30 thg 8, 2011

VỢ CON NHỌC NHẰN

“Khâm chán ghét em, đã bốn hôm anh ấy không về, chẳng rõ đi đâu. Tối thứ bảy vừa rồi, lúc đưa tiền cho Khâm đi mua chiếc xe gắn máy, thế chiếc mất tuần trước, em đùa: “Từ nay anh nhịn ăn sáng và uống cà phê trong sáu tháng, bù vào số tiền này.” Anh ấy gầm lên: “Sáu tháng! Tính kỹ chưa, sao không phải ba hay sáu năm?” Từ lúc đó Khâm không nói gì với em nữa. Anh thấy đấy, em đùa thôi mà. Khổ thực, đây đâu phải giáo đường, cười cợt tí chút cũng không được!… Hai đứa sống với nhau đã tám năm, dĩ nhiên hiểu rõ tâm tính nhau… Có một cái gì đó vừa xảy ra, dường như Khâm đổi khác. Tháng trước, trong lúc xem phim truyện trên truyền hình, gặp một chuyện tình buồn, Khâm nói: “Tình đẹp phải buồn, các cuộc tình vui đều lãng xẹt… chúng ta sống chung tám năm hai tháng hai ngày, chưa buồn!” Em sợ, anh ạ! Khâm tính lúc nào để có ngay con số tháng năm đó. Rõ ràng đây chẳng phải vô tình. Anh ấy tính làm gì? Em mất ngủ mấy tuần… Sao lại có thể lập luận như vậy? Muốn chuyện ngoài đời giống hệt trong sách truyện, phim ảnh, thật vô lý.”

Lượng ngồi nghe Hằng nói, chỉ nghe, không bình phẩm. Đối với Lượng, hai bên đều là bạn, đồng cân. Hơn nữa, anh từng đoán trước chuyện này sớm muộn cũng đổ bể, và sắp tới sẽ còn nhiều màn ly kỳ khác nữa… Khâm có một mối tình mới, đã khá lâu. Bạn bè đều biết, Khâm hiền, không đào hoa trăng hoa, anh chỉ muốn kiếm một đứa con, muốn chứng minh tình trạng hiếm muộn lâu nay của vợ chồng anh do “lỗi” của Hằng. Mấy năm qua, hai người đã đi thăm hàng chục thầy lang vườn, bác sĩ Tây, áp dụng nhiều phương pháp trị liệu, vẫn chưa thấy kết quả. Chờ đợi, trông ngóng khiến cả hai phờ phạc. Trẻ cậy cha, già cậy con. Ai cũng muốn những năm tháng cuối đời được sống đầm ấm bên con cháu.

Khâm gặp Quyên, là một cuộc tái ngộ. Thời còn nhỏ anh chị đã biết nhau. Lớn lên, Quyên lấy chồng xa, đi biệt gần mười năm, nay quay về, đem theo một đứa con gái… Trong thành phố nhỏ người ta dễ quen nhau. Không ai rõ phải mất bao lâu để từ chỗ quen biết sơ sài Khâm, Quyên tiến đến mức yêu thương. Khi sự việc này biến thành một tin nóng, anh chị đã là vợ chồng hờ hơn cả năm dài. Chỉ có Hằng, ngủ kỹ trong cái “tổ ấm” ở đầu bắc thành phố, không biết. Khâm như con chim thiên di, đêm ở chiếc tổ phía bắc, ngày về với tổ đầu nam thành phố, khoảng cách năm cây số đường chim bay.

“Em đoán chuyện này liên quan đến vụ con cái. Từ lâu em coi đây như việc đã an bài, nên chấp nhận, chẳng chống chọi nữa. Mình không sinh thì kẻ khác sinh, cõi đời luôn thừa người! Nhưng chắc Khâm nghĩ khác. Vẫn là nối dõi, có hậu, thừa tự thừa kế!… Dễ gì giũ bỏ nếp nghĩ đã ăn sâu trong máu thịt hàng ngàn năm, dù ai cũng biết kiểu nghĩ đó xuất phát từ người Tàu trung cổ… Nói thực với anh, lúc đầu em cũng buồn, em không phải thánh. Nhưng sau nhiều đêm trăn trở, nghiền ngẫm, em đã tìm thấy, chọn cho mình cái đáp án “chấp nhận”… Ở đây, chưa nói lỗi phải về ai. Không khó lắm đâu, anh ạ. Thời nay, loại bệnh này chẳng còn là vấn đề quá phức tạp… Em trọng tình nghĩa. Hai đứa sống với nhau từng ấy năm, chưa hề xích mích lớn, nói theo lối văn hoa: vẫn mặn nồng như thủa ban đầu! Nên em thấy rằng, có thể xí xóa châm chước cho nhau mọi lỗi lầm… Con người sống trên đời ai cũng gặp trục trặc, phải gánh chịu lắm điều bất ưng, không ở mặt này thì mặt khác. Nghĩ cho rốt ráo, đây là thứ lỗi ta vô tình mắc phải, đúng không anh? Vậy, nếu có gì đáng kể, đó là cách ta đánh giá, nhìn nhận nó. Em coi nó như món nợ lớn số phận dành sẵn cho mình… Em sẵn sàng sống tiếp với Khâm, như từng sống hơn tám năm qua.”

“Hai bạn nghĩ tới việc xin con nuôi chưa?” Lượng hỏi.

“Em đã đưa ra giải pháp đó, nhưng Khâm bác bỏ. Anh ấy bảo, chỉ dùng đến nó vào phút cuối, khi hết cách, bởi nó nhão lạt như đồ hộp hư, gượng ép giả tạo như ca kịch vụng.”

Hằng pha cà phê mời khách. Lượng uống cà phê, và kể cho Hằng nghe một chuyện cổ: “Ngày xưa, trong dãy núi Phổ Đà trùng điệp có ngọn núi lớn hình thù kỳ dị, chứa đầy hùm beo, dày đặc cổ thụ và hoa thơm cỏ lạ, tên là núi Cấm. Vị thần cai quản Cấm Sơn tướng mạo phương phi, giỏi phép thuật, có nhiều vợ, đông con. Thiên hạ đồn, ông có mười con. Ông chia lãnh thổ của mình ra thành nhiều khu vực, để các con trấn giữ. Đứa làm chủ những con suối, đứa giữ rừng, đứa chăm nom hang động, đứa phụ trách muông thú, rất rành mạch. Nhưng Cấm Sơn thâm u, rừng thiêng nước độc nên khá hoang vắng, xóm làng dân cư gần nhất cũng ở cách đó ngoài ba mươi dặm. Chỉ có một vị thường tới lui thăm hỏi Thần Núi, là Thần Gió. Thần thánh mới lọt được vào xứ sở này… Thần Gió tính xuề xòa, nghệ sĩ chính tông. Ông sống lang bạt, không nhà, không vợ con, sớm đón bình minh ở đầu non chiều nằm ngắm trời cuối biển. Thấy bạn loay hoay, bận rộn, chìm ngập trong hàng ngàn việc tủn mủn, ông chán ngán. Ông hỏi Thần Núi:

“Ta ngủ đâu cũng được, không ăn cũng sống, tội gì ông làm khổ thân xác mình như thế?”

Thần Núi đáp:

“Vì con. Phần ta khỏe rồi, nhưng phải lo cho chúng nó… chúng có thể gặp nhiều bất trắc. Ta cần hướng dẫn, chỉ bảo chúng trong mọi việc.”

Thần Gió bĩu môi:

“Lúc nào cũng con… cứ đẻ cho lắm, rồi khổ phờ râu! Hãy xem tôi đây.”

Thần Núi cười khì:

“Ông thấy gần, chẳng biết nghĩ xa. Trước mắt sướng đấy, nhưng về lâu dài… Tôi hỏi nhé, sống cô độc như ông, mai sau lỡ gặp rủi ro, như bị phạt bị đọa, thì lấy ai giúp đỡ; khi đi đứt ai thương nhớ, hương khói cầu nguyện?”

“À, ra vậy! Ông lo quá xa, nghĩ đến ngày thần qua đời, thần cũng có thể gặp này nọ mà chết!”

Đến đây họ không bàn luận nữa. Mấy ngày sau, gặp lại nhau, Thần Gió nói:

“Về chuyện chúng ta tán hôm trước, tôi đem kể cho Thần Sông nghe, ông ấy bảo: “Cúng kính, tưởng nhớ ư? Vài chục năm, trăm năm cúng, còn đến năm trăm năm, ngàn năm sau ai cúng? ... Ta có nhiều phép, bất tử, người trần tu mãn kiếp chưa chắc được thế. Nên ta phải cố giữ lấy các ưu thế đó, không để dính vào những ràng buộc nhùng nhằng.”

Hằng nói, buồn rầu: “Chúng ta không phải thần. Em không muốn nhiều con như Thần Núi. Em thích ràng buộc với một đứa bé, chỉ cần một thôi.”

