30 thg 10, 2015

ĐỪNG ĐẾN


        Thường ngày ông Nghiệp nói chuyện mau lẹ, rành mạch, đi thẳng vào vấn đề, không lòng vòng rào đón, chỉ cần năm bảy câu là đủ, chấm dứt. Nay hơi khác, ông đã nói ngót nửa giờ, đề cập đến nhiều chuyện, mỗi chuyện một ít, nói mãi, Hồng Anh vẫn không nắm được ý chính ông muốn trình bày. Nhưng đi lâu rồi cũng phải đến, sau cùng ông bảo:
        - Chú muốn nhờ cháu giúp cho một việc.
        - Dạ, chú cứ nói. – Hồng Anh khuyến khích.
        - Mấy lần chú định nhờ, nhưng ngại… cũng hơi khó đấy.
        - Dạ, cháu sẵn sàng. Xưa nay chú đã giúp cháu nhiều.
        Ông Nghiệp nói khẽ, gần như thì thào:
        - Chú muốn làm quen với dì Phương… Cháu hãy tạo điều kiện, để chú có cơ hội tiếp xúc.
        Khá bất ngờ đây. Hồng Anh nhìn ông Nghiệp, lúng túng. Ông đã cao tuổi, chắc phải ngót nghét bảy mươi, nhưng trông tướng người  khỏe mạnh, tóc chưa bạc, mắt sáng, đi đứng nhanh nhẹn. Đàn ông như thế còn nghĩ đến “bạn gái” cũng là thường.
        - Cháu thấy đó, chú ở một mình thế này đã lâu. Má con Hòa mất đã bảy năm.
        - Dạ.
        - Nhiều lúc buồn, muốn tìm người bầu bạn để hôm sớm có nhau, nhưng lại sợ mồm miệng người đời… Họ sẽ chê cười, già mà còn…
        - Dạ.
        - Dì Phương sống một mình cũng lâu?
        - Dạ, lâu lắm… chắc đã hai mươi năm, hay hơn nữa đấy.
        Im lặng. Hồng Anh muốn nói vài câu để giữ vẻ tự nhiên, nhưng chẳng nghĩ ra ý nào.
        - Dì cháu tuổi Hợi, chú biết.
        - Dạ, sáu hai hay sáu ba, cũng nhiều tuổi lắm.
        - Chỉ có vậy. Cháu giúp chú vượt qua cửa ải chính, cái khó ban đầu. Còn sau đó chú tự xoay xở.
        Ông Nghiệp là người hàng xóm giàu có, khá tốt. Mấy năm gần đây, những lúc túng bấn Hồng Anh thường sang nhờ cậy. Chị xin vay tiền nhưng ông cho mượn, vì “láng giềng cũng như bà con”. Hiện tại, trước sau gia đình chị còn nợ ông đúng sáu triệu đồng.
        - Chú muốn kết bạn với bà Phương, nhưng chẳng biết nên gặp mặt bằng cách nào. Không lẽ bỗng dưng xồng xộc đi vào nhà người ta… Cháu là cháu ruột, như con của dì… Nếu mọi chuyện tiến triển tốt chúng ta sẽ là người thân, cháu sẽ thành cháu ruột của chú.
        Nhưng còn cái ý thưởng công, là vấn đề tế nhị, nó khiến ông ngập ngừng.
        - Chú biết trọng nhân nghĩa, cháu giúp, chú không bao giờ quên ơn. Trước mắt, cháu khỏi phải trả số tiền còn thiếu… Nó chẳng lớn lao gì, nhưng chắc cũng xóa được cho các cháu một mối lo… nợ nần cay cực lắm.
        Đề nghị của ông Nghiệp khiến Hồng Anh lo lắng. Nó hấp dẫn, nhưng quá khó. Đột nhiên món nợ này biến mất, như cái nhọt lớn tan dưới bàn tay thầy phù thủy, thật sao? Suy tính mấy ngày, sau cùng Hồng Anh hỏi ý kiến chồng. Nghe lạ, nhưng Vĩnh nói ngay:
        - Túng thì liều, ta thưa lại với dì Ba, xem sao.
        - Dì như thầy tu, xưa giờ chưa hề nói tới chuyện chắp nối, bước thêm.
        - Đúng vậy, nhưng chắc mình phải lì, vì món nợ ác hại… dì Ba thương em.
        - Ta đóng vai trò kẻ dẫn đường, mai mối, tạo cho ông ấy một cuộc gặp mặt… chỉ có thế… nghe qua thấy cũng đơn giản.
        - Không dễ lắm đâu. Nó đáng giá sáu triệu… Ông ta thuộc hạng người coi động tác rút tiền ra khỏi túi là một biến cố.
        - Vậy em cứ nói đại, cảm tử?
