2 thg 3, 2013

NGÔI NHÀ TRÊN ĐƯỜNG HỒNG BÀN


        Tôi gặp nhà văn Võ Hồng lần đầu vào năm 1964. Một chiều hè năm đó, tôi đến nhà ông, trên đường Hồng Bàng, Nha Trang. Để thực hiện cuộc gặp này, tôi đã cố gắng chế ngự cố tật nhút nhát của mình. Tôi cứ nghĩ: “Mình biết gì mà đòi chuyện trò với người lớn? Bàn về văn học, về kinh tế chính trị, hay về ái tình? Mệt à!”.
        Thầy Võ Hồng vui tính, nói chuyện hoạt bát, cởi mở. Thầy đưa tôi xem mấy tờ báo Sài Gòn mới đăng truyện của thầy. “Sách báo đấy, muốn đọc gì em cứ tự nhiên”. Một nhà đầy sách, báo. Căn phòng rộng không có bàn tủ đắt tiền. Vài bức tranh cũ trên tường. Mấy cuốn lịch. Báo la liệt trên sàn, trên bàn, dưới đi văng. Giá sách thật lớn, choán kín một bức tường. Có nhiều sách tiếng Pháp. Thầy yêu thích văn chương Pháp. Thầy nói, đó là một phần tư trí tuệ thế giới. Thầy nói qua về hai tập truyện đã xuất bản: “Hoài cố nhân”, “Lá vẫn xanh”, và cho biết cuốn thứ ba đã viết xong, sắp in. Thầy bảo, đang cố gắng tập cho mình quen với việc viết đều đặn, theo thời khóa biểu, không ngồi chờ cảm hứng. “Cái gì cũng có thể quen cả, tôi nghĩ rằng tôi sẽ theo được cách viết ấy… nhờ đó ta có thể viết nhiều, thắng được thói chần chừ, lười, chậm”. Thầy hỏi tôi thường đọc sách gì, thích những tác giả nào. Tôi nói, tôi thích Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, và nhận xét văn thầy vừa giống Nguyễn Công Hoan vừa giống Thạch Lam. Thầy cười: “Mình cũng yêu hai vị, nhưng mình phấn đấu để không giống ai cả”. Thầy bảo, khi có bài mới, nếu muốn thì tôi đem đến đây, thầy đọc và góp ý cho. Bây giờ, điều cần thiết là học và đọc. “Em nên chịu khó đọc, đó là một cách học. Sách vở sẽ chỉ dạy chúng ta tận tâm… Ráng lên, rồi em sẽ thấy viết được là một hạnh phúc lớn. Trên đời không gì sướng bằng viết xong một bài báo, một truyện ngắn, một bài thơ”.
*
        Giữa năm 1969 tạp chí Văn in cho tôi tập truyện ngắn đầu tay “Một cách buồn phiền”. Từ Sài Gòn tôi gửi cuốn sách còn tươi màu mực về Nha Trang tặng nhà văn Võ Hồng. Ít lâu sau đó tôi đã đọc thấy bài điểm sách của ông trên một tạp chí, viết về tập truyện của tôi. Có thể nói đây là một bài giới thiệu hơn là phê bình. Toàn những lời khen tặng. Những nhận xét ưu ái của người thầy, ông chú dành cho một trò nhỏ, một đứa cháu mới vào nghề. Lúc này Võ Hồng đã nổi tiếng, đã xuất bản ba tiểu thuyết, bảy tập truyện ngắn. Trong số đó cuốn “Hoa bươm bướm” được bạn đọc chào đón nồng nhiệt. Sách ông phần nhiều do hai nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm in. Những cuốn sách sang trọng, in đẹp, trình bày trang nhã, nhìn qua đã muốn mua. Tôi thích nhiều truyện trong hai tập “Con suối mùa xuân” và “Những giọt đắng”. Võ Hồng viết thận trọng, dung dị, trong sáng; chăm chút đến từng cái tên người, tên đất. Văn ông súc tích, có nhiều nhận định, phát hiện thú vị, hóm hỉnh, bất ngờ về con người, về đời sống. Đặc biệt, ông viết thật hay về tầng lớp trung lưu thành thị và nông dân. Ông khắc họa thành công nhiều nét mặt của những nhân vật vốn nằm trong số đông thầm lặng, những người sống giữa đời thường mà thoạt nhìn chúng ta cứ ngỡ chẳng có gì đáng để nói đến. Đọc truyện, ta thấy họ như hiển hiện trước mặt, đi đứng nói cười sinh động, mỗi người một vẻ… Ông viết về miền quê, đồng ruộng, dân cày với tình cảm trìu mến, bằng giọng văn tươi tắn, thấm đẫm ý tình hoài niệm.
        Vào khoảng thời gian này hễ có dịp đi ngang Nha Trang là tôi ghé lại Hồng Bàng thăm nhà văn. Tôi thích đến đây chủ yếu vì tính ông dễ chịu. Khỏi giữ kẽ phiền phức. Không khách sáo mệt mề. Ông chỉ chiếc võng và cái ghế xếp, bảo tôi lấy báo tới đó nằm đọc, vừa đọc vừa trò chuyện, chừng nào chán thì về. Thỉnh thoảng ông còn mời cơm, đãi cà phê. Ông kể tôi nghe nhiều giai thoại văn chương lạ và vui. Ông phân tích, phê bình những cuốn truyện hay mới ra lò. Ông có nhiều nhận xét hài hước, ý nhị về các nhà văn, các ông lớn đang lên chân hoặc đang múa may, làm trò, to tiếng ở Sài Gòn… Nếu cần chỉ bảo, ông nói khéo léo, không dùng giọng của thầy giáo lên lớp: “Về việc này chúng ta nên… Ở điểm này mình nghĩ rằng chúng ta cần…”. Và tôi nhớ điều ông lặp lại nhiều lần: “Có câu hỏi khó mà người cầm bút phải tìm cách trả lời: viết sao để sau này, vài trăm năm nữa, người ta vẫn tìm đọc mình”.
        Hơn mười lần tôi đến thăm ông, lúc nào cũng có ông ở nhà. Không ngồi tại bàn viết thì nằm võng đọc sách. Đọc hoặc viết, dường như ông chẳng làm gì khác. Nhà lúc nào cũng yên tĩnh, vắng lặng. Những người bà con của ông ở phòng bên cạnh đi lại nhẹ nhàng, lặng lẽ. Họ nói khẽ, không cười đùa. Những bữa cơm của nhà văn có vẻ đặc biệt, nó gọn nhẹ quá mức. Một mâm nhỏ. Ông ngồi một mình bên mâm cơm trơ trọi. Đã lâu, quá lâu rồi, ông không có bữa cơm gia đình.
        “Không nhiều thì ít, em nên viết thường xuyên, nếu nghỉ lâu ngòi bút sẽ yếu, ngượng, han rỉ”. Những lời động viên, chỉ dạy của ông tôi vẫn nhớ, nhưng chẳng thực hiện được mấy. Phần vì sống xa thành phố, phần do kém ý chí, do việc mưu sinh nhọc nhằn, cây cuốc đè nặng trên vai nên tôi chỉ sản xuất cầm chừng; lâu lâu được cái truyện ngắn, lắm khi cả năm bói không ra một chữ… Những năm gần đây, mỗi khi ghé lại Hồng Bàng, để tránh trả lời câu hỏi của nhà văn: “Có viết gì không anh bạn”, tôi chủ động hỏi trước: “Thầy có viết được bài nào mới không?”. Và chúng tôi lại xáp vào nói chuyện văn chương, sách báo như đã từng nói mấy mươi năm qua… Ngày tháng trôi đi thản nhiên, nhịp nhàng. Tuổi tác vô tình phủ chụp bụi tro tàn úa xuống đầu con người, không chừa một ai. Nay tôi cũng đã bước vào tuổi xế chiều, huống chi ông. Cho nên bây giờ nhìn thấy ông còn khỏe mạnh đã là điều đáng mừng.
