà phê mời khách. Lượng uống cà phê, và kể cho Hằng nghe một chuyện cổ: “Ngày xưa, trong dãy núi Phổ Đà trùng điệp có ngọn núi lớn hình thù kỳ dị, chứa đầy hùm beo, dày đặc cổ thụ và hoa thơm cỏ lạ, tên là núi Cấm. Vị thần cai quản Cấm Sơn tướng mạo phương phi, giỏi phép thuật, có nhiều vợ, đông con. Thiên hạ đồn, ông có mười con. Ông chia lãnh thổ của mình ra thành nhiều khu vực, để các con trấn giữ. Đứa làm chủ những con suối, đứa giữ rừng, đứa chăm nom hang động, đứa phụ trách muông thú, rất rành mạch. Nhưng Cấm Sơn thâm u, rừng thiêng nước độc nên khá hoang vắng, xóm làng dân cư gần nhất cũng ở cách đó ngoài ba mươi dặm. Chỉ có một vị thường tới lui thăm hỏi Thần Núi, là Thần Gió. Thần thánh mới lọt được vào xứ sở này… Thần Gió tính xuề xòa, nghệ sĩ chính tông. Ông sống lang bạt, không nhà, không vợ con, sớm đón bình minh ở đầu non chiều nằm ngắm trời cuối biển. Thấy bạn loay hoay, bận rộn, chìm ngập trong hàng ngàn việc tủn mủn, ông chán ngán. Ông hỏi Thần Núi:

“Ta ngủ đâu cũng được, không ăn cũng sống, tội gì ông làm khổ thân xác mình như thế?”

Thần Núi đáp:

“Vì con. Phần ta khỏe rồi, nhưng phải lo cho chúng nó… chúng có thể gặp nhiều bất trắc. Ta cần hướng dẫn, chỉ bảo chúng trong mọi việc.”

Thần Gió bĩu môi:

“Lúc nào cũng con… cứ đẻ cho lắm, rồi khổ phờ râu! Hãy xem tôi đây.”

Thần Núi cười khì:

“Ông thấy gần, chẳng biết nghĩ xa. Trước mắt sướng đấy, nhưng về lâu dài… Tôi hỏi nhé, sống cô độc như ông, mai sau lỡ gặp rủi ro, như bị phạt bị đọa, thì lấy ai giúp đỡ; khi đi đứt ai thương nhớ, hương khói cầu nguyện?”

“À, ra vậy! Ông lo quá xa, nghĩ đến ngày thần qua đời, thần cũng có thể gặp này nọ mà chết!”

Đến đây họ không bàn luận nữa. Mấy ngày sau, gặp lại nhau, Thần Gió nói:

“Về chuyện chúng ta tán hôm trước, tôi đem kể cho Thần Sông nghe, ông ấy bảo: “Cúng kính, tưởng nhớ ư? Vài chục năm, trăm năm cúng, còn đến năm trăm năm, ngàn năm sau ai cúng? ... Ta có nhiều phép, bất tử, người trần tu mãn kiếp chưa chắc được thế. Nên ta phải cố giữ lấy các ưu thế đó, không để dính vào những ràng buộc nhùng nhằng.”

Hằng nói, buồn rầu: “Chúng ta không phải thần. Em không muốn nhiều con như Thần Núi. Em thích ràng buộc với một đứa bé, chỉ cần một thôi.”

*

Về đến nhà, Lượng thấy Khâm ngồi đợi ở phòng khách. Lạ, ngẫu nhiên lý thú. Vừa nói chuyện với nàng, giờ lại gặp chàng! Hình như Khâm mới ở quán nhậu ra. Mặt anh đỏ kè, quần áo luộm thuộm, mắt luôn nhìn xuống. Lượng vừa ngồi, Khâm đã nói, tỉnh khô:

“Có một chuyện khó giải quyết, đến xin thỉnh giáo ý ông anh… Lẽ ra tôi phải về ngủ một lúc cho khỏe người, nhưng ngại gặp Hằng. Nay cô ấy khó tính, theo dõi tôi gắt lắm! Hôm nọ tôi mặc cái áo hoa xanh đỏ, Hằng hỏi ngay: dạo này sao anh bỏ áo trắng, siêng xài đồ sặc sỡ vậy? Tiếp đến: sao bỗng dưng anh thích nhai kẹo cao su, sao đôi giày còn tốt lại vứt vào giỏ rác, và hàng chục sao này sao kia… Suốt ngày nay tôi giải sầu với mấy thằng bạn ở Quận 2. Lâu lâu gặp nhau, mừng, đãi nhau ít ve!… Anh còn nhớ thằng Nhàn không, Nhàn trước ở gần chợ An Đông ấy? Giờ nó xìu, đang đà xuống chó, vướng phải đủ thứ trở ngại, khó khăn. Thằng gian nan đụng đầu đứa cực khổ, tha hồ than thở, tâm sự! Trong trường hợp này vai trò của bia bọt rất quan trọng, nếu không có nó thì chẳng hiểu ta sẽ trôi giạt về đâu?… Tôi đã kể chuyện Quyên cho Nhàn nghe, nó chịu thua, chẳng góp được ý nào đáng giá… Quyên đẩy tôi vào ngõ cụt. Cô ấy buộc tôi phải chọn lựa, chấm dứt tình trạng chàng ràng lâu nay. Nhưng làm sao chọn? Quyên yêu tôi nồng nàn, điều này không phải bàn cãi. Quyên bảo, nếu lấy nhau hẳn tôi sẽ được nuông chiều như ông hoàng, chẳng phải làm gì cả, chỉ ăn ngủ đánh cờ nuôi cá kiểng thôi, mọi việc cô ấy bao giàn tất! Nhưng anh biết đấy, tôi bỏ Hằng sao được… Chúng tôi lấy nhau vì tình. Trước kia Hằng đã từ chối nhiều đám thơm tho danh giá, tôi không thể… Và còn điều lằng nhằng này: tôi kết Quyên đã ngót hai năm, vẫn chưa thấy dấu hiệu gì, Quyên vẫn trơ xác ra… Có nghĩa rằng, có thể chính tôi là thủ phạm của vụ không đẻ đái!… Người ngoài cuộc thường minh mẫn, anh hãy giúp tôi vài lời khuyên.”

Khâm ra nhà sau rửa mặt và giải tỏa “sức ép” cho cái bụng. Khi trở lên, trông anh chàng tươi tỉnh hơn trước.

“Phiền anh quá, đi làm về chắc anh cần nghỉ… Vào những lúc như thế này mới thấy tình bạn cũng cần thiết như các nhu cầu khác.”

Khâm moi túi quần lấy ra một viên kẹo que. Kẹo xanh, khá to, có cây để cầm.

“Gần đây, gặp nhiều chuyện bấn bíu, đầu óc mình rối tung, chẳng lúc nào yên, bỗng đâm ra muốn hút thuốc. Nhưng Quyên ghét mùi thuốc, cô ấy bảo nên mút kẹo, thế là mút!”

Khâm cười, làm một động tác hài hước: “Buồn cười, đời lắm chuyện!”

Nghĩ sao, Khâm không ăn, lại bỏ kẹo vào túi.

“Tuần trước tôi mất hai ngày đi lại, chờ chực ở trường mẫu giáo quận, nộp đơn xin cho bé Tâm – con Quyên – vào học. Đông lắm, như xem hội, ngày hai buổi, chen lấn, hồi hộp. Ở đó tôi nghe được một chuyện mới, nói về vợ con: Vợ chồng ông bảo vệ ở một trường trung học có ba con gái, đều là con nuôi. Ông bà không con, đến cô nhi viện xin một bé gái. Vài năm sau, bà vợ lượm được một lúc hai bé gái nữa. Cặp sinh đôi này bị ai đó đem bỏ gần thùng rác trước trường… Đến nay ông bà đã lớn tuổi, ông gác cổng, giữ xe, bà quét trường. Ba đứa bé cũng lớn, trắng đẹp, sáng sủa... Trăm người trăm cảnh. Cùng rơi vào hoàn cảnh tương tự như mình, nhưng những người lao động tay chân không suy nghĩ mông lung, xa vời; họ làm ngay những gì họ cho là đúng, hợp đạo lý.”