        Ngay sáng hôm sau Hồng Anh đến gặp bà Phương. Trái với sự lo lắng của vợ chồng Vĩnh, bà Phương nghe chuyện với vẻ thờ ơ, chẳng tỏ ra ngạc nhiên chút nào. Bà nói có biết ông Nghiệp, nhưng đã lâu, rất lâu rồi không gặp lại. Ông ấy là tay làm ăn chí thú, cần cù. Bà vợ ông nhỏ bé, dân Quảng, thường đau ốm quặt quẹo, chết do uống nhầm thuốc… Bà hỏi, như tự nói với mình:
        - Tại sao ông ta nhớ tới dì nhỉ, ai mách? Quanh đây còn có biết bao người không chồng khác.
        Một lúc sau, bà tiếp:
        - Nay đi lấy chồng… bỗng nhiên ôm vào mình cái chuyện chồng con bùng nhùng… rồi ông ông tôi tôi, anh em em anh… có hài hước không?
        Và bà hỏi:
        - Thế là con làm bà mai đấy, không sợ à?
        Hồng Anh giật mình.
        - Dạ, ông Nghiệp năn nỉ quá, nói đi nói lại mãi.
        - Kẹt thực! Con nghèo túng, nợ nần. Dì thì chẳng có gì để giúp.
        - Dạ, con sợ lắm, nhưng ông ta…
        - Đây cũng giống như một cuộc mua bán, đổi chát… Con có hứa gì với ông Nghiệp không?
        - Ông ấy nói chỉ cần gặp, trò chuyện với dì, con không còn nhiệm vụ nào khác.
        Bà Phương chấp nhận.
        - Chỉ như thế mà sáu triệu… dũng mãnh, cương quyết lắm!
        Cuối cùng bà cũng nói những lời Hồng Anh mong đợi.
        - Được rồi, dì sẽ giúp. Có lẽ chẳng chết ai… Để xem ông ta nói năng những gì. Mình đã già, đầu có sạn, ai dụ dỗ, phỉnh gạt được mà sợ, phải không?
*
        Bà Phương rót trà ra hai ly, mời khách. Ông Nghiệp ngồi thẳng đờ, nhìn ngó quanh quất, lộ rõ vẻ bối rối. Bà Phương đẩy ly nước về phía ông:
        - Mời anh.
        Ông Nghiệp mặc bộ đồ mới cáu, tóc mới hớt chải mượt, tay phải đeo chiếc đồng hồ nhỏ dây vàng chóe. Nhìn ông, bà Phương nhớ lại lớp thanh niên thời xưa. Hồi còn nhỏ, bà thấy các anh trai chưng diện theo mốt quần trắng ống chật, áo cổ cứng cao, mang giày xăng đan da xi bóng loáng, kính đeo mắt giắt trước ngực, đầu tóc bôi đầy dầu ba số 5 trắng như mỡ heo.
        - Đã lâu tôi không đến xóm này, nay trông khác quá. Nhà cửa đường sá đều lạ, đông đảo, rộng gấp hai gấp ba trước kia.
        - Dạ, người ta đua nhau xây cất, mới rộ lên trong vài năm gần đây.
        - Không có cháu Anh thì tôi đi lạc.
        Ông chỉ tay ra đường:
        - Cái cổng hẹp quá, nên mở rộng thêm khoảng một thước chị ạ.
        - Vâng, đúng là hơi nhỏ.
        - Cái sân cũng vậy, nới ra thêm vài thước nữa nó sẽ cân xứng với ngôi nhà.
        Ông nhận xét, cái nhà trước mặt kia xây phòng tắm, nhà vệ sinh như thế là không phải, chướng, lẽ ra bà Phương nên góp ý để họ cất dịch về bên trái chừng bốn mét. Và ông nói, nhìn cái sân trống trơn, không có lấy một bụi bông, thấy buồn. Như sợ dừng lại thì sẽ bị rơi vào vùng im lặng nguy hiểm, ông kể về việc ông đã bài trí nhà cửa như thế nào, đã bỏ công đổ tiền ra để trồng, mua ba mươi chậu cây kiểng loại quí ra sao.
        - Tôi sẽ tặng chị vài chậu sứ, mai, tùng, đều là những cây lâu năm, quí hiếm. Cây mai Huế người ta trả hai triệu tôi không bán. Cây ngọa tùng lão ai thấy cũng lé mắt… Tôi dám tự hào, tôi là người biết ăn ở… Tôi coi tình nghĩa cao hơn mọi thứ trên đời.
        “Các cháu ơi, tới xem ông nội tán gái!” Ý này lóe ra trong trí, khiến bà Phương suýt bật cười.
        Ông Nghiệp nói, sắp tới chắc ông nhượng cơ sở sản xuất nước mắm cho đứa cháu. Nghề này ông thành thạo, đã làm từ thời còn trẻ. Nước mắm Hải Nghiệp vẫn bán chạy, nổi tiếng khắp vùng. Nhưng nay, do tuổi tác của ông, nó trở nên cồng kềnh, không còn phù hợp nữa.