        Thầy Võ Hồng bị nhũn não, nhiều năm qua nằm một chỗ. Bài này tôi viết trong dịp mừng ông thượng thọ 80 ./.

8 thg 11, 2012

VỀ VỚI MẸ



      Trong gian phòng chật hẹp có bốn bàn thờ, ba trang thờ. Thầy Mười Chắc đốt nhang đem cắm lên tất cả các nơi đó, rồi rót rượu khắp lượt, mỗi chỗ một ly nhỏ. Thầy đứng giữa nhà, chắp tay, nhắm mắt, khấn vái ê a như hát dân ca. Làm xong các nghi thức ấy, thầy Mười đến ngồi đối diện Hiền và Linh, rót trà uống liền ba ly, không mời khách. Nhìn dáng điệu, cung cách hành lễ của thầy Mười, Linh thấy ngồ ngộ, buồn cười, nhưng Hiền theo dõi rất chăm chú, thành kính… Mở đầu, thầy hỏi tuổi của vợ chồng Hiền và thằng Khanh – con chị – hỏi kỹ về Khanh, nó thường giao du với ai, trước khi đi có bộc lộ hành động gì lạ không. Hiền trả lời rành mạch. Thầy Mười mở quyển sách chữ Hán, lật giở tìm tòi một lúc lâu. Cuốn sách cũ mèm, đen xỉn, nhiều trang rách.
      Thầy Mười Chắc là người biết chữ Hán duy nhất còn sống trong xã. Trước đây thầy chuyên coi chọn ngày tốt cho việc xuất hành, cưới gả, ma chay, xây cất. Dân trong vùng và các xã lân cận ít nhiều ai cũng tới gặp thầy vài lần, bởi không ai tránh khỏi các chuyện hệ trọng và cần thiết đó. Hai năm gần đây thầy Mười nhảy sang lãnh vực chữa bệnh, bói toán, trừ tà, bằng cây lá và bùa chú. Chẳng ai biết thầy học pháp thuật và cách trị bệnh ở đâu, nhưng khách đến am đều đặn, và danh thầy Mười Phước Tường cũng bay đi khá xa. Chức sắc địa phương không can thiệp vào vụ này, do thầy chỉ chữa các bệnh nhỏ, và không đòi tiền công. Con bệnh trả thù lao tuỳ tâm, bằng gà vịt, bánh trái, nếu muốn gọn chỉ cần đặt lễ vài ba chục ngàn, rất khỏe và tiện lợi.
      Theo lời người quen chỉ vẽ, Hiền mang đến đây một giỏ bánh ngon, một bó nhang thơm. Chị không rành trong việc này. Xưa giờ chị chưa hề đi coi bói, càng không để ý đến chuyện am miếu. Chị xếp các thứ này vào loại dị đoan, lạc hậu, mê muội. Nhưng cách đây tám hôm, con chị – thằng Khanh – đứa con trai độc nhất, bỏ nhà đi hoang, quan điểm chị đổi khác… Đột ngột, nó từ bỏ cha mẹ anh em, nhà cửa, sách vở. Tại sao nó đi, đi với ai? Phát – chồng Hiền – chạy đến các nơi quen biết, xa mấy cũng đến, để tìm. Trình báo với công an. Nhang đèn van vái sáng nhà, cầu cho thằng nhỏ hồi tâm quay về. Mười tám, trên lý thuyết, là tuổi thành niên, nhưng Khanh chưa ra dáng người lớn. Nó chẳng biết một nghề nào, ngốc nghếch, dại dột. Tám triệu bạc, một mớ quần áo, nó sống được bao lâu?… Lúc nghe Hiền rủ đi Phước Tường coi bói, Linh ngạc nhiên. Ban đầu Linh định châm vài câu trêu chọc nhưng nhìn nét mặt ủ dột của chị, Linh không dám. Lạ đấy, nhưng đi thì đi, xem cho biết am đền đồng bóng nó thế nào! Thầy Mười ở Phước Tường, có tiếng lắm, ngay cả những người không bệnh hoạn mất mát gì cũng nghe danh thầy.
      Thầy Mười Chắc khoảng ngoài sáu mươi, gầy nhom. Trông thầy hiền, lờ đờ, như ông lái heo “về hưu”, chẳng giống tướng thầy bà. Nếu bây giờ thầy cầm ngược cuốn sách đọc, Linh cũng không thấy lạ!… Tra cứu trong sách xong, thầy hỏi, nhỏ nhẹ:
      “Đệ tử có quen ai ở Sài Gòn không?”.
      “Dạ, có”. Hiền đáp.
      “Sa Đéc, Cần Thơ?”.
      “Dạ, không”.
      “Đó là hướng nam. Thằng nhỏ này đi về nam… Tuổi nó năm nay xấu, nhất là từ tháng sáu đến tháng tám”. Hiền dạ, cung kính.
      “Nó đi với một gã trai, cao lớn, đen đúa”.
      Hiền hỏi lại:
      “Một người đàn ông, đen… không lẽ nó bị bắt cóc?”.
      Thầy Mười nhìn ra sân, đăm chiêu. Nhiều loại nhang khác nhau cùng cháy một lúc tỏa ra một thứ mùi gây gây, nửa thơm nửa khét.
      “Đệ tử chớ lo lắng quá, bọn trẻ đi rong là chuyện thường… Đến cuối năm, tháng mười một tháng chạp, sự việc sẽ xoay chuyển qua phía khác, thuận hơn, tốt hơn, chừng đó ta sẽ biết tin”.
      Hiền hốt hoảng:
      “Phải đến tháng chạp mới biết sao thầy?”.
      Linh không ngờ lo âu có thể khiến người ta phờ phạc như thế, nhìn vẻ mặt Hiền lúc này thật đáng thương.
      Một bà thấp người, hồng hào – là vợ thầy Mười – từ nhà dưới lên, chắp tay thưa:
      “Con mướp nằm thẳng cẳng, mắt trợn ngược, dường như nó sắp chết, thầy xuống coi giùm”.
      Thầy gắt: “Ta bận, mèo với chuột, cứ để đấy!”.
      Bà vợ không chịu: “Phải cho nó uống thuốc giải… nó chết mất… tại thầy cả”.
      Thầy Mười nạt: “Sao lại tại ta, con nữ này hỗn!”.
      Bà vợ thụt lùi, đi xuống, nhưng vẫn buông thêm một câu: “Con mèo yếu… đã nói là đừng bắt nó ăn”.
      Chờ cho chuyện mèo lắng lại vài phút, thầy Mười nói:
      “Trước tiên, đệ tử hãy đến tìm ở các nhà quen, hướng Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long… Nóng ruột thì tìm, nhưng ta thấy sớm lắm cũng phải cuối năm nó mới về”.
      Hiền nói như than:
      “Ông xã con đã đi Đà Lạt, Phan Rang, Qui Nhơn, Pleiku… Còn non sáu tháng nữa, lâu quá, chúng con điên mất!”.
      Thầy gật gù: “Ai cũng thương con… Có điều chắc chắn, ta bảo đảm, nó mạnh lành khỏe khoắn, chẳng sứt mẻ gì”.
      “Tạ ơn thầy!”. Hiền vái ba cái: “Đó chính là thứ con ước muốn… mong cho nó bình an”.