Khâm hỏi xin ly đá chanh. Nhà không có sẵn chanh, Lượng nhờ vợ pha cà phê mời khách. Khâm uống cà phê, hớp từng ngụm nhỏ, mặt nhăn rúm. Lượng uống trà, vừa uống anh vừa kể Khâm nghe một chuyện cổ. Cổ tích này chưa xưa lắm, không có ma quỷ phù thủy thần tiên: “Cách đây hơn trăm năm, ở miền Trung, trong một làng nhỏ nghèo nằm dưới chân núi, có đôi vợ chồng trẻ độc đáo. Đôi này được dân làng quý mến. Anh chồng tên Đen, vì da anh đen sạm. Hai người chịu khó, cần kiệm, nên tuy chưa giàu nhưng cũng có đủ trâu ruộng nhà cửa. Họ chỉ thiếu một thứ, là con. Cưới nhau đã lâu, từ lúc tuổi mới hai mươi, đến gần bốn mươi họ vẫn son rỗi. Dĩ nhiên, anh chị buồn… Sau khi thử qua nhiều cách chữa trị không hiệu quả, anh Đen nghĩ ra một kế. Anh cho rằng việc muộn con chắc do lỗi ở mình, vợ anh to khỏe mập tròn thế kia không thể “sai” được… Dạo đó, trong làng có anh chàng khố rách, tên Tới, ở miền xa đến, chuyên đi làm mướn. Anh ta hiền hậu, sống một mình, ai thuê gì làm nấy. Anh Đen gọi chàng Tới về nhà, bảo anh ta sửa cái chuồng trâu, đào ao, lên núi kiếm củi, và phụ giúp việc đồng áng, trong hai chục ngày. Chị Đen và anh chàng tội nghiệp không thể biết được ý đồ của anh Đen. Một hôm, anh Đen mua rượu thịt về, cùng Tới ăn uống. Anh chuốc cho chàng trai trẻ say, rồi đẩy vào buồng, buộc vợ ngủ chung. Chị Đen khiếp đảm, nhưng anh chồng thuyết phục, giảng giải, hăm dọa đủ đường, nên chị phải nghe theo. Thủa đó, quyền hạn của đàn ông to lắm, chỉ kém vua và trời thôi… Sáng ra, anh Đen chất vấn vợ một lúc lâu, làm như đó là chuyện chị muốn, không phải do anh bày ra. Chốt lại, anh ta hỏi: “Được, tao hiểu cả, nhưng… nó có hun mày không?” Chị Đen gật. “Mấy lần?” – “Chín, mười lần.” – “Nhiều vậy! Mày có hun nó không?” Chị vợ khóc: “Đừng tra hỏi nữa, chính anh xúi, bây giờ lại… tui không thương, nên không hun nó!” Anh Đen vui vẻ bỏ đi: “Tốt, nếu mày hun là bậy!”. Anh coi hôn hít như cái thước đo tình cảm tốt nhất… Sau đó, hai người toại nguyện, họ có được một bé trai… Chàng Tới về quê. Không ai nghi ngờ gì về nguồn gốc đứa bé. Nhưng khi nó vừa tròn một tuổi, chị Đen bỏ nhà ra đi. Chị không chịu được tính ghen tuông của chồng. Cứ vài hôm anh ta lại khui chuyện cũ ra, hành hạ vợ. Lúc hỏi về khoản hôn ra sao, lúc về các cử chỉ âu yếm thế nào, hỏi mãi, lòng vòng như cối xay cùn…Chuyện còn kể cặn kẽ, chị Đen đi một mình. Dù rất thương con, chị vẫn để đứa bé lại cho chồng. Là người nhân hậu, chị thấy rõ, anh nhắm mắt để sự việc diễn ra như thế, đủ cho biết lòng mong muốn có con của anh rộng lớn như đất trời!”

Khâm nói, như giáo viên phân tích bài thơ:

“Tay Đen hơi khùng, nhưng nghĩ lại có lẽ ta cũng nên thông cảm cho anh chàng… Anh ta như đứa bé nổi giận, đáng thương, tội nghiệp… còn tôi thì sao? Tôi cũng đáng thương!”