*

Về đến nhà, Lượng thấy Khâm ngồi đợi ở phòng khách. Lạ, ngẫu nhiên lý thú. Vừa nói chuyện với nàng, giờ lại gặp chàng! Hình như Khâm mới ở quán nhậu ra. Mặt anh đỏ kè, quần áo luộm thuộm, mắt luôn nhìn xuống. Lượng vừa ngồi, Khâm đã nói, tỉnh khô:

“Có một chuyện khó giải quyết, đến xin thỉnh giáo ý ông anh… Lẽ ra tôi phải về ngủ một lúc cho khỏe người, nhưng ngại gặp Hằng. Nay cô ấy khó tính, theo dõi tôi gắt lắm! Hôm nọ tôi mặc cái áo hoa xanh đỏ, Hằng hỏi ngay: dạo này sao anh bỏ áo trắng, siêng xài đồ sặc sỡ vậy? Tiếp đến: sao bỗng dưng anh thích nhai kẹo cao su, sao đôi giày còn tốt lại vứt vào giỏ rác, và hàng chục sao này sao kia… Suốt ngày nay tôi giải sầu với mấy thằng bạn ở Quận 2. Lâu lâu gặp nhau, mừng, đãi nhau ít ve!… Anh còn nhớ thằng Nhàn không, Nhàn trước ở gần chợ An Đông ấy? Giờ nó xìu, đang đà xuống chó, vướng phải đủ thứ trở ngại, khó khăn. Thằng gian nan đụng đầu đứa cực khổ, tha hồ than thở, tâm sự! Trong trường hợp này vai trò của bia bọt rất quan trọng, nếu không có nó thì chẳng hiểu ta sẽ trôi giạt về đâu?… Tôi đã kể chuyện Quyên cho Nhàn nghe, nó chịu thua, chẳng góp được ý nào đáng giá… Quyên đẩy tôi vào ngõ cụt. Cô ấy buộc tôi phải chọn lựa, chấm dứt tình trạng chàng ràng lâu nay. Nhưng làm sao chọn? Quyên yêu tôi nồng nàn, điều này không phải bàn cãi. Quyên bảo, nếu lấy nhau hẳn tôi sẽ được nuông chiều như ông hoàng, chẳng phải làm gì cả, chỉ ăn ngủ đánh cờ nuôi cá kiểng thôi, mọi việc cô ấy bao giàn tất! Nhưng anh biết đấy, tôi bỏ Hằng sao được… Chúng tôi lấy nhau vì tình. Trước kia Hằng đã từ chối nhiều đám thơm tho danh giá, tôi không thể… Và còn điều lằng nhằng này: tôi kết Quyên đã ngót hai năm, vẫn chưa thấy dấu hiệu gì, Quyên vẫn trơ xác ra… Có nghĩa rằng, có thể chính tôi là thủ phạm của vụ không đẻ đái!… Người ngoài cuộc thường minh mẫn, anh hãy giúp tôi vài lời khuyên.”

Khâm ra nhà sau rửa mặt và giải tỏa “sức ép” cho cái bụng. Khi trở lên, trông anh chàng tươi tỉnh hơn trước.

“Phiền anh quá, đi làm về chắc anh cần nghỉ… Vào những lúc như thế này mới thấy tình bạn cũng cần thiết như các nhu cầu khác.”

Khâm moi túi quần lấy ra một viên kẹo que. Kẹo xanh, khá to, có cây để cầm.

“Gần đây, gặp nhiều chuyện bấn bíu, đầu óc mình rối tung, chẳng lúc nào yên, bỗng đâm ra muốn hút thuốc. Nhưng Quyên ghét mùi thuốc, cô ấy bảo nên mút kẹo, thế là mút!”

Khâm cười, làm một động tác hài hước: “Buồn cười, đời lắm chuyện!”

Nghĩ sao, Khâm không ăn, lại bỏ kẹo vào túi.

“Tuần trước tôi mất hai ngày đi lại, chờ chực ở trường mẫu giáo quận, nộp đơn xin cho bé Tâm – con Quyên – vào học. Đông lắm, như xem hội, ngày hai buổi, chen lấn, hồi hộp. Ở đó tôi nghe được một chuyện mới, nói về vợ con: Vợ chồng ông bảo vệ ở một trường trung học có ba con gái, đều là con nuôi. Ông bà không con, đến cô nhi viện xin một bé gái. Vài năm sau, bà vợ lượm được một lúc hai bé gái nữa. Cặp sinh đôi này bị ai đó đem bỏ gần thùng rác trước trường… Đến nay ông bà đã lớn tuổi, ông gác cổng, giữ xe, bà quét trường. Ba đứa bé cũng lớn, trắng đẹp, sáng sủa... Trăm người trăm cảnh. Cùng rơi vào hoàn cảnh tương tự như mình, nhưng những người lao động tay chân không suy nghĩ mông lung, xa vời; họ làm ngay những gì họ cho là đúng, hợp đạo lý.”

Khâm hỏi xin ly đá chanh. Nhà không có sẵn chanh, Lượng nhờ vợ pha cà phê mời khách. Khâm uống cà phê, hớp từng ngụm nhỏ, mặt nhăn rúm. Lượng uống trà, vừa uống anh vừa kể Khâm nghe một chuyện cổ. Cổ tích này chưa xưa lắm, không có ma quỷ phù thủy thần tiên: “Cách đây hơn trăm năm, ở miền Trung, trong một làng nhỏ nghèo nằm dưới chân núi, có đôi vợ chồng trẻ độc đáo. Đôi này được dân làng quý mến. Anh chồng tên Đen, vì da anh đen sạm. Hai người chịu khó, cần kiệm, nên tuy chưa giàu nhưng cũng có đủ trâu ruộng nhà cửa. Họ chỉ thiếu một thứ, là con. Cưới nhau đã lâu, từ lúc tuổi mới hai mươi, đến gần bốn mươi họ vẫn son rỗi. Dĩ nhiên, anh chị buồn… Sau khi thử qua nhiều cách chữa trị không hiệu quả, anh Đen nghĩ ra một kế. Anh cho rằng việc muộn con chắc do lỗi ở mình, vợ anh to khỏe mập tròn thế kia không thể “sai” được… Dạo đó, trong làng có anh chàng khố rách, tên Tới, ở miền xa đến, chuyên đi làm mướn. Anh ta hiền hậu, sống một mình, ai thuê gì làm nấy. Anh Đen gọi chàng Tới về nhà, bảo anh ta sửa cái chuồng trâu, đào ao, lên núi kiếm củi, và phụ giúp việc đồng áng, trong hai chục ngày. Chị Đen và anh chàng tội nghiệp không thể biết được ý đồ của anh Đen. Một hôm, anh Đen mua rượu thịt về, cùng Tới ăn uống. Anh chuốc cho chàng trai trẻ say, rồi đẩy vào buồng, buộc vợ ngủ chung. Chị Đen khiếp đảm, nhưng anh chồng thuyết phục, giảng giải, hăm dọa đủ đường, nên chị phải nghe theo. Thủa đó, quyền hạn của đàn ông to lắm, chỉ kém vua và trời thôi… Sáng ra, anh Đen chất vấn vợ một lúc lâu, làm như đó là chuyện chị muốn, không phải do anh bày ra. Chốt lại, anh ta hỏi: “Được, tao hiểu cả, nhưng… nó có hun mày không?” Chị Đen gật. “Mấy lần?” – “Chín, mười lần.” – “Nhiều vậy! Mày có hun nó không?” Chị vợ khóc: “Đừng tra hỏi nữa, chính anh xúi, bây giờ lại… tui không thương, nên không hun nó!” Anh Đen vui vẻ bỏ đi: “Tốt, nếu mày hun là bậy!”. Anh coi hôn hít như cái thước đo tình cảm tốt nhất… Sau đó, hai người toại nguyện, họ có được một bé trai… Chàng Tới về quê. Không ai nghi ngờ gì về nguồn gốc đứa bé. Nhưng khi nó vừa tròn một tuổi, chị Đen bỏ nhà ra đi. Chị không chịu được tính ghen tuông của chồng. Cứ vài hôm anh ta lại khui chuyện cũ ra, hành hạ vợ. Lúc hỏi về khoản hôn ra sao, lúc về các cử chỉ âu yếm thế nào, hỏi mãi, lòng vòng như cối xay cùn…Chuyện còn kể cặn kẽ, chị Đen đi một mình. Dù rất thương con, chị vẫn để đứa bé lại cho chồng. Là người nhân hậu, chị thấy rõ, anh nhắm mắt để sự việc diễn ra như thế, đủ cho biết lòng mong muốn có con của anh rộng lớn như đất trời!”

Khâm nói, như giáo viên phân tích bài thơ:

“Tay Đen hơi khùng, nhưng nghĩ lại có lẽ ta cũng nên thông cảm cho anh chàng… Anh ta như đứa bé nổi giận, đáng thương, tội nghiệp… còn tôi thì sao? Tôi cũng đáng thương!”