      Bỗng nhiên, từ nhà bên cạnh phát ra tiếng máy hát, lớn hết cỡ, như sấm động. Những lời tình tự yêu đương, anh em nhão nhoẹt. Thôn xóm chật hẹp, đông đúc, chơi tự do thoải mái kiểu này thì một người hò hét cả trăm người phải nghe. Thầy Mười có vẻ khổ sở.
      “Thằng này xấc láo, chẳng nể ai, đã kiểm điểm cả chục lần, như nước đổ lá môn… Nó thường gọi ta là lão lang băm. Rồi mọi người sẽ thấy, nó là thằng chết tiệt, vô hậu, càng về già càng lụn bại”.
      Thầy đến bàn thờ giữa, nhấc lư hương lên lấy ra một tờ giấy vàng. Đó là lá bùa, dài chừng hai gang tay, viết đầy những hàng chữ đen ngoằn ngoèo. Thầy bảo:
      “Đệ tử dán bùa này lên cửa phòng, hay đầu giường thằng nam”. Và dặn: “Từ nay, vào các ngày mùng một, rằm, đệ tử nhớ cúng thường xuyên. Không cần nhiều lễ vật, chỉ chè xôi hoa quả… Tối nào cũng lên đèn cầu nguyện thánh thần trời đất ở trước sân”.
      “Dạ, con hiểu, nhưng khấn thế nào ạ?”.
      Thầy lừ mắt nhìn chị, như quở trách, chuyện dễ vậy cũng hỏi.
      “Cầu xin các bác các đẳng âm hồn cô hồn, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, kẻ chết sông chết suối người chết bụi chết bờ… điều lành đem tới điều dữ tống đi, phù hộ cho phước đức gia đình phát vượng, để vượt qua mấy tháng hung hạn u trệ… Các bác các đẳng là những vị qua đời nhằm giờ thiêng, không người cúng giỗ, linh lắm… các vị sẽ mở mắt thằng nam, dẫn dắt nó quay về”.
      “Dạ, con nhớ rồi”. Hiền thấy trong dáng điệu của thầy nét chững chạc, trong giọng nói có sự đáng tin cậy, trong ánh mắt có vẻ thân thiện. Điều gì làm chị thấy như thế? Có lẽ xuất phát từ lòng thương con!
      Thầy Mười đến trước các nơi thờ, vái thật sâu, mỗi chỗ ba vái, xong lễ. Thầy khoe:
      “Cách đây hơn tháng có một ông ở Tân Quí, mãi trong Tân Phú, tới nhờ tìm bà vợ đi hoang. Ông ấy đoán bà ta trốn nợ, ta bảo theo trai. Xác thực là thế. Trốn nợ không phũ phàng bằng theo trai!… Trước đó ít lâu, một ông chủ nhiệm ở Quận 3 đến hỏi về chuyện mất của. Ông ta mất hộp nữ trang. Ta nói, con trong nhà lấy, ông ấy không tin, nghi cho con bé giúp việc. Ta dám đem cái thủ cấp già này ra đặt cược… Về sau, quả đúng như ta thấy, một quý tử của ông ta lấy trộm, đương sự phục quá”.
      Linh ngắm kỹ thầy, mong tìm thấy ở ông già khô đét này những dấu hiệu khác người thường… Thời buổi văn minh, đã qua thế kỷ 21 khá lâu, sao vẫn còn các hình thức sinh hoạt mơ hồ, thiếu cơ sở khoa học? Các thầy loại này giỏi thật không, có trị được bệnh cứu người không? Nếu có, kết quả ở mức nào? Nếu không, tại sao người ta vẫn tìm đến nhờ giúp đỡ. Vấn đề có lẽ nằm ở chỗ “lưng chừng – nửa tối nửa sáng”, điểm giáp ranh giữa hư và thực… Có bệnh thì vái tứ phương. Con người, dù đã khôn ngoan, giỏi hơn xưa, nhưng vẫn còn các nhược điểm lớn, vẫn bị bệnh tật, tai họa bất ngờ và chết chóc đe dọa, đeo bám bên lưng. Bước vào khu vực này thì khoa học chưa thể hoặc không thể giải quyết được gọn gàng.
      Hiền đặt lễ một phong bì khá dày. Thầy Mười cầm, rút lấy hai tờ giấy bạc.
      “Ta nhận tiền nhang đèn, chừng này thôi… làm phước giúp bá tánh… À quên, thằng nam có bạn gái chưa?”.
      “Dạ, chưa đâu ạ, cháu còn dại… nó ham học lắm”.
      “Người lớn tuổi hay lụy vì tiền, thanh niên thì khổ do sắc… Đệ tử yên tâm, nó sẽ về, tự quay về”.
      “Dạ, con mong ngày mong đêm”.
      “Đệ tử gan dạ lắm, gặp cảnh ngộ này nhiều bà khóc mùi, bỏ ăn”.
*
      Trên đường về, Linh hỏi Hiền:
      “Chị đoán thử Khanh đi đâu, tại sao nó đi”.
      “Chị đã nghĩ nát nước, chịu”.
      “Nếu nó lớn hơn tí nữa, ta có thể nghi nó theo người yêu… Thầy Mười lấy lễ bao nhiêu?”.
      “Bốn chục ngàn”.
      “Ở nông thôn số tiền ấy rất đáng kể… mỗi ngày tiếp ba khách là ấm… Đi cấy, trên nắng dưới bùn, còng lưng, ngày công chỉ hai mươi ngàn”.
      “Không tính như vậy, em ạ… Thu nhập hàng tháng của ca sĩ nổi tiếng có thể lên tới hai, ba trăm triệu. Nhiều cầu thủ bóng đá lãnh lương bảy, tám chục ngàn bảng Anh mỗi tuần… Có những loại công việc giá trị rất riêng, không thể đo lường bằng cân ký chợ búa”.
      Linh vẫn đưa ra những nhận xét làm Hiền không vừa lòng:
      “Ông ấy lớn tiếng quảng cáo, tự khen mình, miệng lưỡi ngọt xớt… Khó biết chỗ nào thầy thấy được nhờ con mắt thứ ba, điểm nào nói mò”.
      “Không dễ đánh giá, nó như tín ngưỡng, tín đồ phải tin vô điều kiện… Linh cũng biết, xưa nay chị đâu có ưa thích chuyện phù phép viễn vông hoang đường… Chẳng có gì rõ ràng cả, nhưng nghe thầy Mười nói chị cảm thấy một cái gì đó chắc chắn, khiến mình vững bụng… Gần nửa năm nữa, hơi lâu, nhưng dù sao nó về là tốt… ôi, con với cái!”.
      Vững bụng? Có lẽ trong lúc bối rối, lo sợ, đây như chiếc phao để chị bấu víu, dù có thể là phao ảo.
      “Thầy Mười đáo để, sắc nhọn lắm… chị nhớ không, thầy rủa lão hàng xóm sau này sẽ tàn mạt”.
      “Nói như thế là nguyền rủa? Em nghiêm khắc quá!”.
*
      Thằng Khanh về, sau bảy mươi ngày phiêu lưu tình ái thơ mộng, thú vị với một bạn gái. Anh chị vù ra Đà Nẵng, ở nhà bà dì ruột của “nàng”. Vợ chồng Hiền mừng quính, không la mắng, gạn hỏi Khanh câu nào, bởi sợ nếu làm om lên sẽ gây thêm sự dòm ngó chú ý của lối xóm, chẳng ích gì. Nó về là may lắm rồi… Mới hơn hai tháng nhưng trông Khanh khác trước, da nó sậm, người chững chạc… Đà Nẵng, cái xứ nắng gió xa tít ngoài Trung, không phải Nam bộ!