        “Trông ông ta nói, dáng vẻ, giọng điệu giống như… giống ai nhỉ? – Như mấy ông chủ nhiệm nói trước xã viên.” Bà Phương nhìn dán vào miệng ông khách, nghe với vẻ chăm chú.
        Bằng giọng khiêm tốn cố tình, ông Nghiệp khoe, tuy chưa phải là tay cự phú, nhưng ông cũng có chút ít tên tuổi, uy tín trong quận. Ông nằm trong Ban trị sự chùa lớn Long Hòa, là hội viên danh dự Hội Phụ huynh học sinh trường Trung học Trần Phú, là mạnh thường quân của đội bóng đá Châu Thành.
        - Từ khi bước lên tuổi sáu mươi tâm tính con người ta biến chuyển. Nó như một cột mốc cao. Tới đó người bộ hành ngồi nghỉ, quay nhìn lại đoạn đường mình vừa đi qua, và hướng mắt tới quãng đường ngắn phía trước. Dù vô tâm đến mấy mình cũng phải suy ngẫm…
        “Ông ta nói có vẻ chân thành, nhưng vẫn buồn cười thế nào ấy… Sao lại tâm sự mặn mòi như vậy với người mới gặp lần đầu.”
        Ông dự định sẽ mở một tiệm bán đồ điện và vật liệu xây dựng. Có đứa cháu trai rành nghề điện phụ giúp, ông tin dịch vụ này sẽ phát đạt. Quanh vùng cũng có vài cửa hàng loại đó, nhưng chúng nhỏ, làm ăn tủn mủn. Ông sẽ là đại lý bề thế, vững chãi.
        - Tôi chỉ huy, trông coi bao quát, chạy ngoài, lo về đối ngoại… muốn vậy thì phía sau, hậu cần, phải ổn định, như một cái nền kiên cố… nghĩa là cần người quán xuyến, nội trợ, một tay xếp đặt gạo tiền, giữ tủ, cầm chìa khóa.
        “Tôi dự tính… Tôi sẽ… Tôi muốn… Ông ta vẫn nhìn về phía trước với đôi mắt của người trai trẻ, thức thời.”
*
        Bà Phương đến lúc Hồng Anh đang quét dọn sau bếp. Bà xách một giỏ cước đầy thanh long và ổi, những hoa trái trong vườn nhà.
        - Dì báo với con tin vui – Bà đưa cho Hồng Anh một gói giấy – Tiền đây, sáu triệu, để con trả nợ.
        - Trời ơi!
        - Bất ngờ hả – Bà Phương cười xòa -  của thằng Quang gửi về cho đấy, mười triệu tất cả. Chính dì cũng ngạc nhiên. Gần bốn năm qua bặt tin nó, chẳng được một lá thư.
        Quang là con trai của dì, đi làm ăn trong Nam, chưa có nghề nghiệp rõ ràng.
        - Con đem trả cho ông Nghiệp, để được nhẹ nhàng, khỏi bị ràng buộc.
        - Trời phật ơi, con mừng quá!
        - Nhận thư và tiền của Quang dì mừng suýt ngất xỉu. Điều đầu tiên dì nghĩ tới là số nợ hai triệu này… Ôi, Trời có mắt!
        - Con mừng chết được, dì ơi!… Túng làm càn. Phải nghe theo lời ông Nghiệp con cảm thấy như cầm bút ký giao kèo với bọn bất lương.
        - Dì biết. Đồng ý cho ông ta tới nhà là dì cũng làm càn… Những lần thăm dồn dập, mấy chậu cây cảnh, những viễn cảnh sáng lòa của một cuộc sống chung mà ông ấy vẽ ra làm dì rầu thúi ruột… Tháng này ông Nghiệp tới thăm dì ba lần, lần cuối là chiều hôm qua. Đúng, cuối cùng, bởi dì đã bảo thẳng rằng ông đừng đến nữa… Dì nói, tôi vô cùng cám ơn anh đã nghĩ tưởng, có cảm tình với tôi. Nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì thiên hạ sẽ dị nghị.
        - Chắc “anh chàng” thất vọng lắm?
        - Ờ, buồn, ngồi lặng thinh… Vì lịch sự dì phải quanh co, giải thích hơi dài. Nếu nói thiệt tình, dì không thể kết thân với ông ấy chỉ do một điều: dì chưa hề nghĩ đến… Dì liệt kê một loạt trở ngại: các con tôi không đứa nào bằng lòng. Ở tuổi này việc thay đổi cách sống rất gay, bởi mọi thứ đã thành cố tật. Tôi vụng về, chậm chạp chắc khó thích nghi với nếp sống phố thị rộn ràng. Ông còn hăng hái, xông thẳng vào chợ đời, còn tôi từ lâu đã an phận nghỉ hưu. Tôi đã quen với cảnh quê lậu, bình lặng như thế này hăm hai năm nay… ôi, nhiều, nhiều lắm!