Sau ngày đáng nhớ này, trong nhiều tháng, Lượng không sao quên được dáng đi liêu xiêu, cái bóng đen u ám trên mặt Khâm, và lời Hằng nói: “Em muốn ràng buộc với một đứa bé, chỉ cần một thôi.” ./.

11 thg 3, 2010

THẦN THÁNH NHỚ

Cuộc họp bình chọn người đứng đầu trong việc tế lễ khi khởi công xây dựng ngôi đình làng Phú Túc diễn ra khá dài, vui nhộn, sôi nổi. Đây là chuyện quan trọng, không phải ai đảm trách cũng được. Phải là người đứng tuổi và đạo đức tốt. Chỉ cần hai yếu tố ấy thôi, nhưng sáu khuôn mặt được đề cử đều không đạt yêu cầu. Người thực thà, lanh lợi, hay giúp đỡ bà con chòm xóm thì còn hơi trẻ. Người lớn tuổi, tốt bụng, thắng thắn lại không biết chữ. Người chững chạc, sáng sủa, ăn nói rành rẽ thì mặt đạo đức lại “có vấn đề”…Đến lúc anh Lợi – trưởng thôn – đề cử ông Tiếp, mọi người chợt lặng thinh trong giây lát. Dường như ai cũng cảm thấy mình vừa chạm chân vào lằn đích, đã đi đúng hướng. Anh Lợi nói:

“Chú Bảy Tiếp đứng vào vị trí này là hợp nhất. Chú đàng hoàng, trung thực, hiền lành, làm ăn chí thú, ai nấy đều biết”.

Nhiều người tán thành: “Nhất trí chọn chú Bảy… Nào, giơ tay lên, cho ý kiến, cô bác ơi !”

“Chú Bảy số một, không còn ai hơn đâu !...Vì lợi ích dài lâu của Phú Túc hãy dồn phiếu cho ứng cử viên Bảy Tiếp !”.

“Hoan hô bác Bảy ! Tôi giơ luôn hai tay !”

Mọi người góp ý, bàn luận, cười nói ầm ầm. Ông Tiếp bối rối, luống cuống. Tự nhận xét, ông cũng thấy mình là nông dân tốt, làm ăn cần cù, chẳng làm hại ai, nhưng về mặt đạo đức thì không xuôi lọt, có chỗ vướng mắc. Mình không biết mình thì biết ai? Cái chuyện cũ kỹ ấy, chuyện tày trời xảy ra ngoài ba mươi năm trước ấy vẫn chưa tan biến, còn nằm chềnh ềnh như một gò mối trong trí ông, luôn làm ông áy náy, xốn xang… Chuyện của thời quá khứ xa xăm, của miền quê cũ mịt mờ, bây giờ ở đây chắc chắn không ai biết. Chỉ có vợ chồng ông biết thôi…. Nhưng liệu có phải ngoài ông, chỉ còn bà Tiếp biết chuyện đó ? Thế còn ông Trời ? Còn những kẻ khuất mặt ?... Có thể che giấu, dối gạt, lừa phỉnh người trần mắt thịt, dễ gì qua mặt thánh thần?

Ông Tiếp lo ngại. Xưa nay ông vẫn tin rằng con người nhỏ bé, ngu dại, không thể nào so sánh với quỉ thần. Ông đứng dậy ấp úng nói :

“Cho tôi xin rút…Cảm ơn bà con… Tôi không quen ăn nói. Tôi không biết làm việc làng lớn lao”.

Anh Lợi cười: “Trước giờ chú chỉ ăn, nay hãy bắt đầu vừa ăn, vừa nói!... Đâu có nặng nhọc gì, chú Bảy. Cày bừa, cưa xẻ chú còn làm ngon ơ được… Chỉ là chuyện cúng kính. Áo dài, khăn đóng, khấn hứa, vái lạy, như các ông chánh tế, bồi tế trong các buổi cúng xuân, cúng kỳ yên vậy thôi”.

“Tôi biết, nhưng không phải là chuyện chơi… Nó hệ trọng lắm…tôi

không xứng đáng”.

Lập tức bốn, năm người đứng lên, nhao nhao :

“Chú tốt, ở đây chẳng ai hơn. Chúng tôi biết mà, đừng phụ lòng bà con”.

Ông Tiếp cố thoái thác: “Xin anh em bầu người khác, tôi không...không dám nhận đâu…. Xin đừng ghi tên. Ghi vào đó tôi không làm thì trễ nải việc làng”.

Nhưng người ta vẫn sấn tới: “Thay mặt làng cũng là một vinh dự đấy, bác Bảy…. Dù đông đảo, giàu có đến mấy nhưng chưa có cái đình, chúng ta cứ bị coi như là đám dân ngụ cư tạp nham”.

“Mỗi người một tay, anh Bảy… Chúng ta sẽ xây một ngôi đình lớn, đẹp đẽ, chẳng thua ai… Đó là cái nhà chung…”

Vậy là người ta vỗ tay, biểu quyết, hoan hô rầm trời, không cho ông Tiếp nói thêm nữa, coi như ông đồng ý !

*

Về đến nhà ông Tiếp nói với vợ: “Nay mai làng xây đình, vừa mới họp xong đây”.

“Tưởng gì, đình với chùa ! Nghe nói đi nói lại đã ba bốn năm, nào có thấy xây cất gì đâu”. Bà Tiếp cười, ngờ vực.

“Lần này xây thiệt, đủ tiền rồi… Tôi là người đứng ra dựng, chủ tế, bà con vừa bầu chọn”.

“Trời đất, ông điên à !”. Bà Tiếp la lên như sờ phải rắn. “Không được đâu, chết đấy ông ạ !... Phải là người trong trắng mới giữ vai trò ấy được”.

“Tôi không chịu nhưng bà con ép buộc…. Ai cũng bảo là mình tốt”.

“Có thể như thế, bởi người ta không biết…. Nhưng tôi biết, và chắc ông cũng biết chớ !”.

“Khổ ghê đi, tôi từ chối hết lời”.

“Ông kẹ ơi, những chuyện dính líu đến sự thiêng liêng, phép màu, thần linh thì khó khổ phiền phức lắm”.

“Làm sao bây giờ ?”.

Bà Tiếp thất vọng: “Ông cứ lơ mơ, chẳng cứng rắn chút nào !... Đó là chiếc áo thùng thình, ông bận sao vừa ?”.

Tính ông Tiếp xuề xòa, rụt rè. Cũng chính vì vậy mà chuyện động trời ngày xưa ấy đã nổ ra, khiến ông trọn đời phải mang vào cổ tấm bảng “kém đạo đức”… Hồi đó, khi chuyện tình vụng trộm, oái ăm đổ bể, bà Tiếp đã nắm cổ áo chồng, quát tướng: “Tại sao anh dám làm như vậy, hở? Trời Phật ơi! Luân thường đạo lý lộn phèo, chẳng còn tôn ti trên dưới gì nữa !”.

Ông Tiếp xanh mặt, run rét, không nói được một tiếng. Bà Tiếp hét: “Nói đi chớ, ngậm miệng ăn tiền à ? Làm bộ như hiền từ lắm. Tại sao… tại sao anh hành động càn quấy, rồ dại như thế ?”.

“Không phải tại tôi… Em nói nho nhỏ một chút…. Kẻo người ta nghe… tại chị ấy… lỗi do chị Ba”.

“Chị Ba thế nào ?”

“Chị Ba ép tôi”.

“Sao anh không chạy đi ?”

“Tôi đã bỏ chạy ba lần, mà chị ấy không tha”.

Bà Tiếp nghiến răng: “Tôi không tin !... Nghe đây, dù hai mươi, ba mươi lần anh cũng phải chạy…. Thế mới đúng là con người !”.

Bà Tiếp sững sờ. Núi chạy, người bay cũng chẳng làm cho bà kinh ngạc bằng. Một chuyện tréo ngoe, trớ trêu khó tin. Ba Lài, cô gái sắp vu qui, chị ruột bà, lại đi lôi kéo đứa em rể vào con đường loạn luân… Đây không phải chuyện nhẹ nhàng, thoáng qua. Nó còn dẫn tới một “hậu quả nghiêm trọng”: sự ra đời của thằng Mật. Nhưng may mắn làm sao, người ngoài không ai biết chút gì về mối tình này, nên trước sau cha đẻ của thằng Mật vẫn là chồng cô Lài, người có duyên nợ tiền định và vững chắc với cô gái quê tân thời.

*

Năm Tiếp hai mươi ba tuổi vợ anh sinh con đầu lòng. Ba Lài – chị vợ – đến ở nhà Tiếp hai tháng, nuôi em sinh đẻ. Lài vui tính, siêng năng, như luồng gió mát thổi vào ngôi nhà nhỏ ẩm thấp, Chị làm việc nhà mau lẹ, gọn ghẽ. Trong cách cư xử, đối với Tiếp, chị tỏ ra đàng hoàng, đâu vào đó. Riêng phần xưng hô, nếu để ý sẽ thấy, trong những tuần lễ sau, có một sự “biến chuyển” thầm lặng: Xưa giờ ba Lài xưng “chị”, nay đổi thành “tôi”. Chị hơn Tiếp ba tuổi, sắp về nhà chồng.