Sau ngày đáng nhớ này, trong nhiều tháng, Lượng không sao quên được dáng đi liêu xiêu, cái bóng đen u ám trên mặt Khâm, và lời Hằng nói: “Em muốn ràng buộc với một đứa bé, chỉ cần một thôi.” ./.

11 thg 3, 2010

THẦN THÁNH NHỚ

Cuộc họp bình chọn người đứng đầu trong việc tế lễ khi khởi công xây dựng ngôi đình làng Phú Túc diễn ra khá dài, vui nhộn, sôi nổi. Đây là chuyện quan trọng, không phải ai đảm trách cũng được. Phải là người đứng tuổi và đạo đức tốt. Chỉ cần hai yếu tố ấy thôi, nhưng sáu khuôn mặt được đề cử đều không đạt yêu cầu. Người thực thà, lanh lợi, hay giúp đỡ bà con chòm xóm thì còn hơi trẻ. Người lớn tuổi, tốt bụng, thắng thắn lại không biết chữ. Người chững chạc, sáng sủa, ăn nói rành rẽ thì mặt đạo đức lại “có vấn đề”…Đến lúc anh Lợi – trưởng thôn – đề cử ông Tiếp, mọi người chợt lặng thinh trong giây lát. Dường như ai cũng cảm thấy mình vừa chạm chân vào lằn đích, đã đi đúng hướng. Anh Lợi nói:

“Chú Bảy Tiếp đứng vào vị trí này là hợp nhất. Chú đàng hoàng, trung thực, hiền lành, làm ăn chí thú, ai nấy đều biết”.

Nhiều người tán thành: “Nhất trí chọn chú Bảy… Nào, giơ tay lên, cho ý kiến, cô bác ơi !”

“Chú Bảy số một, không còn ai hơn đâu !...Vì lợi ích dài lâu của Phú Túc hãy dồn phiếu cho ứng cử viên Bảy Tiếp !”.

“Hoan hô bác Bảy ! Tôi giơ luôn hai tay !”

Mọi người góp ý, bàn luận, cười nói ầm ầm. Ông Tiếp bối rối, luống cuống. Tự nhận xét, ông cũng thấy mình là nông dân tốt, làm ăn cần cù, chẳng làm hại ai, nhưng về mặt đạo đức thì không xuôi lọt, có chỗ vướng mắc. Mình không biết mình thì biết ai? Cái chuyện cũ kỹ ấy, chuyện tày trời xảy ra ngoài ba mươi năm trước ấy vẫn chưa tan biến, còn nằm chềnh ềnh như một gò mối trong trí ông, luôn làm ông áy náy, xốn xang… Chuyện của thời quá khứ xa xăm, của miền quê cũ mịt mờ, bây giờ ở đây chắc chắn không ai biết. Chỉ có vợ chồng ông biết thôi…. Nhưng liệu có phải ngoài ông, chỉ còn bà Tiếp biết chuyện đó ? Thế còn ông Trời ? Còn những kẻ khuất mặt ?... Có thể che giấu, dối gạt, lừa phỉnh người trần mắt thịt, dễ gì qua mặt thánh thần?

Ông Tiếp lo ngại. Xưa nay ông vẫn tin rằng con người nhỏ bé, ngu dại, không thể nào so sánh với quỉ thần. Ông đứng dậy ấp úng nói :

“Cho tôi xin rút…Cảm ơn bà con… Tôi không quen ăn nói. Tôi không biết làm việc làng lớn lao”.

Anh Lợi cười: “Trước giờ chú chỉ ăn, nay hãy bắt đầu vừa ăn, vừa nói!... Đâu có nặng nhọc gì, chú Bảy. Cày bừa, cưa xẻ chú còn làm ngon ơ được… Chỉ là chuyện cúng kính. Áo dài, khăn đóng, khấn hứa, vái lạy, như các ông chánh tế, bồi tế trong các buổi cúng xuân, cúng kỳ yên vậy thôi”.

“Tôi biết, nhưng không phải là chuyện chơi… Nó hệ trọng lắm…tôi

không xứng đáng”.