        - Ông Nghiệp đáng thương!
        - Dù sao sự xuất hiện, đột ngột và ngắn ngủi, của ông cũng đem lại “một tác động tích cực”, nó giúp dì nhận ra được: sống như lâu nay là tự do, thanh nhàn… May phước, trời đất thương tình, thằng Quang gởi tiền về đúng lúc. Nếu không làm sao ta có thể nói mạnh miệng: ông đừng đến nữa!
        - Tiền về kịp thời, may cho dì và cho con… “Đừng đến nữa”, dì của con thật dứt khoát! – Hồng Anh cười sung sướng.
        - Phải, dì lặp lại hai lần: từ nay ông đừng đến nữa… Ông ấy ngồi im, uống hai ba ly nước, rồi về, không chào một tiếng.
        “Đừng đến” nghe có vẻ hòa nhã mà rắn rỏi, quyết liệt ./.

Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 24,
                                  22-7-1998

 


ĐỌC TRUYỆN ĐOÀN VIỆT HÙNG


      Đoàn Việt Hùng quê ở Phú Yên, học sư phạm Cần Thơ, ra dạy tại Gò Công (1971), và lập gia đình với một “nhạn trắng” Gò Công (1973). Giai đoạn dạy học cũng là thời anh viết mạnh. Truyện ngắn của anh xuất hiện thường xuyên (dưới bút danh Nguyễn Lệ Uyên) trên các tạp chí văn chương Sài Gòn lúc đó. Sau giải phóng, anh chuyển qua viết báo, viết biên khảo khá lâu... Năm năm gần đây, anh đã xuất bản 4 tác phẩm, gồm 2 tập biên khảo, 2 tập truyện ngắn. Mưa trên sông Đăkbla là cuốn mới nhất.
      Tập sách không dày, 10 truyện, in kiểu chữ đẹp, trình bày trang nhã, bìa đẹp. Chúng ta thử điểm qua vài truyện tiêu biểu.
      MỘT ÔNG GIÀ sống lâu năm trong Nam, lúc nào cũng nhớ về miền quê Phú Yên của mình, càng già càng nhớ cồn cào. “Ông có một nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ quê, nhất là khi ngọn gió chướng thổi, lúc hiu hiu, lúc mãnh liệt như bàn tay vô hình bóp thắt tim ông từng cơn.” Gặp người bạn cũ, ông ngủ với bạn một đêm, hàn huyên, ôn chuyện xưa, để đỡ nhớ. Gặp đứa bé cùng quê vào bán vé số, ông mừng, hỏi nó đủ thứ, và cho nó tiền. Ông say sưa nhắc đến những địa danh Đông Phước, Bầu Sấu, cầu Chùa, Phú Ân. Cái vùng quê xa xôi ấy có gì làm ông nhớ? “Mùa gió nam non hất tung những bông mướp vàng lay bay chấp chới, khi gió nam cồ cát cuộn bốc tận trời cao, cát bay mịt mờ suốt dãi sông trong vắt. Ngọn gió hung bạo thổi tốc mái tranh, lật chổng những ổ chim dồng dộc.” Đều là hình ảnh, hoài niệm về cố hương của dân quê... Nhớ về Phú Yên là nhớ cầu Đà Rằng, tháp Nhạn, núi Chóp Chài, và Tuy Hòa, cái thành phố nhỏ “đi 5 phút đã về chốn cũ.” Cũng là nhớ về con sông cần cù mang phù sa bồi đắp cho vựa lúa lớn, sông Ba.
          Mai đành xa sông Ba tóc dài
          Tuy Hòa tình yêu anh gởi lại.
                                      (Hoàng Nhuận Cầm)
      Những trang dày đặc tình cảm mật ngọt, những dòng gan ruột dành cho quê mẹ. (Nhớ).