Ba Lài sắp lấy chồng, ai cũng biết, nhưng những diễn biến tình cảm phức tạp trong đầu cô thôn nữ xinh xắn, tháo vát thì chẳng ai biết…. Hôm đó, khoảng 9 giờ tối, Tiếp ra giếng tắm. Ba Lài ra xách nước. Xách nước đổ vào lu hủ chỉ là cái cớ vu vơ. Lài ngồi bên gốc cây khô cạnh giếng, nói những chuyện chị nhặt nhạnh được ở chợ làng lúc sáng: Ông Nở mới mua một con chó con, giống Phú Quốc, ba triệu đồng. Ông Trữ nằm bệnh viện lớn hai tháng, không khỏi, nay về, chờ ra nghĩa địa. Anh Thông vừa bán hai con bò được mười triệu, mang tiền ra thị trấn mua xe, bị móc túi mất toi sáu triệu… Chị nói, cười, vừa hỏi, vừa đáp như tài tử đóng hai vai.

“Tôi sẽ ở đây tám ngày nữa, rồi về, về để…”.

Tiếp nghe, phân vân, lơ đãng.

“Thiên hạ nói, gần ngày cưới vợ các chú rể mừng không ngủ được, phải không ?”

“Tôi không nhớ”.

“Mới đó đã quên ! Còn tôi, gần cưới, tôi buồn đến bỏ ăn, bạn có biết tại sao ?”.

“Tôi không biết”.

“Trên khắp xứ này, bạn có thấy ai gần lấy chồng mà cứ muốn khóc, bụng dạ lạnh băng ?”.

“Không, ai vậy ?”.

“Ba Lài ! Không vui, bởi vì… mà thôi, nói ra cũng chẳng lợi lộc gì… Tiếp, ba Lài đáng thương không ?”.

“Ờ …. Ừ”.

“Theo bạn, như vậy đáng thương không ?”.

Tiếp đáp bừa: “Đáng lắm !” . Ba Lài bước tới, giật chiếc gàu trên tay Tiếp, quẳng vào lùm chuối.

“Đáng thì thương đi”. Tiếp đứng như trời trồng. Ba Lài vuốt má Tiếp: “Chàng trai trẻ đẹp, ngốc nghếch !”. Cô nàng cầm bàn tay phải của Tiếp một lúc, rồi giúi nó vào ngực mình.

“Chị Ba !”. Tiếp kêu lên.

“Chị Ba làm sao?”. Lài cười hích hích. “Hễ đẹp trai là có quyền hất mặt lên trời hả ?... Cái gì đây, sờ xem !”. Ba Lài nói mãi nhưng dường như vẫn chưa thủng tai gã em rể nhút nhát. Bực mình, buộc lòng chị phải dùng “vũ lực”. Chị vật ngã gã xuống nền giếng, và thẳng tay hành hạ gã đến nơi đến chốn !.

*

Việc xây đình diễn ra đúng như dự tính của làng. Gần hai tháng sau Phú Túc có ngôi đình đồ sộ, đẹp, hiện đại… Một năm, hai năm qua mau. Khi bà Tiếp đã quên mất tấm màn đen đạo đức giăng bên trên vụ cúng tế, ông Tiếp lăn ra bệnh. Ông bị đột quị. Không hiểu sao những năm gần đây chứng bệnh quái ác này nở rộ. Nó có nhiều dạng, nhiều mức độ, phần lớn tiến triển nhanh, hiểm, khó lường… Ông Tiếp nằm bệnh viện tỉnh non ba tháng, về nhà nằm tiếp chín tháng nữa. Có lúc tưởng ông sắp đi đứt. Bà Tiếp nhớ ngay việc cũ. Đúng là nó, cái án treo, không tránh né được! Con người nông cạn, hời hợt, có thể châm chước, bỏ qua các lỗi lầm của nhau, có thể quên dễ dàng nhiều chuyện, còn thánh thần nghiêm khắc linh hiển làm sao quên !

Nằm chán, tốn khá nhiều tiền, ông Tiếp mạnh, trở dậy, đi lại được. Nhưng sự hồi phục này có vẻ lỏng lẻo. Ông bị liệt một tay, méo miệng, ăn uống được, nhưng nói lập bập như trẻ con, đi được nhưng bước thấp, bước cao như anh chàng say…. Bà Tiếp buồn, nổi cáu, dù biết ông đang ở trong tình trạng như người mộng du, không còn sáng suốt, nhưng bà vẫn đay nghiến : “Ông thấy rõ chưa, tôi đã nói, đó chẳng phải chuyện đùa… Trong thế giới con người, mọi thứ đều nhỏ bé, đều nằm gọn giữa vòng tròn của ánh sáng mặt trời, dễ thấy, dễ nhớ, và cũng dễ tan biến. Nhưng với các đấng khuất mặt thì mọi thứ đều vững bền, trăm năm ngàn năm cũng mới mẻ như một tháng…. Nay tôi tin: Ông bị chị Lài tấn công. Giờ ông còn đi đứng, còn sống, nhờ ông thụ động trong chuyện đó. Nếu ngược lại, chắc ông đã chết thẳng cẳng lâu rồi!”. Với gương mặt lem luốc nhiều ngày quên rửa, cái miệng méo, đôi mắt lờ đờ, ông Tiếp nhìn vợ nói. Thật khó biết ông có hiểu gì không ./.

9 thg 10, 2009

CHUYỆN ĐẦU NĂM

Ông Ngãi thuộc lớp người thế hệ 4x nhưng đầu óc khá mới, tính tình cởi mở, mọi sinh hoạt trong gia đình ông đều theo kiểu hiện đại, chỉ còn vài “tiết mục” nhỏ giữ lối cổ, trong đó đáng kể là các kiêng cữ vào những ngày đầu xuân. Ông Ngãi cũng biết những điều này lạc hậu, nhưng không bỏ được, vì chúng đã ăn sâu vào… tiềm thức của ông. Có thể gọi ấy là “tàn dư” của thế kỷ trước còn sót lại. Đặc biệt, ông rất quan tâm chuyện xông đất ngày Tết.

Ông Ngãi luôn chọn lựa kỹ người khách số 1 đến thăm nhà mình vào ngày đầu năm. Có thời gian dài, hơn mười năm, ông nhờ anh Hưng – người em bà con xa – phụ trách việc này. Ông và Hưng hạp nhau ở hai cái tuổi thân – thìn. Ngoài ra, Hưng còn có điểm thuận lợi: ở gần. Hưng! Chỉ nghe tên anh đã thấy hên, phấn chấn! Ông Ngãi sắp xếp, sáng mùng 1 nào anh Hưng cũng ăn mặc bảnh bao, mặt mũi tươi rói tới đạp đất nhà ông lúc trời còn lờ mờ. Phải vậy, nếu không lỡ có thằng lông bông nào đó đến trước thì kẹt.

Khi anh Hưng đùm túm vợ con lên Pleiku sinh sống, ông Ngãi nhờ ông Cường thay thế. Cường cũng tốt, khác gì Hưng!… May sao, trong làng này số người mang sẵn cái tên đẹp còn khá nhiều: Đạt, Phú, Thông, Sung, Thọ, Nghĩa, Thạnh, Phát, Tiến, Sang…

Ông Cường thuộc lứa xấp xỉ 70, râu tóc trắng xóa, đẹp lão, như tiên. Gặp ông, nhìn phớt qua, ta đã thấy no đủ, phú quý… Ông Cường cũng làm các khâu tương tự như anh Hưng trước kia. Để lấy lòng ông, ông Ngãi thường biếu quà cáp: vài chậu cây cảnh, mấy con gà nòi, ít gói cà phê… Làm việc này được chín năm, ông Cường “nghỉ” ngang, lên chầu Trời.

Đương nhiên, ông Ngãi phải tìm lính mới. Nhưng tới đây, xuất hiện trục trặc lớn. Những người có cái tên hàm chứa sự mạnh mẽ, may mắn còn lại đều trẻ. Trẻ thường dễ hời hợt, bốc đồng! Nhiều người từ chối lời mời của ông Ngãi. Họ bảo đấy là chuyện mê tín, tào lao. Có đứa cười mỉa, gạt phắt, chẳng chút tế nhị: “Bỏ trò vớ vẩn này đi, bố! Lẽ ra bố phải tống nó vào viện bảo tàng từ cuối năm 1999 mới đúng!”.

Chán, bất mãn, ông Ngãi xếp việc tìm người mới lại, định bụng để chờ dịp thuận tiện nào đấy sẽ tính, chẳng em này thì em khác!

Vậy là, Tết năm ngoái nhà ông Ngãi không có người xông đất. Việc tưởng nhỏ nhưng nó cũng choán nhiều vị trí trong đầu ông, làm ông mệt, lo lắng. Đã lâu, ông gắn bó với tập tục này. Không dễ từ bỏ ngay cái thói quen từng theo ta mấy thập niên, như hình với bóng.