Lập tức bốn, năm người đứng lên, nhao nhao :

“Chú tốt, ở đây chẳng ai hơn. Chúng tôi biết mà, đừng phụ lòng bà con”.

Ông Tiếp cố thoái thác: “Xin anh em bầu người khác, tôi không...không dám nhận đâu…. Xin đừng ghi tên. Ghi vào đó tôi không làm thì trễ nải việc làng”.

Nhưng người ta vẫn sấn tới: “Thay mặt làng cũng là một vinh dự đấy, bác Bảy…. Dù đông đảo, giàu có đến mấy nhưng chưa có cái đình, chúng ta cứ bị coi như là đám dân ngụ cư tạp nham”.

“Mỗi người một tay, anh Bảy… Chúng ta sẽ xây một ngôi đình lớn, đẹp đẽ, chẳng thua ai… Đó là cái nhà chung…”

Vậy là người ta vỗ tay, biểu quyết, hoan hô rầm trời, không cho ông Tiếp nói thêm nữa, coi như ông đồng ý !

*

Về đến nhà ông Tiếp nói với vợ: “Nay mai làng xây đình, vừa mới họp xong đây”.

“Tưởng gì, đình với chùa ! Nghe nói đi nói lại đã ba bốn năm, nào có thấy xây cất gì đâu”. Bà Tiếp cười, ngờ vực.

“Lần này xây thiệt, đủ tiền rồi… Tôi là người đứng ra dựng, chủ tế, bà con vừa bầu chọn”.

“Trời đất, ông điên à !”. Bà Tiếp la lên như sờ phải rắn. “Không được đâu, chết đấy ông ạ !... Phải là người trong trắng mới giữ vai trò ấy được”.

“Tôi không chịu nhưng bà con ép buộc…. Ai cũng bảo là mình tốt”.

“Có thể như thế, bởi người ta không biết…. Nhưng tôi biết, và chắc ông cũng biết chớ !”.

“Khổ ghê đi, tôi từ chối hết lời”.

“Ông kẹ ơi, những chuyện dính líu đến sự thiêng liêng, phép màu, thần linh thì khó khổ phiền phức lắm”.

“Làm sao bây giờ ?”.

Bà Tiếp thất vọng: “Ông cứ lơ mơ, chẳng cứng rắn chút nào !... Đó là chiếc áo thùng thình, ông bận sao vừa ?”.

Tính ông Tiếp xuề xòa, rụt rè. Cũng chính vì vậy mà chuyện động trời ngày xưa ấy đã nổ ra, khiến ông trọn đời phải mang vào cổ tấm bảng “kém đạo đức”… Hồi đó, khi chuyện tình vụng trộm, oái ăm đổ bể, bà Tiếp đã nắm cổ áo chồng, quát tướng: “Tại sao anh dám làm như vậy, hở? Trời Phật ơi! Luân thường đạo lý lộn phèo, chẳng còn tôn ti trên dưới gì nữa !”.

Ông Tiếp xanh mặt, run rét, không nói được một tiếng. Bà Tiếp hét: “Nói đi chớ, ngậm miệng ăn tiền à ? Làm bộ như hiền từ lắm. Tại sao… tại sao anh hành động càn quấy, rồ dại như thế ?”.

“Không phải tại tôi… Em nói nho nhỏ một chút…. Kẻo người ta nghe… tại chị ấy… lỗi do chị Ba”.

“Chị Ba thế nào ?”

“Chị Ba ép tôi”.

“Sao anh không chạy đi ?”

“Tôi đã bỏ chạy ba lần, mà chị ấy không tha”.

Bà Tiếp nghiến răng: “Tôi không tin !... Nghe đây, dù hai mươi, ba mươi lần anh cũng phải chạy…. Thế mới đúng là con người !”.