      CHUYỆN VỀ người phụ nữ vướng phải cuộc hôn nhân như một cú lỡ lầm tai hại. Đời sống vợ chồng quá ngắn, 29 tháng. Người chồng mau chóng lộ rõ chân tướng, là kẻ bê tha, độc đoán. “Buổi tối, hắn trở về nhà với mùi rượu thịt, mùi đĩ thõa trộn lại thành một thứ mùi lộn mửa. Hắn đổ vật lên nệm cùng với những gì từ trong bụng hắn trào ra. Nàng chết đứng giữa căn phòng tanh tưởi.” Người phụ nữ thấy mình bị phỉnh phờ, lừa mị. Chị lún sâu trong sự đày ải, khổ đau. Bao lo sợ, thất vọng, dằn vặt kéo dài, triền miên. Cuộc kết hợp mới 29 tháng, mỏng manh. Sau cùng, không còn chịu đựng được, chị bỏ đi, tìm cách giải thoát, cởi trói cho thân phận mình. “Chị không biết mình sẽ đi đến đâu, trôi về xứ nào. Và cứ thế, chị bước trên con đường đất ngập đầy nước, bên tai nghe ù ù tiếng gió, tiếng mưa đổ, và cả tiếng lòng tan hoang của chị nữa.” Sau nhiều ngày đi, mệt nhoài, kiệt sức, chị lạc vào khu rừng ma quái, gặp những tượng đá hình người, chị sợ hãi, muốn quay về, nhưng đã muộn... Rồi chị cũng thành đá... Như vở bi kịch ngắn, giá băng, xám ngoét. Chị là Tô Thị kiểu mới, hoá đá nhưng không trông chồng! (Người đàn bà chết trôi).
      SAU TRẬN đau nặng, anh Hậu lui về ở ẩn trong một căn nhà cuối hẻm. Anh đọc sách báo, làm vườn, trồng rau, và nuôi chim... Anh không mua chim quý, nuôi toàn những loại xoàng, tầm tầm, cốt để có việc làm, giết thì giờ. Bạn bè thấy lạ, có người chê anh không có mắt thẩm mỹ, chẳng biết thưởng thức cái đẹp. Anh bỏ ngoài tai. Đây chỉ là thú chơi phụ. Anh có cách nghĩ của anh. “Vào rừng sâu, leo lên tận núi cao nằm gối đầu lên rễ cây mà lắng nghe chim hót. Giữa mênh mông đại ngàn của rừng, tiếng xào xạc của gió núi, âm thanh róc rách của suối sâu, tiếng chim hót nghe phiêu phiêu ngọt ngào. Những âm thanh ấy cứ lan tỏa khắp đất trời, thấm sâu vào tận những vi ti huyết quản, lan xuống đầu ngón tay, ngón chân, làm rung rinh những chân tóc.”
      Bầy chim anh Hậu nuôi cũng lạ. Chúng ở lâu với người, được cho ăn uống, đâm ra dạn dĩ, lười nhác, quen với thói hưởng thụ. Anh không đóng cửa lồng, chúng vẫn ở, không bỏ đi. Có điều, no nê quá, mập mạp quá, chúng không hót được. Không hót thì còn gì chim? “Anh Hậu chun môi huýt sáo, con chào mào cất giọng khàn khàn. Anh bập bập môi, chú cu cườm gật gù nhưng không ra tiếng. Khi anh vỗ tay bồm bộp, tất cả các chú chim của anh kêu khào khào trong cổ họng, nghe thảm thương.” Một cách tiêu khiển ít tốn kém, hơi kỳ quặc. Bạn anh nhận xét: đây là hai mảng của cuộc đời, hai mặt của con người. Nó như bức tranh cũ bợt bạt, lam nham, như một nghịch lý buồn thảm. (Bầy chim trước hiên nhà).
      BA CÔ gái trẻ lên dạy ở một ngôi trường miền núi, tình nguyện giam cầm tuổi thanh xuân nơi thâm sơn đìu hiu. Bốn năm sống xa ánh sáng văn minh, ăn uống kham khổ, thiếu thốn mọi bề; cuộc sống diễn ra giống những hoạt cảnh về một nhóm người ở trên hoang đảo, bị phủ trùm trong sương mù.
      “Mâm cơm chiều trở nên lạnh ngắt. Con mèo mướp ngồi chồm hổm liếc nhìn các bà chủ không hiểu cớ sự, kêu mấy tiếng meo meo rồi bỏ đi nơi khác. Thời gian cứ lếch thếch bay qua đầu ba cô giáo bằng những chuyện không đâu như vậy, nó như chiếc kềm nhéo nhẹ vào da thịt, không trầy xước nhưng cũng gợn nhói lên chút đau tê.”
      Truyện đề cập những chuyện có vẻ bình thường nhưng xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt, nên nó nổi lên đậm nét. Những chi tiết về sinh hoạt của các cô giáo viết nhẹ nhàng, không bi thảm hóa vấn đề, nhưng vẫn nói lên được nhiều điều. Các cô bị dồn vào chân tường. Họ không sợ khổ, không muốn rời trường, bỏ học trò. Họ sợ tuổi già, và sự vô tâm. Thấm đẫm những nỗi niềm. Một chút tàn nhẫn, khá nhiều xót xa. Người ta thương các em học trò chân đất, thương cha mẹ chúng... Ba cô giáo về xuôi. “Trước mắt họ là dãy núi xanh đậm nhô lên phía sau những ruộng bắp, những cánh đồng mía ngút ngàn kéo theo con sông nhỏ lượn quanh. Nhánh sông nhìn thấy từ bến nước sẽ hòa vào dòng sông lớn, dòng Krông Pa trôi xuôi ra biển, mang theo mùi hương núi rừng, mang theo giấc mơ khắc khoải.” Đoạn kết khiến người đọc xúc động. Không ai muốn sự việc diễn ra như vậy. Nó không có hậu, nhưng hợp lý, chẳng thể làm khác - Đời người cầm bút, nếu viết được ba truyện như thế này thì khỏe, khỏe quá. (Nơi không chỉ có khói núi).