… Mùng 1 Tết, hừng sáng, ông Ngãi đang rửa mặt trước sân, bỗng thằng bé Đẹt – con bà Liên hàng xóm – chạy ào tới. Nó la toáng: “Ngoại Bảy! Ngoại thấy con gà nhỏ của con sang đây không?” Gà với qué, rõ khổ! “Con gà quạ của con…” Ông Ngãi giật thót. Năm mới cáu, ngày mới tinh thế mà chạm ngay thằng Đẹt! Tiếng Đẹt này khiến ta dễ liên tưởng đến những thứ thấp bé, chậm lụt! Đã thế lại còn gà quạ… ô với mực, quạ với mun! Ông Ngãi quát: “Cút ngay, thằng khỉ đột!” Thằng nhóc biến, nhưng cái khối đen, đẹt vẫn nằm ì trong đầu ông! “Nay chẳng cầu Vượng, Thắng… Phải chi nó tên Trung, hay Hòa còn tạm được!” Ông than thầm, lo sợ, dù vẫn biết chưa hẳn đây là điều đáng lo.

Cái năm chó ngáp ấy trôi qua chậm rì, bụng dạ ông Ngãi lúc nào cũng phập phồng, thắc thỏm. Một tháng, hai tháng, rồi năm bảy tháng qua đi, bình lặng, chẳng có gì lạ. Không lên, cũng không xuống, mức thu nhập của gia đình ông Ngãi chỉ xê xích chút ít so với các năm trước. Vậy vết đẹt, vết quạ không ảnh hưởng gì? Sang tháng 10, tháng 11 xuất hiện vài dấu hiệu mới, nhưng là những thay đổi “tích cực”; tháng nào ông Ngãi cũng thu được những lợi lộc bất ngờ, có món như từ trời rơi xuống. Và, sau rốt, tháng chạp ông “thắng” đậm, chỉ một tháng bằng cả năm! Đến lúc này, sướng quá, ông Ngãi bèn nói cho vợ nghe cái ý ông mới nghĩ ra, như một phát kiến: “Bà biết không, nhiều khi lẹt đẹt lại đồng nghĩa với phát đạt đấy!” ./.

19 thg 7, 2009

THẨN THƠ CÁI NGỌ

Mụ Đây đứng giữa sân nhà Ngọ, khoa chân múa tay, chửi, gào to, đòi nợ. Đang ăn cơm trước thềm, Ngọ vội bưng mâm chén xuống bếp cất, không còn bụng dạ nào ăn nữa. Mụ Đây nói lớn, cả xóm nghe được, chẳng cần loa. Mụ nói, mụ thương người, luôn giúp đỡ những kẻ nghèo khó túng bấn, xưa nay chưa ai than phiền về tư cách mụ. Nhưng mụ yêu cầu người khác cũng tốt, đừng bao giờ giở trò tráo trở, đem các ngón luồn lách ra đối chọi. Mụ chúa ghét loại người gian, và luôn quyết tâm bẻ gãy, chà nát những mưu mô hắc ám đó. Tại sao tuần trước hẹn hôm qua, hôm qua lại hẹn hôm nay? Thì giờ đâu để dự những cuộc đùa cợt vô bổ? Mụ thừa biết sách lược của bọn chây lười, ù lì. Nhưng tiền của mụ là đồng tiền khôn, có cánh, một đồng nằm trong túi hôm nay nhưng tháng sau sẽ biến thành ba đồng… Cứ thế, mụ Đây nói, lúc chậm lúc mau, không vấp, như đọc một văn bản viết sẵn. Mụ áp dụng kiểu nói xoay tròn của Trạng Quỳnh cổ tích, khi đối đầu với con mẹ đanh đá. Ông chọc để con mẹ nói suốt buổi, hết hơi, khản tiếng, không được nghỉ phút nào. Phần mình, không cần nhiều, chỉ vài ý, ông nói đi nói lại, quay như đèn kéo quân, khiến đối phương phát khùng, mệt đuối.

Bí đường, Ngọ hứa năm hôm nữa sẽ trả, dù chưa biết đào đâu ra tiền. Hứa đại, để mụ kẹ im. Như cái máy yếu điện, mụ Đây nói nhỏ hẳn, rồi ra đường, lên xe, sau khi thòng lại câu dọa: “Nói thì nhớ lời, đừng tính lừa tao… Dù mày có chạy trốn đến Mông Cổ tao cũng sẽ chộp tóc.” Kỳ dị, sao nước Mông Cổ nhỏ bé kia lại nằm trong đầu mụ!


Ngọ muốn khóc. U ám, bế tắc. Nợ nhiều quá, mụ Đây chỉ là một, còn ba bốn chỗ khác nữa. Tất cả sinh ra từ máu mê cờ bạc. Tại mình cả, chẳng phải do trời hay số mạng… Trước kia, nhiều lúc Ngọ nghĩ: không chồng đồng nghĩa với tự do, thoải mái, tự do tuyệt đối. Giờ đây, rơi vào tình cảnh này…

Con chó nhỏ sủa. Một người đứng thu lu bên kia hàng rào. Tiếng ông Tích:

“Khổ, con mẹ hung ác… mày nợ bao nhiêu?”.

Thêm cái ông hàng xóm ục ịch! Lúc đen, gặp toàn đồng bóng! Ngọ nói, cố ý dịu dàng:

“Dạ, hơn mười triệu.”

“Chửi thế, ta trừ được sáu triệu rồi đấy!”

Với ông Tích, Ngọ không có cảm tình. Mới về ở đây hơn nửa năm, chưa hiểu rõ tâm tính ông ta, nhưng Ngọ cũng biết được vài nét lớn: ông ta sống co rút, ít giao tiếp với bà con xung quanh, chẳng mấy khi góp mặt ở các cuộc hội họp, đám tiệc, cưới hỏi trong làng, và điểm nổi bật là keo kiệt.

“Mày tính sao?”.

“Tính gì ạ?”.

“Món nợ của mụ Đây”.

Ngọ chẳng biết nói sao, gay quá, chưa thể tính gì.

“Để coi lại, cháu sẽ…”.

Thời này làm gì có phép lạ, đâu còn những bà tiên. Xưa kia sướng thật, con người chân chất không đòi hỏi gì nhiều, sống giản dị, thanh thản. Chẳng cần máy móc, xe cộ, điện đài vẫn sống khỏe… Thời trung cổ có các trò đỏ đen chưa?... Lão già đứng bên rào kia chắc chắn không phải là kẻ để Ngọ tâm tình, trút bỏ bớt khối lo âu trĩu nặng trong lòng. “Ái chà , cái món nợ ấy… nghe qua chú cũng muốn mất lửa”. Lão nói nhỏ, trước khi bỏ đi.

Ngày về “tiếp quản” ngôi nhà và khu vườn của cha mẹ để lại, Ngọ phân vân trước sự lựa chọn: sẽ sống ở quê, hay vẫn ở tỉnh. Hơn hai mươi năm sống giữa phố phường, chị vẫn chưa thoát khỏi nghiệp làm mướn, cứ nằm nguyên trong dạng làm sáng ăn chiều. Nay về quê, sẽ làm gì. Ngôi nhà đã cũ, nhưng vườn cây ăn trái rộng. Mấy người anh em trong họ bảo rằng nhà ít người như Ngọ tốt lắm, chẳng cần làm nhiều, cứ bám vào cây trái cũng dư sống. Nhưng có ở mới thấy, thu nhập từ hoa quả khá bấp bênh. Năm được mùa, thu bạc triệu, nhưng những năm mất thì chỉ được… lá vàng. Cân nhắc kỹ, Ngọ về một mình, gởi hai con lại trên tỉnh. Định bụng, nếu xuôi chèo, yên ấm, vài năm sẽ kéo rốc về. Dù sao đây cũng là quê gốc… Sau vài tháng, Ngọ đã nao núng. Lối sống ở đây khác xa phố chợ, buồn tẻ, thiếu nhiều thứ. Đổi môi trường, phải học từ đầu. Cái nghề nông nhìn qua thấy đơn giản, nhưng chẳng dễ ăn. Muốn giỏi nó phải mất nhiều thời gian, năm, mười năm. Đất rộng nhưng cằn cỗi, thường thiếu nước. Cây trồng gần như độc canh, kẻ độc loại này, người loại kia. Quá nhiều bất lợi. “Chắc sẽ phải quay lên phố”. Lúc đầu Ngọ không muốn nghĩ vậy, nhưng mỗi tháng trôi qua ý đó mỗi lớn phình ra. Có lẽ phải làm trái ý cha. Cha chị căn dặn: nhà, đất vườn là hậu cứ bền vững, nên nhờ người chăm sóc, để sau già có chỗ trở về.