Bà Tiếp sững sờ. Núi chạy, người bay cũng chẳng làm cho bà kinh ngạc bằng. Một chuyện tréo ngoe, trớ trêu khó tin. Ba Lài, cô gái sắp vu qui, chị ruột bà, lại đi lôi kéo đứa em rể vào con đường loạn luân… Đây không phải chuyện nhẹ nhàng, thoáng qua. Nó còn dẫn tới một “hậu quả nghiêm trọng”: sự ra đời của thằng Mật. Nhưng may mắn làm sao, người ngoài không ai biết chút gì về mối tình này, nên trước sau cha đẻ của thằng Mật vẫn là chồng cô Lài, người có duyên nợ tiền định và vững chắc với cô gái quê tân thời.

*

Năm Tiếp hai mươi ba tuổi vợ anh sinh con đầu lòng. Ba Lài – chị vợ – đến ở nhà Tiếp hai tháng, nuôi em sinh đẻ. Lài vui tính, siêng năng, như luồng gió mát thổi vào ngôi nhà nhỏ ẩm thấp, Chị làm việc nhà mau lẹ, gọn ghẽ. Trong cách cư xử, đối với Tiếp, chị tỏ ra đàng hoàng, đâu vào đó. Riêng phần xưng hô, nếu để ý sẽ thấy, trong những tuần lễ sau, có một sự “biến chuyển” thầm lặng: Xưa giờ ba Lài xưng “chị”, nay đổi thành “tôi”. Chị hơn Tiếp ba tuổi, sắp về nhà chồng.

Ba Lài sắp lấy chồng, ai cũng biết, nhưng những diễn biến tình cảm phức tạp trong đầu cô thôn nữ xinh xắn, tháo vát thì chẳng ai biết…. Hôm đó, khoảng 9 giờ tối, Tiếp ra giếng tắm. Ba Lài ra xách nước. Xách nước đổ vào lu hủ chỉ là cái cớ vu vơ. Lài ngồi bên gốc cây khô cạnh giếng, nói những chuyện chị nhặt nhạnh được ở chợ làng lúc sáng: Ông Nở mới mua một con chó con, giống Phú Quốc, ba triệu đồng. Ông Trữ nằm bệnh viện lớn hai tháng, không khỏi, nay về, chờ ra nghĩa địa. Anh Thông vừa bán hai con bò được mười triệu, mang tiền ra thị trấn mua xe, bị móc túi mất toi sáu triệu… Chị nói, cười, vừa hỏi, vừa đáp như tài tử đóng hai vai.

“Tôi sẽ ở đây tám ngày nữa, rồi về, về để…”.

Tiếp nghe, phân vân, lơ đãng.

“Thiên hạ nói, gần ngày cưới vợ các chú rể mừng không ngủ được, phải không ?”

“Tôi không nhớ”.

“Mới đó đã quên ! Còn tôi, gần cưới, tôi buồn đến bỏ ăn, bạn có biết tại sao ?”.

“Tôi không biết”.

“Trên khắp xứ này, bạn có thấy ai gần lấy chồng mà cứ muốn khóc, bụng dạ lạnh băng ?”.

“Không, ai vậy ?”.

“Ba Lài ! Không vui, bởi vì… mà thôi, nói ra cũng chẳng lợi lộc gì… Tiếp, ba Lài đáng thương không ?”.

“Ờ …. Ừ”.

“Theo bạn, như vậy đáng thương không ?”.

Tiếp đáp bừa: “Đáng lắm !” . Ba Lài bước tới, giật chiếc gàu trên tay Tiếp, quẳng vào lùm chuối.

“Đáng thì thương đi”. Tiếp đứng như trời trồng. Ba Lài vuốt má Tiếp: “Chàng trai trẻ đẹp, ngốc nghếch !”. Cô nàng cầm bàn tay phải của Tiếp một lúc, rồi giúi nó vào ngực mình.

“Chị Ba !”. Tiếp kêu lên.

“Chị Ba làm sao?”. Lài cười hích hích. “Hễ đẹp trai là có quyền hất mặt lên trời hả ?... Cái gì đây, sờ xem !”. Ba Lài nói mãi nhưng dường như vẫn chưa thủng tai gã em rể nhút nhát. Bực mình, buộc lòng chị phải dùng “vũ lực”. Chị vật ngã gã xuống nền giếng, và thẳng tay hành hạ gã đến nơi đến chốn !.