      Anh Phát mở một bữa tiệc mừng, đãi bà con ở gần và vài bạn thân. Tiệc nhỏ, nhưng ấm cúng, thịnh soạn. Không còn gì vui hơn, anh chị rất quí trọng con. Dĩ nhiên, Linh cũng được mời… Linh nói với Hiền:
      “Đà Nẵng! Thầy Mười Chắc lại nói vào Nam”.
      “Sao đúng hoàn toàn được, đoán mà”.
      “Về sớm, chắc anh chị hết tiền?”.
      “Không, vì Khanh nhớ nhà, nhớ ba má! Chị đã nói, nó vẫn còn nhỏ… Con bé đó ghê thực, nó bày mưu tính kế, vẽ đường”.
      “Thầy Mười bảo đến cuối năm nó mới về”.
      “Cũng xê xích chút ít, như bác sĩ chẩn đoán bệnh… “đoán” thì có lúc đúng lúc sai”.
      Nhưng thầy Mười Chắc nói sai nhiều, Khanh cặp với bồ thầy lại bảo đi cùng một ông! Linh thấy lạ, Hiền không chê trách ông thầy đó tiếng nào.
      “Thầy nói đúng các điều cốt tử, là Khanh trở về, và mạnh lành… Tương lai của nó vẫn tươi nguyên, nó sẽ học lại, nay không thi thì sang năm thi, muộn chút xíu, chẳng mất gì!”.
      Một ông bạn hỏi anh Phát: “Giờ đây chắc chúng ta không còn gọi thằng Khanh là chú bé nữa?”.
      Anh Phát đáp, vui vẻ: “Tất nhiên rồi, ngay như luật pháp cũng đã quy định từ lâu, mười tám là tuổi trưởng thành!” ./.

13 thg 9, 2012

GIỐNG MỚI


         Cha mẹ Nhâm muốn có cháu bồng nên thúc giục anh lập gia đình sớm. Nhâm cưới vợ năm hai mươi tuổi, nhưng bảy năm trôi vút qua vợ chồng Nhâm vẫn chưa có con.
        Nhâm thấp người, nhỏ con nhưng khỏe mạnh, rắn rỏi. Bảy Là – vợ Nhâm – cao lớn hơn chồng. Hai người đều sợ bị quy tội gây ra việc hiếm muộn. Bảy Là tìm đến hàng chục chùa, đền, am miếu, cúng lạy cầu con. Nhâm lui tới mòn dép ở các phòng khám, bệnh viện, gặp bác sĩ, thầy lang, tây ta đủ dạng. Cuối cùng, Bảy Là chán nản, buông xuôi. Nhâm quay sang làm theo kinh nghiệm dân gian: bí mật đi “gieo giống” trên nhiều “loại đất”.  Cũng chính khâu này đã nói cho Nhâm biết, một cách hùng hồn, anh là hạt giống mốc cời!
        Nhâm buồn, chán đời, bê trễ trong việc làm ăn, tính nết thay đổi. Trước anh hiền khô, ai nói gì cũng cười, tối ngày cần mẫn cày cuốc, trời chưa sáng đã có mặt ngoài đồng. Nay anh nói năng cục cằn, mặt mũi lúc nào cũng cau có, ưa gây gổ với mọi người, và thích rượu… Chỉ một thời gian ngắn Nhâm đã chễm chệ ngồi cùng chiếu với băng nhậu Năm Giáo. Tên anh nằm trong sổ nợ của tất cả quán trong làng và nhiều quán lớn ở chợ xã. Ba, bốn ngày trong một tuần người ta thấy Nhâm ôm chai nước cay khư khư trước ngực, say mèm, đi nghiêng ngả, xiêu vẹo trên đường như người bị bịt mắt. Anh nói với các bạn: “Ông trời chỉ con đường này cho ta thì ta phải bước đúng trên đó, tiến về phía trước, tới đâu mặc xác!”.
        Một đêm trăng, Bảy Là nấu cháo heo sau vườn, Nhâm ra, đến ngồi sát bên vợ. Ngồi một lúc, anh nói, giọng tâm sự:
        “Anh không phải thứ người ồn ào, hời hợt như bọn Năm Giáo… Em biết đấy, anh khổ vì chuyện con cái của tụi mình”.
        “Nghĩ ngợi làm gì cho đau đầu, thong thả rồi sẽ có!”.
        “Không thể có, em à, anh biết. Lúc có thì tám tháng mười ngày đã có thể đón mừng một chú nhóc! Chúng mình sống với nhau lâu quá rồi”.
        “Thôi, bỏ qua vụ đó đi, nói chuyện gì vui vui”.
        Nhâm nắm tay vợ, hôn liền mấy cái.
        “Anh thương em… chuyện này do lỗi của anh”.
        Bảy Là đẩy Nhâm ra. “Em đi đây, anh đừng nói nữa”.
        Nhưng Nhâm vẫn không buông tay vợ. “Đâu phải chuyện đùa. Ba má mong cháu đỏ mắt, em cũng muốn con, nhưng anh…”.
        Bảy Là ôm đầu Nhâm vào ngực mình, vỗ nhè nhẹ, như ông đánh xe nựng con ngựa. “Im, im nào! Sao bữa nay ăn nói lung tung thế!”.
        “Anh không con, nhưng em vẫn ở với anh chớ?”. Nhâm nghẹn ngào, như sắp khóc. Bảy Là bối rối. “Đã biểu đừng nói nữa”.
        Nhâm nói đứt quãng: “Đã quen có em, anh không thể tưởng tượng ra cảnh sống mà thiếu em bên cạnh. Anh thương em… Em đừng bỏ anh… Anh biết, em sẽ thương người khác, sẽ bước qua một con đường khác!”.
        Bảy Là vò tóc chồng, cười nhỏ, nói bằng giọng đùa cợt: “Lớn sù còn làm nũng, không mắc cỡ sao?… Nếu có rẽ sang con đường khác thì em cũng sẽ dẫn anh theo, em hứa!”.
        Sau vài phút nín lặng, Nhâm nói: “Anh muốn tụi mình có hai con, một trai một gái”.
        “Em chỉ cần một, trai gái chi cũng được”.
        “Anh sẽ đặt tên bé gái là Trúc Đào. Bé trai để em đặt”.
        Bảy Là lại cười. Chị vui tính, thích đùa, nhưng trong cuộc sống lại gặp nhiều chuyện buồn. “Tên không quan trọng, anh có thể đặt cho tất cả”.
        Hồi lâu, anh chị không nói gì.
        “Con của mình… Em muốn có một đứa để sáng chiều chở nó đi học”.
        “Anh mong hai đứa đều giống em, anh chẳng có điểm nào đẹp cả”.
        “Anh nịnh, em như cây cau!… Chị Thủy thường nói, chị chán việc đưa đón bọn trẻ đi học, coi đó như một gánh nặng. Còn em, em lại thích như thế”.
        “Anh đã nghĩ rồi, nghĩ rất chín, là em có thể có con, nhưng vẫn ở với anh”.
        “Anh sao em vậy, mình không thể cãi trời. Chúng ta sẽ sống với nhau tới chết!”.
        Nhâm xoa má vợ. “Được rồi, em tốt lắm… Nghe này, em có thể đi lại với bất cứ ai để có con… nghe chưa… đó sẽ là con của chúng ta”.