Cày cuốc không rành, Ngọ chuyển qua nuôi heo gà, chơi huê hụi, rồi thử món số má, bài bạc. Mặt “tiêu cực” giống như suối ngầm, lặng lẽ, róc rách, nhưng lan tỏa rộng trong làng. Hậu quả của nó đem lại khá mau, xám ngoét. Có chị ngoại tình để kiếm tiền đắp vào chỗ đã thua. Nhiều bà bỏ nhà đi, do bị chủ nợ khủng bố tinh thần. Tám tháng, chưa thành nông dân, nhưng Ngọ đã giống hệt đám phụ nữ làng, đi đứng hấp tấp, dáng người bơ phờ, lúc nào cũng như vừa đánh mất bạc vàng quí báu… Sống kiểu không chồng thong dong, thú vị, như con ngựa hoang ngao du trên thảo nguyên nồng mùi cỏ hoa. Nhưng, không bị kìm cương, cũng có lúc ngựa chúi mũi xuống gành gộp… Lên phố. Chắc phải quay lên phố thôi!


Vợ chết đã lâu, ông Tích chưa “đi bước nữa”, chỉ thậm thụt với bà này bà kia trong những quãng thời gian ngắn. Cách đây hai năm ông rước về một chị tàng tàng, sống chung khá hòa thuận, nhưng rồi bỗng dưng chị ta bỏ đi mất… Chị tên Bèo, dân Quảng, vô bán thúng mủng. Ngay chuyến đầu tiên, quỉ thần xui khiến, Bèo đã dính chặt vào bếp nhà ông Tích, quên về. Chị dài dại, ngây ngô, nói năng như anh hề giả khùng. Ngay đến tên làng xóm, quê quán của mình, Bèo cũng không rành. Nhưng dù vậy, chẳng sao cả. Ông Tích cần người nấu cơm, rửa chén, một phụ nữ. Bèo mạnh khỏe, bạo dạn, được việc. Mới qua vài tuần chị đã quen khắp xóm, và trở thành đề tài để các bà bàn luận, hấp dẫn như mấy phim diễm tình Hàn Quốc! Bèo nói, ông Tích hiền, dễ chịu, tối ngày nín như câm. Ông ta hay ngủ ngày, ban đêm chỉ ngủ giấc đầu hôm, khoảng một hai giờ sáng đã thức dậy, lọ mọ nấu nước, pha trà, uống một mình, và ngồi chống cằm, cứ chống cằm nhìn vào vách như thế, rồi xuống nhà dưới quậy chọc chị ta. “Ổng lù đù, nhùng nhằng, như miếng giẻ rách!”. Để phòng thân, chị đã lập hợp đồng miệng với ông Tích, cụ thể và rành mạch. “Tui chẳng ngu, làm sao mình rõ bụng dạ ổng… cầm dao là tui luôn cầm đằng cán!”. Mỗi năm ông Tích chu cấp cho chị ba bộ quần áo, hai đôi dép, hai chiếc nón, sáu triệu đồng. Số tiền này được trao làm hai lần. “Khởi đầu, tui lấy ngay ba triệu, đến nửa năm sẽ nhận số còn lại… ổng khen tui khôn!”. Được cái, như đã nói, ông ấy hiền, lại thảo ăn. Nhà trữ nhiều thức ăn, thịt, cá, trứng, hoa quả thừa mứa. “Muốn ăn gì tui cứ ăn, khỏi hỏi ai… đớp muốn mẻ cả răng, nứt da bụng!”. Bèo khoe, hoan hỉ. Mấy bà già nghe, cười chảy nước mắt: “Vậy là mày định ở đây bao lâu?”. Bèo nghĩ ngợi một lúc: “Tết sẽ về thăm nhà, hễ Tết là về, còn lâu mau chưa biết… không biết được đâu! Ông ấy kỳ lắm kìa, người chi mà vô độ… Mấy dì biết không, ông ta sờ mó, cắn bóp, coi tui như trái cam vậy… lắm lúc mình chẳng ngủ nghê gì được, gớm, mệt chết!”. Bèo bỏ đi, đột ngột, không rõ chị đã nhận được mấy lần tiền.


Hơn 8 giờ tối, trời làm dông hướng núi, như sắp mưa. Sau ba ngày suy tính, Ngọ đi đến quyết định liều, buông tay, rơi tự do. Thêm một con phù du lao thẳng vào lửa! “Ta làm ta chịu, không đem ngôi nhà và khu vườn ra khắc phục sự cố này”… Nàng đứng bên rào duối khá lâu, dùng dằng, muỗi cắn rát cổ. Thật khó khăn. Ranh giới giữa ngày và đêm chỉ một bước, một bước theo nghĩa đen. Khom lưng qua lỗ chó chui, sẽ ở bên vườn ông bầm dập. Ngọ chui! Con chó vàng đánh hơi, kêu hực hực. Ngọ bước đi trong vùng sáng của bóng điện vàng ẻo bên giếng. Ông Tích ra.

“Cho cháu mượn…”

“Ngọ, ôi… trời ơi!”. – Ông ta mừng cuống. “Tốt quá, vào đây”. Ngọ bị lôi vào nhà dưới. Chủ nhà mặc chiếc quần dài cũ, ở trần. Ông ta đen, săn chắc, mập tròn… Tướng người dềnh dàng, nhưng lòng ông Tích mềm yếu, dễ lung lay trước các bóng hồng, nhất là loại “đối tượng” không chồng, như cô nàng này.

“Chú cho mượn…”

“Thì từ từ, ngồi xuống đã. Không mượn, gì cũng được, cho luôn đấy”. – Mừng lớn, thấy rõ ông ta mừng.

Chưa bao giờ Ngọ bước vào đây. Ông Tích mở rộng hai cánh cửa chiếc tủ gỗ cạnh bếp. “Muốn gì, Ngọ cứ lấy”. Tủ đầy ắp thức ăn. Hai ngăn dưới dành cho trái cây. Ngăn trên chứa bia, bánh kẹo. Một người ăn sao hết chừng này thứ. Ông ta mập thế kia là phải. Nếu trí nhớ tốt, Ngọ sẽ nghĩ tới chị Bèo… Có thúng muối đầy vun nằm cạnh cái hỏa lò.

“Mai chú sẽ muối cá cơm, tự làm mắm ăn, không mua, nay ngoài chợ thứ quỉ gì cũng độc hại”.

Ngọ ngồi dính trên ghế, chẳng biết nói gì. Trơ trẽn, thảm hại. Lúc mới về đây, nghe chuyện mấy bà ngoại tình kiếm tiền chơi bài, nàng đã chê cười họ. “Ăn mày là ai…”

“Con chú dặn, phải ăn uống đúng để khỏe mạnh. Khi thèm ngọt, ăn đu đủ, mít, chuối, không uống nước ngọt. Dùng thật ít bột ngọt, bột nêm. Cảnh giác cao với các loại rau lá…”

Ông ta cười, thở khì, như trút được nỗi lo ra khỏi người.

“Còn nữa, ăn hột đào, gừng, bí đỏ để tăng cường trí nhớ… Mình nên phòng xa, nếu để mầm bệnh nhập vào cơ thể thì rất phiền”.

Nghỉ giây lát, ông ta chuyển đài:

“Chú tốt, phải nói thẳng là tốt. Ngọ chớ nghe đám ruồi nhặng xóm này nói ra nói vào. Chúng nó không ưa vì ganh tị. Tâm lý mà, ta thường ghét kẻ hơn ta… Mấy đứa con chú không giàu nhưng…”

Ông Tích kéo một chiếc ghế đến cạnh Ngọ, lấy cái dĩa lớn đặt lên ghế, đem một nải chuối vàng rộm để lên dĩa, mời khách.

“Hai, ba tháng bọn con chú gởi cho chú vài triệu, chỉ cần chừng đó chú đã vễnh râu trê… Xứ này, muốn kiếm ba, bốn triệu không dễ, phải mất năm, sáu tháng, phồng da đầu sâu con mắt!”.

Anh kép không còn trẻ tới đứng sau lưng Ngọ.

“Chú sẽ trả nợ cho mụ Đây, trả hết một lần… nghe chưa?”. – Ông ta vuốt má Ngọ bằng hai bàn tay chai sần. Người đẹp chết ngồi! Thỏ tơ tới đây để làm gì, tất nhiên cáo già biết. Loài cáo chắc ít con đần độn. Con cáo này đói, nó quính quáng, như sắp phát rồ, cứ vài phút nó lại kêu lên: Ngọ, Ngọ, trời ơi, trời ơi!

Ông Tích thọc tay vào túi quần, nhưng không lấy ra thứ gì. Ông ta rót nước ra hai ly, nhưng không uống.

“Lâu nay Ngọ làm gì, chú không biết… Phải chăm chỉ, tiện tặn. Hà tiện tốt, bần tiện mới xấu… Nếu nhắm mắt sống theo lũ đàn bà ở đây Ngọ sẽ chết đuối trên cạn… Chúng nó chơi số, đánh đề, cá độ đủ loại, cầu mong vận may… Chẳng ai dám bảo tỉ phú ngu, nhưng đã có tỉ phú sạt nghiệp trong sòng bài. Ai có hồn nấy giữ”.