*

Việc xây đình diễn ra đúng như dự tính của làng. Gần hai tháng sau Phú Túc có ngôi đình đồ sộ, đẹp, hiện đại… Một năm, hai năm qua mau. Khi bà Tiếp đã quên mất tấm màn đen đạo đức giăng bên trên vụ cúng tế, ông Tiếp lăn ra bệnh. Ông bị đột quị. Không hiểu sao những năm gần đây chứng bệnh quái ác này nở rộ. Nó có nhiều dạng, nhiều mức độ, phần lớn tiến triển nhanh, hiểm, khó lường… Ông Tiếp nằm bệnh viện tỉnh non ba tháng, về nhà nằm tiếp chín tháng nữa. Có lúc tưởng ông sắp đi đứt. Bà Tiếp nhớ ngay việc cũ. Đúng là nó, cái án treo, không tránh né được! Con người nông cạn, hời hợt, có thể châm chước, bỏ qua các lỗi lầm của nhau, có thể quên dễ dàng nhiều chuyện, còn thánh thần nghiêm khắc linh hiển làm sao quên !

Nằm chán, tốn khá nhiều tiền, ông Tiếp mạnh, trở dậy, đi lại được. Nhưng sự hồi phục này có vẻ lỏng lẻo. Ông bị liệt một tay, méo miệng, ăn uống được, nhưng nói lập bập như trẻ con, đi được nhưng bước thấp, bước cao như anh chàng say…. Bà Tiếp buồn, nổi cáu, dù biết ông đang ở trong tình trạng như người mộng du, không còn sáng suốt, nhưng bà vẫn đay nghiến : “Ông thấy rõ chưa, tôi đã nói, đó chẳng phải chuyện đùa… Trong thế giới con người, mọi thứ đều nhỏ bé, đều nằm gọn giữa vòng tròn của ánh sáng mặt trời, dễ thấy, dễ nhớ, và cũng dễ tan biến. Nhưng với các đấng khuất mặt thì mọi thứ đều vững bền, trăm năm ngàn năm cũng mới mẻ như một tháng…. Nay tôi tin: Ông bị chị Lài tấn công. Giờ ông còn đi đứng, còn sống, nhờ ông thụ động trong chuyện đó. Nếu ngược lại, chắc ông đã chết thẳng cẳng lâu rồi!”. Với gương mặt lem luốc nhiều ngày quên rửa, cái miệng méo, đôi mắt lờ đờ, ông Tiếp nhìn vợ nói. Thật khó biết ông có hiểu gì không ./.

9 thg 10, 2009

CHUYỆN ĐẦU NĂM

Ông Ngãi thuộc lớp người thế hệ 4x nhưng đầu óc khá mới, tính tình cởi mở, mọi sinh hoạt trong gia đình ông đều theo kiểu hiện đại, chỉ còn vài “tiết mục” nhỏ giữ lối cổ, trong đó đáng kể là các kiêng cữ vào những ngày đầu xuân. Ông Ngãi cũng biết những điều này lạc hậu, nhưng không bỏ được, vì chúng đã ăn sâu vào… tiềm thức của ông. Có thể gọi ấy là “tàn dư” của thế kỷ trước còn sót lại. Đặc biệt, ông rất quan tâm chuyện xông đất ngày Tết.

Ông Ngãi luôn chọn lựa kỹ người khách số 1 đến thăm nhà mình vào ngày đầu năm. Có thời gian dài, hơn mười năm, ông nhờ anh Hưng – người em bà con xa – phụ trách việc này. Ông và Hưng hạp nhau ở hai cái tuổi thân – thìn. Ngoài ra, Hưng còn có điểm thuận lợi: ở gần. Hưng! Chỉ nghe tên anh đã thấy hên, phấn chấn! Ông Ngãi sắp xếp, sáng mùng 1 nào anh Hưng cũng ăn mặc bảnh bao, mặt mũi tươi rói tới đạp đất nhà ông lúc trời còn lờ mờ. Phải vậy, nếu không lỡ có thằng lông bông nào đó đến trước thì kẹt.