*
        Bảy Là không để ý lắm đến chuyện “tìm con” của Nhâm nói, nhưng chỉ hai tuần sau, như có một bàn tay phù phép nào đó xếp đặt, chị chạm trán Chín Chu, một chuyên gia “cho con”. Trong làng, Chu nổi tiếng với hai đặc điểm: giàu có và máu trăng hoa. Tính tình anh ta dễ chịu, rộng rãi, thường giúp đỡ mọi người. Hàng xóm ai túng thiếu chạy đến, Chín Chu sẵn sàng đón tiếp, cho mượn tiền, không hơn thiệt, không tính lời. Riêng đối với phụ nữ Chu càng tỏ ra hào phóng. Anh ta dùng tiền bạc làm mồi câu, mua chuộc lòng người. Ai cũng biết Chu là tác giả của câu nói nổi tiếng: “Không có con mẹ nhà nghèo nào chê tiền!” Anh ta thường nói câu đó một cách thích thú, như truyền bá một tư tưởng lớn… Trong khắp ba xã quanh vùng, Chu có năm, sáu nhân tình với một mớ con rơi. Mọi người biết rõ chuyện này, vợ Chu cũng biết, nhưng chị ta yếu ớt, hay đau bệnh nên làm ngơ… Qua miệng mấy bà làm thuê, người ta loan ra nhiều giai thoại về chuyện lăng nhăng của Chín Chu. Bữa nọ cô vợ trách móc: “Ông cứ đem tiền nuôi mấy con quỷ cái, thiên hạ cười xấu mặt.” Chu hỏi: “Nuôi ai, ông ngu lắm à?… Mày thấy, ông làm ra tiền, mà những đứa làm được nhiều tiền không bao giờ ngu.” – “Nuôi ai thì ông biết, không che được mắt làng xã đâu.” Chu nổi quạu: “Có gì phải che giấu! Tiền của ông, ông xài, đây không cướp giựt của đứa nào!” – “Thấy chướng thì họ nói, vì trời cho người ta cái miệng và hai mắt, cấm sao được!” Chu cười gằn: “Vậy là mày muốn gây sự. Ờ, nói cho bớt tức, nhưng nên nhớ, ông không lấy tiền của cha mẹ mày!”. Chị vợ thở ra: “Chắc ông nghĩ hễ có tiền là làm gì cũng được, muốn nói sao thì nói, hèn chi ông tuyên bố rùm lên: hết thảy bọn đàn bà nghèo đều mê tiền!” Chu quát: “Đúng, chính ông rao thế đấy!… Bọn chó chết đê tiện lúc nào cũng ganh tị, ghét những kẻ giỏi hơn chúng… còn lũ đàn bà động đực, chúng khoái ông, ông không hãm hiếp đứa nào!” – Và chuyện khác: một hôm vợ Chu bắt gặp một bức thư trong túi áo anh ta: “Anh Chín yêu thương. Sau khi suy nghĩ hai ngày bạc tóc, em viết thư này cho anh. Em không muốn làm anh bận tâm, phiền lòng. Nhưng đã ba hôm rồi bé Phú Cường ngả bịnh. Nó nằm bẹp, lúc nóng lúc lạnh, chẳng rõ bịnh gì… Anh vẫn thường nói, anh sống có tình nghĩa, thủy chung. Bé Phú Cường là kết quả mối tình mặn nồng của hai ta. Đối với em nó là vàng ngọc, lẽ sống… Em nhớ, anh từng nói nhiều lần, anh không phải con gà cồ, bỏ mặc bầy con cho gà mái, vô trách nhiệm. Anh cam kết sẽ chăm sóc, bảo bọc con suốt đời… Anh mau đến thăm Phú Cường – Em, người yêu anh trong kiếp này và kiếp sau”. Chị vợ hỏi: “Thư này của ai?” Chu ú ớ. “Ghê gớm, ngọt như đường hóa học! Tình tứ, tươi mát như trai gái mười bảy!”. Chị ta nghiến răng, mắt long lên. “Ông nói đi, chuyện này thế nào?” Chu cà lăm: “À, nó chỉ là… chỉ là… coi như chuyện qua đường, đâu phải vợ chồng” – “Rành rành một thằng nhỏ, nó mấy tuổi?” – “Hình như bốn” – “Ông có mấy đứa loại này?” Chu đáp, nhỏ nhẹ: “Làm gì có mấy đứa… toàn chuyện vui vẻ, văn nghệ, thoáng qua rồi bỏ”. Chị đàn bà cười sắc lạnh. “Hỏi cho vui, tôi biết nhiều hơn ông tưởng! Đây là thư của Kim Phượng, bán trái cây ở chợ thị trấn, ngồi gần khu giày dép… Tôi sợ một ngày nào đó người ta sẽ chém bay đầu, chặt đứt chân ông! Tôi cũng sợ sau này tôi và mấy đứa nhỏ không còn nhà cửa để ở, ruộng vườn để cày cấy, tiền bạc để học hành… Gieo gì gặt nấy… Bao năm rồi ông đi gieo cỏ.”
*
        Buổi sáng, khoảng 8 giờ, Bảy Là đến nhà Chín Chu mua lúa giống. Nhà có vẻ yên vắng. Hai bé gái – con Chu – chơi nhảy dây gần cổng. Chu tưới cây kiểng trong sân. Vào giờ này chắc những người khác ra đồng hoặc đi chợ.
        Chu mời khách vào nhà dưới, ngôi nhà dài nửa là phòng khách nửa làm kho chứa lúa. Nghe Bảy Là xin mua giống, Chu nói không có gì trở ngại, năm phút xong ngay, xóm giềng giúp nhau là nghĩa vụ. Anh ta pha trà và bưng ra một dĩa bánh ngọt mời khách. Rồi anh ta rề rà nói chuyện thời tiết nắng mưa, chuyện đồng áng gieo cấy, thật cặn kẽ, dài dòng. Bảy Là nôn nóng nhưng không dám giục, ngại mất lòng.
        “Lâu lắm mới gặp em. Nay em đen, da hơi sậm, nhưng vẫn trẻ”.  Chu  cười hì hì.
        “Dạ, làm sao trắng được, anh Chín, tối ngày cuốc cuốc gánh gánh, phơi mặt ngoài đồng”.
        “Nhưng Bảy vẫn trẻ, cốt yếu ở chỗ đó! Trẻ và đẹp, chớ già úa là hết, xong đời!”.
        “Loại giống này ra sao, anh Chín?”.  Bảy Là hỏi đưa đẩy.
        “Số một. Anh đã làm hai vụ, gieo một giạ gặt mười tám giạ. Em ăn bánh đi, để anh vô đong lúa”.
        Chu xách bao đi ra sau. Bảy Là nhìn ngắm một lượt khắp phòng. Nơi đây cái gì cũng mới và đẹp. Tủ bàn, máy truyền hình, chiếc xe Nhật, cái đi văng… Lát sau, Chu ôm bao lúa ra để bên cửa rồi gọi con vào sai bảo gì đó. Hai đứa bé vâng dạ, dắt xe ra chở nhau đi.
        “Xong rồi, bốn giạ, anh đong đầy vun”.
        “Không, ba giạ thôi, anh Chín”.
        “Cứ lấy cả đi, gieo cho dày dặn”.
        “Ba giạ là vừa, với lại em chỉ đem tiền mua ba giạ”.
        “Không sao, cho em nợ”. Anh ta tới ngồi bên Bảy Là. “Thôi, coi như anh thêm chút ít, em đem về cho gà vịt nó ăn, khỏi nợ”.
        Chu nhìn Bảy Là chăm chăm, cái nhìn rất lạ. “Chắc vua ong bướm muốn trổ tài đây.” Bảy Là sực nhớ câu nói của chồng: “Em đi lại tự do với bất cứ ai để có con”, bất giác chị rùng mình.
        “Bầy gà nhà em nhìn sướng mắt quá”.
        “Anh Chín thấy à?”.
        “Anh mới đi ngang qua hôm kia. Lúc đó Bảy quét sân, ông già cho gà ăn gần bếp, Nhâm Lép thì dựng cây ăng ten”.