      CÔ GÁI kể chuyện Tuy Hòa cho bạn trai (người Nam bộ) nghe. Cô kể dài, tỉ mỉ. Chuyện về những thắng cảnh, sông Ba, cầu Đà Rằng, làng hoa Ngọc Lãng. Chuyện về ăn uống, các đặc sản: bánh tráng, sứa, cá thài bai. “Anh ở đồng bằng thì làm gì biết con sứa? Nó là sinh vật sống ở biển. Mẹ mua loại sứa chân, mang về chần nước sôi, trộn với rau thơm, chuối chát xanh, đậu phộng rang, da heo xắc nhỏ, thêm chanh ớt, xúc vào chén ăn với bánh tráng nướng bóp nát. Nó ngon không thể chê vào đâu được.” Chuyện gió Tuy Hòa, thứ gió vừa dữ dội vừa lãng mạn. Chuyện mùa lụt, và những kỷ niệm tuổi thơ.
      Tình yêu quê hiển hiện qua lời kể, trên từng dòng chữ. Dường như cô gái yêu mọi thứ của Tuy Hòa. Đây là những trang thư, nhưng viết chăm chút như nhật ký, đầy ắp nhớ nhung, thương mến. Cô tự hào, tô hồng tí chút cho xứ sở mình. “Thành phố của em đẹp mê hồn, rực rỡ trong nắng sáng trong vắt. Bên này là chân núi dựng đứng, bên kia thì xoãi ra gần đụng quốc lộ... Con sông Chùa ngắn, nước ửng xanh màu ngọc bích, vắt ngang qua nửa ngực thành phố in hệt nét chì tô xanh quầng mắt, như tấm khăn của người thiếu nữ vắt qua vai thả rơi lưng lửng xuống ngực.”
      Người bạn trai muốn cùng về để biết quê bạn, nhưng cô gái thấy chưa phải lúc. Dù vậy, chắc thế nào sắp tới anh cũng được về. Nên cô gái chuẩn bị sẵn cho bạn mớ hành trang, cung cấp cho anh cuốn “cẩm nang” Phú Yên, phong phú những đặc điểm về địa lý, thời tiết, lịch sử, tập tục, thật chí tình, dễ thương, hồn nhiên.
      Truyện viết dưới hình thức những bức thư, nếu đem đọc trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, bằng giọng thủ thỉ, sẽ gây được nhiều xúc cảm. (Về Tuy Hòa).
      CÓ GÌ cần góp ý ở đây? Cũng có! Nhà giáo quen sống ngăn nắp, mực thước. Nhà văn gốc giáo viên thường mang đặc tính ấy vào trang viết. Có những chỗ, những tình huống nếu tác giả tăng thêm một ít “nhiệt lượng”, ít nét đột biến, thì có lẽ truyện sẽ mới hơn, đậm đà hơn.
      Đoàn Việt Hùng không lớn tuổi hơn tôi, nhưng tôi luôn coi anh là anh, vì Hùng điềm đạm, chín chắn; văn anh cũng thế, kiệm lời, cô đúc. Cầm cuốn truyện mới của anh trên tay, tôi mừng. Hơn 40 năm có mặt trên văn đàn (lúc dày, lúc thưa) là may mắn, hạnh phúc. Tôi mừng cho anh, cũng như đã mừng cho mình. Còn các việc khác, như sức lan tỏa của truyện tới đâu, tuổi thọ của sách thế nào, là chuyện về lâu về dài, chẳng có gì phải lo nghĩ ./.

                                                                                                           Văn Tánh
 


       Mấy năm nay các bạn Nha Trang tặng tôi nhiều sách, nhưng tôi không giới thiệu ai – Tôi đã viết về V. Hồng 2 bài, T.H. Ân 2 bài. Nay lại viết về anh – Đã gửi cho Nha Trang, nhưng tôi sợ các bạn ấy bực – chưa chắc đăng – Nếu họ chọn thì sẽ đăng vào tháng 7, tháng 8.