Ngọ nhìn, chăm chú nghe ông ta nói.

“Ngọ qua đây ngủ, mỗi đêm tôi sẽ tặng bảy chục ngàn”.

“Cái gì?”.

Ông Tích hoảng, nhưng vẫn lặp lại:

“Ngoài số tiền trả nợ, tôi sẽ tặng thêm tiền bồi dưỡng, bảy chục… hay có thể tám chục một đêm”.

Ông đến thả chốt cửa. Ngọ đứng dậy, vấp chiếc ghế, nải chuối rớt xuống sàn. Ông Tích ôm chầm lấy con mồi, miệng kêu như rên: trời ơi, Ngọ!

Để đối phương quy hàng, ngoan ngoãn, ông ta nói: ngay sáng mai sẽ trả nợ cho mụ Đây.

“Tôi thương Ngọ… Tiền bạc, mấy cũng được… Nên nhớ, dân ở đây đi cấy còng lưng mỗi ngày công chỉ bốn chục ngàn”.

Trời chớp, như tia đèn pha xuyên qua cửa sổ.


Ông Tích mê mết người tình trẻ, món quà trời ban bất ngờ. Không thứ này thì món kia, đêm nào ông cũng chui lỗ chó mang qua cho nàng. Sau những trở ngại ban đầu, chủ yếu do cảm giác bẽ bàng, xấu hổ gây ra, Ngọ cũng mau chóng hưởng ứng trò chơi đổi chác… Nàng còn trẻ, quá trẻ. Gái hai con, ngó mòn hai mắt! Cánh đồng Ngọ khô hạn khá lâu, nên nay nó có thể đón nhận cả mưa xuân, mưa ngâu, lẫn mưa lũ! Chị đã quên mất tướng người cọc cạch, tuổi tác của ông Tích. Chẳng ăn đời ở kiếp với nhau nên có thể dẹp bỏ khâu nhan sắc. Tiền trao cháo múc!

Cuộc trao đổi sòng phẳng và hào hứng… Ăn ăn, uống uống, đêm nào cũng như liên hoan. Bò hầm, gà chưng thuốc bắc, vịt tiềm. Hột vịt lộn, cháo nếp đậu xanh, và hột gà xôđa! Cả hai tuân thủ quy định ngầm: kín đáo, tuyệt đối không để lộ chuyện. Ngọ dặn, như ra lệnh: đừng cho ai biết. Ông Tích chấp hành. Chị nói gì ông cũng nghe. Cứ hai đêm ông tăng “trợ cấp” một lần. Tám chục, trăm ngàn, trăm hai. Không rộng rãi lắm, nhưng đều đặn! Đến đêm thứ chín, món tiền này đã lên trăm rưỡi. Có vẻ ông Tích sẽ tiếp tục tăng nữa, bởi sợ Ngọ dừng lại, bỏ cuộc. Dù muốn quên, ông vẫn nhớ mình vừa quê vừa già.


Ngọ biến mất tăm, bất ngờ, như lúc đến. Mười đêm. Ông Tích buồn, tiếc ngẩn ngơ. Người ngọc và mười đêm chiêm bao đã hút hồn ông già đa tình. Suốt nửa tháng ông quanh quẩn sau vườn, ngóng cổ nhìn sang bên kia rào! Đến khi hết hy vọng, tỉnh trí lại, ông bắt đầu tính toán, so đo hơn thiệt, nhận thấy dường như mình vừa bị vấp một vố chơi xỏ, một cú lừa ngoạn mục. Có phải lừa không? Chia chia, cộng cộng. Bản tính chắc thiệt, cần kiệm của người nông dân nổi dậy trong đầu khiến ông Tích đau điếng. Tiếc của, và nhớ người trong mộng! Hai cảm giác, hai luồng hải lưu mạnh, xoáy trong lòng làm ông già đáng thương tiều tụy. Ông ngã bệnh. Chính ông cũng không biết mình bệnh vì mất tiền hay nhớ nhung. Cũng có thể do cảm mạo, thương hàn hay một chứng hiểm ác nào đó. Ông kiếm vài thứ rễ lá trong vườn uống tạm. Không thuyên giảm. Ông hốc hác, gầy sọm, thất sắc. Dân làng nói, chàng già dại gái thất tình, nhớ thương cô nàng Bèo dở hơi!

Con ông Tích về đưa cha lên thành phố… Bốn tháng sau, tin dữ bay về làng: ông Tích chết!... Khối tình to lớn nào có thể quật ngã con người rắn rỏi, dày dạn này? Gần đúng 61 tuổi, vừa đạt mức thọ. “Sáu mươi là gì? Đó là tuổi bạn có thể còn sống mười, hai mươi năm nữa, hoặc chỉ vài tháng nữa”. Giọng điệu Hy La, cổ, cô đúc, dứt khoát. Ông Tích xui xẻo, bập ngay vào phần đuôi câu này: chỉ vài tháng nữa ./.