        Bảy Là đứng lên, chị thấy cần phải về ngay. Trong phút chốc chị bỗng nhớ đến những điều người ta thường nói về Chu. Loại chuyện đó khá nhiều, ai cũng biết: mấy mối tình nhăng nhít chớp nhoáng. Những đứa con rơi. Các trò tán tỉnh, gạ gẫm. Thứ giọng điệu ngọt ngào đầu môi. Những đồng tiền hấp dẫn, đầy ma lực.
        “Thôi, em về”.
        “Khoan đã, chơi chút nữa, vội gì”.
        “Chị Chín đi chợ?”. Bảy Là lúng túng. Chị chẳng hiểu vì sao mình lại hỏi thế.
        “Bà ấy đi Mỹ ăn đám cưới thằng cháu… Mỹ Đồng ấy mà!”.
        “Anh vui tánh quá!”
        Chín Chu tỏ ra rất hào hứng. “Xưa giờ anh vẫn vậy. Đời mà em! Sống tốt với nhau, thương yêu nhau ta sẽ thấy việc gì cũng nhẹ nhàng, và ta phấn chấn, khỏe, trẻ lâu… Hơn nữa, thử nghĩ xem, bủn xỉn, cáu kỉnh, gắt gỏng để làm gì, được gì?… Lâu nay em sống vui vẻ không?”.
        “Không vui, cũng chẳng buồn”. Bảy Là ngẫm nghĩ giây lát, “nhưng lo lắng thì có thừa”.
        “Chuyện con cái chớ gì? Đó là lỗi của Nhâm Lép, chắc chắn thế… Em khỏe mạnh, tươi tắn thế này… Nhưng đừng lo, em còn trẻ, ngày rộng tháng dài”.
        Chu nhìn xoáy vào mắt Bảy Là, cái nhìn bốc lửa. Bảy Là lại nhớ câu nói của Nhâm đêm nọ, chị rùng mình.
        “Vô trong kia anh cho Bảy xem một thứ nếp giống mới”. Chu nắm tay Bảy Là. “Bữa rằm anh ra Vạn Phước mua được mấy bao nếp tốt. Loại này mới toanh, năng suất cao, quanh đây chưa ai có… Em vào xem, nếu thích thì lấy vài giạ”.
        Không đợi Bảy Là đồng ý, Chín Chu kéo chị về phía căn phòng nhỏ gần đó. “Không, tôi về! Tôi không cần!” Bảy Là luống cuống, hốt hoảng. Chu lôi từ túi quần ra một nắm tiền lớn, giúi vào tay chị đàn bà.
        “Em cầm lấy… đây là tiền…”
        “Coi kìa! Tiền gì thế này?”. Bảy Là kinh ngạc.
        “Anh tặng em”. Chín Chu lắp bắp. “Em cầm, đừng ngại… anh muốn nói…”.
        Bảy Là giấu hai tay ra sau lưng. “Sao lại tặng, cái ông này!”.
        “Nghe đây, Bảy, anh thương em, thực bụng thương em…”.
        Bảy Là run sợ, chị bước lùi mấy bước. Chu theo sát, nói như dỗ dành:
        “Anh yêu thương em từ lâu. Em đẹp, hiền hậu. Anh sẽ cho thật nhiều tiền, để em bớt khổ… Đồng tiền là xương cốt của đời. Không có nó thì dù đẹp đến mấy, giỏi tới đâu cũng chỉ như kẻ câm điếc… Em hãy quên thằng Nhâm Lép đi. Nó gà mái, ngốc nghếch, bạc nhược… Quên nó đi. Nó làm em khổ suốt đời thôi”.
        Bảy Là bước lùi ra cửa lớn, xua tay. “Anh Nhâm có thể là con gà mờ, nhưng anh ấy không khi nào muốn làm khổ tôi”.
        “Em hãy nghe…”.
        “Tiền bạc ai cũng cần, nhưng tôi không phải hạng người lông bông như anh nghĩ đâu. Tôi không biết…”. Chị chạy ra sân, tóm lấy gióng gánh quảy về, bỏ lại hai cái bao, quên thóc quên giống, nhẹ tênh như lúc đến ./.
 

14 thg 4, 2012

ĐẸP VÀ ẢO


           Đêm đó ông Tây Phong gặp một giấc mơ dài. Ông thấy mình hì hục đẩy chiếc xe đạp chở nặng trên con đường làng vắng ngắt. Trời tối, mưa xối xả, đường đất lầy lội. Bao khoai lang nặng trịch. Phải dắt, không thể nào cỡi được. Ông muốn mau về đến nhà. Vợ con ông chắc mỏi mắt chờ ông. Mấy ngày qua nhà không còn hột gạo. Vợ ông lại bệnh. Ông dừng lại sờ bọc gạo nhỏ treo trên cổ xe. Nó vẫn còn đó. Ông đã gói, buộc nó kỹ như gói vàng. Chắc là ăn được ba ngày. Chắc vợ ông sẽ vui lắm. Chắc lũ con… Nhưng sẽ ăn cơm với thức gỉ? Người bệnh làm sao nuốt trôi cơm muối? Ông lo lắng. Trời đất vẫn đen kịt. Mưa vẫn trút nước. Ông đẩy xe dò dẫm bước, mệt nhoài, bụng dạ nóng ran. Đột nhiên trời nổi sấm chớp chằng chịt, đùng đoàng, ông Tây Phong tỉnh dậy.
        Ông bật đèn, ra phòng khách ngồi. Hú vía, chỉ là chiêm bao! Ôi, cứ như thật, rõ chẳng khác gì xem vi-đê-ô! Ông mệt bả người… Cái làng Tân Lâm quạnh hiu ấy, những ngày tháng cơ hàn ấy đã đè nặng gia đình ông mấy chục năm dài. Nhưng nhờ trời, ông đã giũ bỏ được chúng, hăm ba hăm bốn năm rồi. Sao nay quỷ ma nào xui khiến chúng lại trở về ám ông?
        Ông Tây Phong đi vào nhà tắm lau mồ hôi, rửa mặt. Tim ông vẫn còn đập dồn. Thật đáng kinh hãi. Trời ơi, nếu nay mà phải sống lại y như những năm ấy thì chết còn hơn. Từ lâu ông không còn nghĩ, nhớ gì về nó. Với ông, quãng thời gian đó đáng được vùi lấp, chôn sâu xuống một hầm mộ bê-tông!
        Hay giấc mơ này bắt nguồn từ cuộc nhậu đêm qua, một trận ăn nhậu, một tiệc rượu sáng loáng! Có thể lắm, bia rượu nhiều khi làm cho trí óc người ta xộc xệch! Bữa tiệc do một công ty bạn khoản đãi, có tính chất giao hảo, không lớn lắm, chỉ khoảng năm sáu chục người, nhưng nó “tới” và “nổ” không chê được… mãi đến 1 giờ sáng ông mới về tới nhà.
*
        Hai hôm sau ông Tây Phong lại gặp giấc mơ đó. Nó quay về, giống như đúc, chẳng khác một chi tiết nào. Đến ba đêm kế tiếp ông lại thấy nó. Ông Tây Phong sợ điếng, nhưng không biết đối phó cách nào… Không thể không ngủ. Chẳng lẽ phải mướn vệ sĩ canh gác ở cửa phòng… Qua tuần sau nó lại đến hai lần. Rồi tuần kế nữa ba lần. Nguy ngập! Chẳng khác gì động đất, hoặc núi lửa phun!
        Một hôm, tình cờ ông phát hiện ra cái gút lớn: bữa nào ông dự tiệc tùng, chè chén thì tối về sẽ gặp giấc mộng ấy. Kỳ quái. Nhưng làm sao không dự các cuộc yến tiệc? Đó cũng là công việc của ông. Lắm tuần, thời gian ông ngồi ở bàn làm việc ít hơn ở các nhà hàng. Quả là gay go! Nhưng đến đây ông Tây Phong cảm thấy nhẹ người. Dù sao cũng đã tìm ra một đầu mối, biết được một góc triệu chứng căn bệnh. Không còn nghi ngờ gì, đây là một chứng bệnh, bệnh lạ, cần phải được nghiên cứu tường tận.