Đọc thơ BẠN THƠ


      Cách đây hai năm, một chiều hè, trong một quán ăn gần biển Nha Trang, lần đầu tôi gặp anh Đặng Cước. Được giới thiệu, anh là người chơi thơ, nhưng trông tướng mạo anh không giống thi sĩ. “Anh chàng này nom quen quen.” Mãi sau, nhớ ra, tôi thấy anh giống Lê Hồng Hảo, vận động viên bóng chuyền nổi tiếng. Anh là kiến trúc sư, dáng người anh như vận động viên thể thao, nhưng anh đang say mê làm thơ, thú vị ở chỗ đó!
      Sau 4 tiếng đồng hồ lai rai trong cái quán trên con đường có nhiều cây phượng ấy, hiểu biết nhau chút ít, tôi nhận ra: quả là anh gần gũi với thơ. Thật ra, chẳng có một tiêu chuẩn, một quy định nào chứng nhận một người hợp với nghề này hay nghề kia, nhưng Đặng Cước khác với những tay chính trị nói năng khéo léo, hoặc những vị doanh nhân lanh lợi “quá đáng”, năng nổ xông xáo “quá cỡ”, khiến người đối diện phải cảnh giác. Anh yêu thích, và hiểu thơ khá sâu.
      Ít lâu sau, tôi nhận được một tập thơ của anh. Tập sách in vi tính, dày dặn, bìa và phụ bản đẹp. Có khoảng trăm rưỡi bài thơ, đa số làm thể ngũ ngôn tứ tuyệt. Thơ ngắn, rất ngắn, cô đúc, như thơ Haiku của Nhật. Chỉ một bài dài 16 câu. Ba bài 8 câu. Hai bài 2 câu. Còn lại đều 4 câu… Nội dung phong phú. Anh viết về bằng hữu, về vợ con, về một cô hàng rong, một chàng trai trẻ nghiện ngập. Chúng ta bắt gặp trong đó những quán rượu, nhiều chùa, phật, thiền, (anh có nhiều bạn trong giới nhà chùa). Điểm nổi rõ, bao trùm, là nỗi buồn nhè nhẹ, buồn nhân thế, buồn về sự mong manh của kiếp người.
                   Sự buồn, lang thang đơn độc
                   Sự nhớ, nắng quái chiều hôm
                                                   (Tự nhiên)
                   Mây mờ giăng khắp lối
                   Gieo nỗi buồn thiên thu
                                                  (Chợt nghĩ)
      Các ý tưởng an nhiên, những suy ngẫm về cuộc sống, về sự hữu hạn của đời người, được nói đến khá dày, khá đạt.
                   Thuyền trăng trôi lơ lửng
                   Giữa khung trời mờ sương
                                                  (Đôi bạn)
      Thiên hạ ví: thi nhân đến với thơ như bướm tìm hoa, trăng đến với gió. Thơ là những hàng cây trong phố. Thử hình dung một thành phố thiếu cây, không có vườn hoa, công viên, nhìn đâu cũng gặp bê tông, xi măng… Có gì phân biệt giữa một nông dân làm thơ, và một viên chức làm thơ? Đâu là đặc điểm của một người chơi thơ và một nhà thơ “chuyên nghiệp”? Có thể trả lời “có”, hoặc là “không”, vì nó mù mờ, chẳng rõ ràng. Chỉ chắc chắn một điều: ngoài phần vật chất, con người còn có tinh thần. Nếu để vật chất bành trướng, lấn át, người ta sẽ thô thiển, lố bịch, hung bạo, tàn nhẫn, gần với con thú. Vậy nên, phim ảnh, nhạc họa, thơ ca, những thứ thoạt trông có vẻ phù phiếm, nhưng là tường rào giữ cho con người không rơi xuống hố tầm thường, dung tục.
      Anh Đặng Cước có nhiều, thật nhiều ý hay, lạ, nhưng đáng tiếc lắm lúc anh viết chưa đến chỗ tận cùng của vấn đề, nên có vẻ giống những bức phác họa. Và tôi nghĩ, phải chi tập thơ có thêm vài bài lục bát, chừng chục bài làm theo các thể thơ khác nữa thì tác phẩm sẽ mượt mà, đa dạng hơn.
                   Một cành mai nở muộn
                   Bơ vơ đứng giữa vườn
                   Một người ngồi lặng lẽ
                   Điểm lại đời mưa tuôn.
                                        (Xuân muộn)
      Đây là hình ảnh đẹp, và buồn. Người ngồi lặng lẽ, một cành mai, là thơ, là triết, nó đọng lại lâu trong lòng người đọc ./.

                                                                                                       Văn Tánh

* Đọc tập “Thơ Phù Vân, Đặng Cước


BUỒN MỘT MÌNH


        Hạnh bán cháo vịt và cà phê “kho” trên hè phố, dưới bóng một cây bàng lớn, khách quen gọi là quán Cây bàng… Ở lớp học tiếng Anh ra, hơn 10 giờ khuya, Thuần và Lạc ghé lại, Cây bàng vẫn còn khá đông khách. Không chờ gọi, Hạnh bưng đến hai tô “ấm bụng”. Giá phải chăng ăn ấm bụng!