Khi anh Hưng đùm túm vợ con lên Pleiku sinh sống, ông Ngãi nhờ ông Cường thay thế. Cường cũng tốt, khác gì Hưng!… May sao, trong làng này số người mang sẵn cái tên đẹp còn khá nhiều: Đạt, Phú, Thông, Sung, Thọ, Nghĩa, Thạnh, Phát, Tiến, Sang…

Ông Cường thuộc lứa xấp xỉ 70, râu tóc trắng xóa, đẹp lão, như tiên. Gặp ông, nhìn phớt qua, ta đã thấy no đủ, phú quý… Ông Cường cũng làm các khâu tương tự như anh Hưng trước kia. Để lấy lòng ông, ông Ngãi thường biếu quà cáp: vài chậu cây cảnh, mấy con gà nòi, ít gói cà phê… Làm việc này được chín năm, ông Cường “nghỉ” ngang, lên chầu Trời.

Đương nhiên, ông Ngãi phải tìm lính mới. Nhưng tới đây, xuất hiện trục trặc lớn. Những người có cái tên hàm chứa sự mạnh mẽ, may mắn còn lại đều trẻ. Trẻ thường dễ hời hợt, bốc đồng! Nhiều người từ chối lời mời của ông Ngãi. Họ bảo đấy là chuyện mê tín, tào lao. Có đứa cười mỉa, gạt phắt, chẳng chút tế nhị: “Bỏ trò vớ vẩn này đi, bố! Lẽ ra bố phải tống nó vào viện bảo tàng từ cuối năm 1999 mới đúng!”.

Chán, bất mãn, ông Ngãi xếp việc tìm người mới lại, định bụng để chờ dịp thuận tiện nào đấy sẽ tính, chẳng em này thì em khác!

Vậy là, Tết năm ngoái nhà ông Ngãi không có người xông đất. Việc tưởng nhỏ nhưng nó cũng choán nhiều vị trí trong đầu ông, làm ông mệt, lo lắng. Đã lâu, ông gắn bó với tập tục này. Không dễ từ bỏ ngay cái thói quen từng theo ta mấy thập niên, như hình với bóng.

… Mùng 1 Tết, hừng sáng, ông Ngãi đang rửa mặt trước sân, bỗng thằng bé Đẹt – con bà Liên hàng xóm – chạy ào tới. Nó la toáng: “Ngoại Bảy! Ngoại thấy con gà nhỏ của con sang đây không?” Gà với qué, rõ khổ! “Con gà quạ của con…” Ông Ngãi giật thót. Năm mới cáu, ngày mới tinh thế mà chạm ngay thằng Đẹt! Tiếng Đẹt này khiến ta dễ liên tưởng đến những thứ thấp bé, chậm lụt! Đã thế lại còn gà quạ… ô với mực, quạ với mun! Ông Ngãi quát: “Cút ngay, thằng khỉ đột!” Thằng nhóc biến, nhưng cái khối đen, đẹt vẫn nằm ì trong đầu ông! “Nay chẳng cầu Vượng, Thắng… Phải chi nó tên Trung, hay Hòa còn tạm được!” Ông than thầm, lo sợ, dù vẫn biết chưa hẳn đây là điều đáng lo.

Cái năm chó ngáp ấy trôi qua chậm rì, bụng dạ ông Ngãi lúc nào cũng phập phồng, thắc thỏm. Một tháng, hai tháng, rồi năm bảy tháng qua đi, bình lặng, chẳng có gì lạ. Không lên, cũng không xuống, mức thu nhập của gia đình ông Ngãi chỉ xê xích chút ít so với các năm trước. Vậy vết đẹt, vết quạ không ảnh hưởng gì? Sang tháng 10, tháng 11 xuất hiện vài dấu hiệu mới, nhưng là những thay đổi “tích cực”; tháng nào ông Ngãi cũng thu được những lợi lộc bất ngờ, có món như từ trời rơi xuống. Và, sau rốt, tháng chạp ông “thắng” đậm, chỉ một tháng bằng cả năm! Đến lúc này, sướng quá, ông Ngãi bèn nói cho vợ nghe cái ý ông mới nghĩ ra, như một phát kiến: “Bà biết không, nhiều khi lẹt đẹt lại đồng nghĩa với phát đạt đấy!” ./.