*
        “Dường như đêm ngủ ai cũng nằm mơ cả, nhưng thường chỉ là những hình ảnh mờ nhạt, sáng dậy không còn nhớ gì”.
        “Có một dạo ngủ trưa con cũng chiêm bao, thấy toàn những cảnh đẹp, huyền ảo, vui thú”.
        “Mơ mộng lằng nhằng! Đó là một cách làm việc, hay là hình thức nghỉ ngơi, rong chơi của đầu óc?”
        “Gần đây tôi chỉ thấy bướm, và lượm được tiền. Cha ơi, bướm! Chật kín, sáng rừng, có con lớn bằng cái nón. Tiền thì vô số, như lá tre rụng, bay trắng đường. Thức dậy, tiếc lắm… Nhưng thà như thế còn hơn ông thấy cái làng Tân Lâm”.
        “Con không biết làng ấy ra sao. Nghe nói hễ mình thường nghĩ đến cái gì sẽ mơ thấy cái đó. Nhưng hôm trước bỗng nhiên con thấy lại thằng Toản, dù cả chục năm nay con đã quên mất nó. Toản hồi trước học cùng lớp với con ở Vạn Khánh”.
        “Ba cũng không hề nhớ cái làng Tân Lâm. Nhớ để làm gì? Đó là con đường ta chỉ nên đi qua một lần”.
        “Anh Trung nói, sẽ viết thư giới thiệu anh với ông Thúc Quýnh. Ông ấy rất giỏi”.
        “Ông ta là ai, nhà tâm lý học hay bác sĩ tâm thần?”.
        “Bác sĩ Quýnh ở Sài Gòn mới về, nổi tiếng lắm, ba ạ”.
        “Tôi chẳng bệnh hoạn gì hết. Tôi không bị tâm thần. Đơn giản là tôi chiêm bao”.
        “Anh xanh xao, thất thần”.
        “Ba không mạnh đâu. Ba gầy, thường lơ đãng, lúc nào cũng như đang bận lo nghĩ”.
        “Tôi chưa hề nghe nói đến thứ bệnh chiêm bao. Có thể là có một trục trặc nho nhỏ”.
        “Khi lớn tuổi người ta dễ gặp bệnh tật, ba ạ, như trẻ con dễ gặp… ma”.
        “Nên đến chỗ ông Thúc Quýnh, anh à. Chẳng tốn kém lắm đâu, anh Trung bảo đảm”.
        “Bảo đảm? Chà… phải chi cái ông Quýnh ấy bước thẳng được vào cơn mơ của tôi, để ông ta tận mắt thấy”.
        Bà Tây Phong và Đính – anh con trai lớn – thuyết phục ông Tây Phong đi khám bệnh. Ông không bác bỏ cũng không hưởng ứng… Khi vợ con đã ra ngoài, ông Tây Phong đi loanh quanh trong phòng mấy lượt, và nói, nói to cho chính mình nghe: “Hồi giờ mình vẫn tưởng trong tủ có đầy tiền là sướng tột đỉnh, nay thấy khác, khỏe mạnh mới là tốt nhất”.
        Không nghe lời vợ con, không chịu đi bác sĩ, nhưng theo chỉ dẫn của một người bạn, ông Tây Phong tìm đến am thầy Sáu Sửu ở xóm Cây Gạo. Thầy là một phù thủy mới, áo vest – giày tây – xe gắn máy, chuyên trị bệnh tâm thần tà ma, mắc đàng dưới. Thầy nổi tiếng đã ngoài chục năm, cái am “2 sao” của thầy lúc nào cũng đông khách, thân chủ tấp nập. Những người theo tân học lắc đầu: “dân chủ, tự do mốt 90. Ai lên mặt trăng sao hỏa, cứ lên, ai đi am đi động cứ đi”.
*
        Sau khi ông Tây Phong lên xe về, bà Sáu Sửu hỏi chồng:
        “Dường như ông cạo lão đi ô tô con hơi mạnh?”.
        “Phải bệnh phải tiền, không mạnh đâu. Bệnh này hiếm có, vô cùng rối ren”.
        “Dù giàu sang đến mấy nhưng năm triệu bạc cũng chẳng phải nhỏ”.
        “Năm triệu, đúng! Nhưng đổi lại là ba thang thuốc quý, ba lá bùa và khỏi bệnh”.
        “Bệnh gì, ông nắm rõ?”.
        “Tâm thần. Đã tâm thần thì không ai dám nói thế nào là rõ. Khó ở chỗ đó, dễ cũng chỗ đó!”. – Thầy Sáu Sửu nói, cứng cỏi tự tin. – “Một dạng tâm thần mới. Có điều tôi biết chắc, ông ta sẽ trở lại đây, để cám ơn hoặc xin thuốc mới… Bà biết đấy, khi mua một món đồ đắt tiền người ta thường yên chí đó là đồ tốt”.
        Bà Sáu không nói gì.
        “Ông ấy tỏ ra rất tin tôi. Tin thầy là đã khỏi bệnh một nửa”.
        “Ông ta có vẻ sang trọng”.
        “Dường như là một nhà buôn lớn. Ông ấy nói mới bệnh hơn tháng đã sụt tám cân”.
        “Cầu trời cho ông ta chóng lành!”.
        Một lát, thầy Sáu nói, nhỏ nhẹ:
        “Dù bệnh không dứt hẳn cũng chưa phải đáng lo. Chỉ cần nó thuyên giảm. Có nghĩa là chữa khỏi được chừng tám phần mười thì coi như lành! Tôi tin, tôi sẽ đẩy lùi nó. Bà thấy đó. Tôi đã chữa lành hàng trăm người, lắm khi chỉ bằng mấy ly nước giếng, vài mớ lá cây, rễ cây… Nếu nó còn chút ít thì có thể nói ta đã thành công! Các phần tử sót lại ấy sẽ làm quân bình đầu óc ông ta. Nó là cái máy nhắc nhở về cội nguồn, để ông ấy nhớ lâu. Nhớ rằng xưa kia mình là ai. Nhớ rằng tại nhiều nơi, nhất là nông thôn, bà con mình lắm người vẫn còn cơ cực. Nên ta sống, ăn ở thế nào cho phải, cho đúng… Có điều cần, tôi sẽ tìm cách làm cho các giấc mơ xuất hiện thưa, tháng thấy một lần là vừa”.