18 thg 7, 2009

AO BUỒN

       Nhà cậu Đáng ở gần nhà ngoại tôi. Hồi nhỏ tôi thường về thăm ngoại vào dịp hè, nên biết được nhiều chuyện về gia đình cậu. Cậu Đáng thuộc hạng giàu có trong làng, nhờ hưởng một gia tài lớn của cha mẹ để lại. Cậu làm nông, người  cục mịch, đen cháy, râu tóc bờm xờm. Nghe đâu trước kia cậu cũng có đi học, từng đậu bằng tiểu học trường Tây. Vợ cậu – mợ Hân – nhỏ người, mảnh mai, trắng trẻo. Mợ dạy học ở trường quận. Thời đó con gái ít được đi học, phụ nữ học cao rất hiếm. Mợ Hân là người phụ nữ duy nhất trong xã dạy trung học. “Sao một cô nhỏ nhắn, xinh đẹp lại đi lấy cái ông lừ đừ, dềnh dàng thế kia?”, tôi thường tự hỏi.
       Năm tôi mười tuổi, vào một ngày cuối hè, mợ Hân tự vẫn. Lần đầu thấy người chết bằng cách trầm mình, một cái chết dữ dội, tôi sợ hãi nhận ra: chết cũng có nhiều cấp độ. Người ta vớt mợ Hân từ dưới ao lên, đặt nằm trên hai tấm ván kê ở giữa sân. Mặt mợ trắng chạch, không còn một nét nào giống lúc sống. Máu miệng ứa ra ướt đẫm gối. Nước từ đầu tóc nhỏ xuống đọng thành vũng. Ba dĩa cơm nắm, hột gà, lư nhang. Chiếc lưỡi cày dằn trên bụng. Cái mền mỏng đắp lệch. Hai bàn chân mợ thò ra ngoài mền cũng trắng rớt như cái mặt… Cả làng đổ tới coi, người đứng chật kín trong sân, trong nhà, ngoài vườn. Chẳng thấy ai khóc (hai người chưa có con). Cậu Đáng lừ lừ đi ra đi vào, mắt ráo hoảnh. Bà Bướm – gia nhân, đã phục vụ nhà cậu hơn 20 năm – cũng tỉnh khô, bình thản. Người thân bên mợ ở đâu không thấy. “Đám chết mà lạnh tanh, không có người khóc, kỳ cục”, tôi nghĩ.
       Người ta xì xào: “Coi kìa, hai mắt cô ấy bầm đen, môi sưng vều”. Mợ Hân bị chồng đánh, hai ngày qua phải nghỉ dạy. Cậu Đáng đã đánh đập vợ hàng trăm lần. Dường như cậu ghen. Chỉ “dường như” thôi, chẳng ai biết rõ ràng về chuyện lục đục của nhà cậu, dù chuyện này xảy ra thường xuyên… Cậu Đáng hành động thầm lặng, không lớn tiếng. Cậu đóng cửa đánh vợ, cấm khóc, cấm không được than thở với ai. Thỉnh thoảng lại thấy mợ Hân đi dạy với cái mặt sưng tấy, hoặc con mắt bầm tím. Mợ sống khép kín như cung nữ ngày xưa. Đi chợ, đến trường đều phải tuân theo một thời gian biểu chặt chẽ. Mợ không dám nói chuyện lâu với đàn ông, con trai ngoài đường, không dám mời học trò, bạn hữu về nhà. Lúc nào mặt mợ cũng dàu dàu, ủ dột, xa vắng. Nhiều người nói họ chưa hề thấy mợ cười, dù một lần thôi.
       Dân làng vẫn thường nhắc lại những “chuyện lạ” của vợ chồng cậu. Một lần, vào khoảng mười giờ khuya, có người chạy đến báo với ông hương kiểm, cậu Đáng đánh vợ gần chết. Nhưng khi ông hương kiểm và ba tuần đinh (như an ninh thôn và dân phòng) đến nơi, thì lại thấy cảnh trái ngược: người nằm lăn giữa nhà, quần áo tả tơi, khóc lóc sướt mướt là cậu Đáng. Cậu hỏi vợ, như nhai từng tiếng một:
        “Tại sao mày ở lì ngoài chợ, mười một, mười hai giờ mới về?”.
       “Em đã nói rồi, em phải chờ mua heo, sáng nay mấy người bán heo tới trễ”.
        “Tại sao đi chợ mà mày không bảo cho tao biết?”.
       “Thì chính anh bảo em đi mua heo”.
       “Sao phải mua ở chợ, không mua heo của bà Bắc, bà Nghi trong làng?”.
       Cậu khóc khản tiếng, bứt tóc, đập đầu xuống đất, và giãy đành đạch như em bé dỗi mẹ.
       Lần khác, nghe tiếng đập phá thình thịch trong nhà cậu Đáng, bà con xung quanh chạy đến, nhưng không can thiệp được, phải đứng ngoài sân, vì các cửa đều đóng chặt. Cậu Đáng đánh vợ bằng roi, cứ sau một roi lại nghe cậu hỏi:
       “Thằng Tùng là gì với mày?”.
        “Chẳng lẽ anh không biết thằng Tùng?”.
       “Nó là gì với mày?”.
       “Nó là cháu tôi, cũng là cháu anh”.
       “Sao mày nói chuyện với nó mặn mòi như thế?”.
       “Mặn thế nào? Anh giỏi đặt điều, tưởng tượng trên trời dưới đất”.
        “Nó nói gì với mày?”.
       “Tôi đã nói anh nghe mấy chục lần, tôi hết hơi rồi… cứ đánh tôi chết đi. Anh là quỉ dữ, không phải con người”.
       “Mày cười với nó, nheo mắt với nó, vỗ đầu vỗ vai nó”.
       “Nó là cháu tôi, cũng là cháu anh… Bụng dạ, đầu óc anh đầy thuốc độc, đầy rác… Tôi muốn chết”.
       Cậu Đáng ghen? “Đâu phải ông Đáng ghét vợ. Hãy nhìn kia, ông ấy buồn rầu, bước đi không vững”. Mấy người hàng xóm nhận xét.
       Ghen là cái gì mà lớn lao, kinh khủng như vậy? Tôi chưa hiểu nổi.
*
       Ông Chương uống trà, thong thả, nhâm nhi từng hớp, như uống rượu. Ông nheo mắt ngắm Đáng, thằng cháu đang mang tai tiếng đầy mình.
       “Cũng lạ, không hiểu sao mày có thể tàn bạo như vậy”.
       Ông Chương là chú ruột cậu Đáng, ở trên tỉnh mới về. Ông giàu sang, được họ hàng quý trọng. Cậu Đáng nhìn ra cuối vườn, nơi có cái ao oan nghiệt. Vốn ít nói, từ ngày vợ chết cậu càng “tịnh khẩu”. Cách đây mấy hôm, tình cờ cậu nghe bọn trẻ chăn trâu bàn về chuyện nhà mình. Chúng nói cậu hung ác, hà khắc quá nên vợ sống không nổi, phải tự tử. Một đứa bảo, cha nó nhận xét, ở xứ này cả trăm năm qua chẳng thấy ai tính tình quái đản như cậu, ai gieo gió độc thì sau này chắc chắn sẽ gặt bão dữ.
       “Bà con quanh đây nói, mày coi vợ như gà heo, cỏ cây”.
       Ông Chương giơ cái ly lên cao, nhìn kỹ, như ngắm vật lạ.
       “Nay mày có ân hận chút nào không?” ông hỏi rồi tự trả lời. “Có tiếc thương, ăn năn, cũng đã muộn, quá muộn”. Ông châm trà cho mình.
       “Sống chung hơn ba mươi năm, tao chưa hề chửi thím mày một câu nặng, chưa đánh, dù chỉ một bợp tai nhẹ. Vì sao? Vì cổ nhân nói, trong tình vợ chồng có tình anh em và tình bạn… Không cần chửi bới đánh mắng nhau người ta vẫn sống được… Mày nghĩ sao khi thẳng tay đấm con Hân sưng vù mặt?”.
       “Con… con buồn quá”. Được nhận những lời giáo huấn từ miệng người cao quí rất đáng hãnh diện. Có điều, ông Chương không biết, cậu Đáng cũng chưa hề chửi vợ một câu nặng.
       “Nó, vợ, như em gái mình. Ai đánh con Ngọc như thế, mày buồn không?”.
       “Con… con ngu”.
       “Đánh em cháu, bắt nạt người yếu đuối hay ho gì… Có người bảo, con Hân chết, không bỏ đi, vì nó thương mày.. Mày hèn!”.
*
       Bà Bướm nói, có chỗ khó hiểu, sao cô Hân tìm đến cái chết thảm, không bỏ chồng. Mấy năm gần đây chẳng hề thấy cô ấy cười. Một người hiếm có, dịu dàng, xinh đẹp. Dạo khắp vùng quê tối tăm này, dù tìm mờ mắt cũng sẽ không thấy người thứ hai tương tự. Cô ấy yêu trẻ con, chẳng giận ai, luôn nghĩ tốt về người khác.
       Bà Bướm kể, bốn ngày trước khi chết, vào buổi trưa, Hân uống rượu. Cô ấy moi ở đâu ra một chai rượu đế, mấy miếng khô thiều. Bà Bướm thất kinh. Cô hỏi, có khi nào bà nghĩ đến cái chết, bà sợ chết không. “Tôi sẽ uống đến lúc ngã gục. Chắc tối nay tôi chết đấy… Biết chết mà không sợ kể cũng giỏi!”. Cô ấy còn nói, tuần qua ngày nào cô cũng tắm hai lần để người thơm và quen nước ao. Sao lại quen, quen thế nào? “Say chết, hay say rồi tỉnh?... Có chuyện thế này: một ni sư quy y hơn 40 năm, ăn chay trường, đến lúc gần chết xin uống thử muỗng nước mắm. Tôi tin chuyện đó có thật, tôi đang uống nước mắm đây… mắm cay!”.
       “Tôi chưa hề nghe cô Hân nói xấu ai”.
       “Chưa hề”. Cậu Đáng lặp lại. “Chị có nghe Hân phàn nàn, oán trách tôi?”.
       Bà Bướm lắc đầu. “Cô ấy chẳng chê bai, chỉ trích ai”.
       “Không chê”. Cậu Đáng lặp lại. “Chị gặp thằng Tùng chở Hân mấy lần?”.
       “Không gặp. Ai nói với chú chuyện đó?... Dù có chở cũng là thường, có gì đáng để ý?”.
       “Chuyện thường?”. Cậu Đáng nói, như hỏi mình.
       “Thằng Tùng chưa bao giờ chở Hân, chị thề đi”.
       “Tôi thề. Nếu nói sai, kiếp sau tôi sẽ thành heo chó, giòi bọ”.
       Một lúc lâu, khoảng mười phút, cậu Đáng bật cười, tiếng cười nghe lạ, như tiếng nghiến răng, gió rít. “Quái dị, giờ này còn hỏi thế để làm gì?”.
       “Dường như cô Hân không biết ca hát, cười đùa… Tội nghiệp, cô ấy trẻ quá mà…”.
       “Tôi cũng trẻ… chưa có con, chưa già”. Cậu Đáng cười, khô khốc.
       “Tôi nghĩ mãi, sao cô Hân không bỏ chú, lại chết oan uổng”. Bà Bướm nói thật nhỏ, phải chú ý mới nghe được.
       Cậu Đáng có thương yêu vợ không? Khó thể biết được. Có điểm dễ thấy, sau ngày mợ Hân mất, cậu gầy rộc, hốc hác. Cậu lấp cái ao, trồng lên đó mấy cây bàn chải. Suốt ba tháng, ngày nào cậu cũng ra ngồi bên mả vợ từ chiều xẩm đến khuya. Nhiều đêm cậu ngủ luôn ở đó. Rồi cậu ngã bệnh, nằm liệt giường hơn nửa năm trời.
*
       Đó là chuyện xảy ra cách đây hơn… nửa thế kỷ. Mấy năm sau, chiến tranh bùng nổ. Cái làng nhỏ bé ấy hóa ra xơ xác, tiêu điều. Ngoại tôi qua đời. Tôi không về làng nữa. Sau này, dò hỏi, tôi được biết cậu Đáng đã bỏ quê đi trong dạo đó. Cậu tặng nhà cửa, ruộng vườn cho em, cháu. Cậu đi đâu, không ai biết.
       Đến nay, hơn hai vạn ngày qua đi, tôi đã lên lão. Thời gian xóa nhòa nhiều thứ trên trái đất, nhưng cái chết của mợ Hân vẫn còn rõ nét, không mờ cũ trong trí tôi… Không phải mọi việc trên đời đều có thể giải thích được. Chắc chẳng ai có khả năng nhìn thấy tất cả đường nẻo, ngóc ngách trong tâm hồn con người ./.