*
        Ông Tây Phong về làng như quan Trạng vinh quy. Dân chúng đổ xô ra đón chào đông nghịt, trải dài từ đầu làng đến trường học. Có mặt đông đủ các vị hương chức và bô lão. Cờ đuôi nheo sặt sỡ, biểu ngữ giăng ngang dọc trên các ngả ba, ngả tư. Bà Tây Phong được tặng ba bó hoa to như ba bó lúa. Tân Lâm khác xưa nhiều quá. Nhà cửa hầu hết đều tường xây mái ngói. Những căn nhà lá nhỏ, thấp tè, như những mụt cóc đen đã biến mất. Đường sá thẳng tắp, rộng thênh. Ruộng lúa, ruộng mía xanh sẫm… Tại trường tiểu học, học sinh đồng ca và múa tập thể đón khách. Trên một trụ cổng trường, ông Tây Phong thấy có một tấm bảng đồng khắc mấy chữ lớn: “Đội xây dựng số 4 thi công, tháng 5-1992. Ông Tây Phong tặng 50 triệu đồng”. Ông Tây Phong ngơ ngác. Ông chỉ cho vợ thấy tấm bảng. Bà Phong ghé sát tai ông, nói nhỏ “Mình tặng đấy… Tôi giấu ông gửi tặng trường 50 triệu”. – “Giấu tôi! Ô kỳ diệu, bà hay quá!”. Và ông nghĩ: “Giỏi thật, cái mụ đàn bà lẹt đẹt lôi thôi này! Xưa giờ mình chẳng hề nghĩ đến việc cho ai một thứ gì, dù chỉ là một trăm, hay một lon gạo”. Đám học sinh nhỏ gân cổ hát một bài nghe hùng tráng, vui vẻ… Ông chủ tịch huyện lên đọc diễn văn nói về quá trình xây dựng trường. Ông nêu ra một dãy dài những con số, những ngày tháng. Ông dành 15 phút cảm ơn các nhà hảo tâm đã đóng góp công của, đặc biệt tám lần nhắc đến tên ông Tây Phong, người tặng nhiều tiền nhất… Tới lượt ông hội trưởng phụ huynh học sinh lên phát biểu cảm tưởng, tên ông Tây Phong lại được nói đến sáu lần. Sau cùng là màn chụp ảnh. Có đến hai ông “phó nháy”. Người ta chụp hàng trăm pô ảnh. Ông bà Tây Phong được chào mời, lôi kéo đi khắp nơi, ai cũng muốn được đứng cạnh những vị hằng tâm hằng sản… Trong một phút hứng khởi, sảng khoái, ông Tây Phong nắm lấy tay vợ, nói như cảm tạ: “Em ơi, vui quá chừng. Anh thấy là mình không đi đứng như ngày thường, anh đang bay đang bơi!”. Nghe tiếng “Em” lạ tai, bà Tây Phong đỏ mặt ngượng, quay ra cười sằng sặc, bà cười dài, cười mãi.
        Đó là giấc mơ mới.
        Chạy chữa theo phương pháp thầy Sáu Sửu được mười ngày, uống hết hai lá bùa, hai thang thuốc, ông Tây Phong thấy bệnh thuyên giảm rõ rệt. Giấc mơ lì lợm ấy vẫn còn nhưng đã mờ nhạt, như có một lớp tro xám phủ lên. Uống đến thang thuốc thứ ba thì một hiện tượng lạ xảy ra: giấc mơ trước biến mất, thay vào đó là một giấc mơ khác, như trong rạp người ta thay phim. “Đùa dai, quái quỉ!”. Ông Tây Phong thấy kỳ cục, buồn cười. Nhưng ông nghe trong người thư thái, vui sướng. Giấc mơ này đẹp thật. Nó không làm ông lo sợ, căng thẳng, nhọc mệt. “Thú vị quá, thấy như mình vừa dạo chơi trên những ngọn đồi cao nguyên đầy hoa hồng, thoáng đãng, mát rượi. Như mình vừa tắm thỏa thích trong một hồ nước thơm ngát nằm giữa một khung cảnh thần tiên vi vu gió núi, rộn rã tiếng chim ca… Mơ thế này có thể gọi là mơ vàng, mỗi tuần cho ta thấy hai lần cũng được!”.
*
        Ông Tây Phong lên thăm thầy Sáu Sửu trong tâm trạng phấn chấn, vẻ mặt hớn hở. Nhưng thầy Sáu đi vắng, chỉ có vợ thầy coi am. Ông Tây Phong đem theo một chồng quà bánh cao ngất. Bánh ngon, rượu ngoại, thuốc thơm, trái cây quí, khô mực, khô nai, toàn của đắt tiền… Ông Tây Phong mở giỏ lấy nho, táo ra sắp vào hai dĩa, cung kính mời bà Sáu. Ông hết lời ca ngợi thầy Sáu Sửu, người tuy chưa thể sánh với Hoa Đà, nhưng là vị thầy thuốc giỏi nhất mà ông được biết. Thuốc của thầy nhẹ, mỏng, ít nhưng hay. Uống nó dễ dàng như uống trà, không đắng, không hôi, không cay. Nói vòng quanh một lúc theo kiểu rào đón, xong ông kể cho bà Sáu nghe giấc mơ mới, và đi thẳng vào ý chính:
        “Thưa cô, tôi định nhờ thầy tìm cách giúp cho tôi được giữ lại cái giấc mộng này”.
        “Giữ lại, giữ như thế nào?”. – Bà Sáu nhướng mắt hỏi.
        “Dạ, nghĩa là không để nó mất đi… nghĩa là tôi muốn lâu lâu được thấy nó một lần”.
        “Ơ, tôi hiểu rồi! Ông muốn được nghe ngợi khen?”.
        “Dạ, mơ thấy như thế người mình nhẹ nhõm, vui tươi lắm ạ, mọi sự mỏi mệt, lo rầu đều bay biến”.
        “Chắc cũng từa tựa như ông muốn mỗi tuần được xem một phim hài?”.
        “Thưa, đúng vậy, phim vui, nhưng phải do chính các vua hề đóng”.
        “Gay đấy… đập phá thì dễ. Cho tôi nghĩ một chặp, ông làm tôi rối trí”.
        Nhìn chồng quà cáp trên bàn bà Sáu Sửu phân vân, lo ngại. “Biếu tặng như thế này là một kiểu lo lót khéo. Lót nhằm đạt được các mục đích kín, cao của mình. Nhưng ông ấy lo cho ta thì dễ. Còn ông Sáu, liệu ông có thể tìm ra cánh cửa nào để tới gõ, cầu xin lưu giữ được cái giấc mộng ấy chăng? Có cách nào thu phục cảm tình, lôi kéo các thế lực vô hình ngã về phía ta? Phương cách nào?”.
        “Hay nay mai ông bỏ ra ít tiền đem cúng tặng các cơ sở từ thiện, như thế ta sẽ được ca ngợi, khỏi phải mơ mộng phiền phức?”.
        “Thưa, không dễ đâu. Mình cho ít họ sẽ không nói tới. Còn cho nhiều thì… biết bao nhiêu là nhiều. Vả lại, làm việc từ thiện bằng cách biếu tặng tiền, vàng như mọi người thì tầm thường lắm”.
        “Thường thế nào?”
        “Thưa cô, nghĩa là… tôi không muốn làm một người tầm thường”.
        “Ôi, ông làm tôi rối trí!”. – Bà Sáu ôm đầu kêu lên.
        Ông Tây Phong đi rồi, bà Sáu Sửu vẫn còn ngồi trầm ngâm hồi lâu. “Con người khó hiểu thật!”. Bà không đụng tới những món quà. Một đứa cháu nhỏ của bà chạy đến xòe tay xin trái cây. Bà đưa nó một chùm nho, nhưng nó lắc đầu, đòi nguyên cả dĩa. Bà nắm tai nó, mắng yêu:
        “Chó con, tham ăn!... Ừ, nội cho cả hai dĩa đó… Ăn nhiều vào, chóng lớn”.
        Thằng bé bê nguyên dĩa táo, líu lo: “cháo cảm ơn nhội”
        “Ăn nhiều, mau lớn để thấy những điều kỳ quặc xung quanh ta, chó con ạ… Như ông nội mày, người chưa bao giờ biết rõ năng lực của mình, luôn luôn hăm hở nhảy vào làm các công việc mà kết quả tùy thuộc phần lớn vào yếu tố rủi may. Như ông thương gia lúc nãy, một kẻ quen tật không nhìn người khác, cứ chăm chăm săn sóc, chiêm ngưỡng mình, quen tính cầm một đồng đi mua một món đồ trị giá mười ngàn… vui tếu, ngộ lắm chó con ạ” ./.