        “Sao về khuya thế?” Hạnh hỏi.
        “Bận làm bài kiểm tra.” Lạc đáp.
        Hạnh ngồi xuống cạnh Lạc. Lạc bảo:
        “Thứ bảy đi Ba Hồ chơi.”
        “Đi với ai?”
        “Với Thuần và Như Quỳnh.” Lạc chỉ vào Thuần.
        “Em bận, tiếc quá.”
        Lạc nắm tay Hạnh.
        “Em thu xếp nghỉ một bữa, nên đổi gió cho người khỏe ra.”
        Khách gọi, Hạnh đến tính tiền. Hai ông khách đi, bốn cô học sinh tới ngồi vào bàn. Quãng đường này yên tĩnh, ít xe máy, người đi bộ đông. Lát sau, Hạnh lại đến ngồi bên Lạc.
        “Em bán ở đây từ bao giờ?” Lạc hỏi.
        “Sáu năm. Sao, anh?”
        “Hỏi cho biết vậy thôi… sáu năm, khá lâu.”
        “Lâu, nên quen và thân.”
        “Nếu một ngày nào đó em không còn bán…”
        “Thì tìm một nghề khác… nhưng chắc khó rời bỏ chỗ này.”
        “Có thể phải bỏ, như thành phố cấm bán chẳng hạn.”
        Hạnh giơ nắm đấm, dọa Lạc:
        “Anh đừng nói trước, xui đấy… Còn lâu mới cấm, làm sao hết người nghèo.”
        Hạnh chưa hề nghĩ đến sẽ có ngày mình không còn đứng bán ở đây. Từ một công việc tình cờ – của một người bạn tặng không – nay cái quán nhỏ đã thành một chỗ dựa cứng cáp của Hạnh, là nguồn thu nhập chính, nuôi vững chắc bốn miệng ăn… Hàng bàng đứng trầm ngâm trong sương mù sớm mai. Những đêm mưa ướt át lạnh lẽo vắng khách. Những câu chuyện trên trời dưới đất của mấy ông khách vui tính… Tất cả các thứ đó đan xen, quyện vào nhau tạo nên nét riêng của quán “giá phải chăng…”
        “Cà phê không, anh?” Hạnh hỏi, Thuần lắc đầu.
        “Bỗng dưng anh muốn nói về những điều gì đó.” Lạc nói.
        “Muốn nói?” Hạnh có vẻ ngạc nhiên.
        “Ờ, nhưng chẳng rõ là nói gì!”
        “Lạ vậy, bí hiểm!” Hạnh cười.
        “Và muốn làm một chuyện gì đó.”
        Thuần nói với Hạnh:
        “Em đừng nghe Lạc, chẳng hiểu sao mấy bữa nay anh chàng bỗng đâm ra nói nhiều. Hôm kia hắn xung phong đọc một đoạn văn Anh dài, diễn cảm, được cô khen!”
        Hạnh hỏi:
        “Muốn làm, như làm gì?”
        “Cũng chẳng rõ… bụng dạ cứ nao nao, xốn xang vô cớ, như đợi chờ mong ngóng điều gì.”
        “Đi Ba Hồ là sáng kiến của ai?” Hạnh hỏi Thuần.
        “Của Như Quỳnh.”
        “Để em nghĩ lại, mai trả lời… Hơi khó, biết nhờ ai coi giùm quán đây.”
        Ngẫm nghĩ giây lát, Hạnh đổi ý:
        “Được rồi, nhất trí, thứ bảy đi chơi! Mấy chuyện râu ria để tính sau.”
        Nhưng cuộc du ngoạn ấy không diễn ra. Hai hôm sau, thứ sáu – ngay trước “ngày N” – Lạc chết, trong một tai nạn giao thông.
        Hai tháng sau, Thuần cưới Như Quỳnh. Bảy tháng sau vợ chồng Thuần từ giã Nha Trang, dọn đi Cần Thơ, làm ăn sinh sống luôn trong đó. Tất cả đều là chuyện bất ngờ. Từ nhỏ đến giờ Thuần chưa biết Sài Gòn, chẳng mấy khi nói đến hai tiếng “Cần Thơ”, không buồn để ý xem nó nằm nơi nào trên bản đồ, thế mà… “Trên đời chuyện gì cũng có thể xảy ra,” câu nói nửa đùa nửa thật này hình như thường đúng?
<> 
        Tám năm qua nhanh.
        Một ngày mùa hạ mát mẻ Thuần về thăm Nha Trang.
        Thuần ngồi trong một quán cơm trên đường phố có nhiều cây bàng ngày trước. Nay đường được mở rộng, lớn gấp hai, nhà cửa đều “lên đời”, thành lầu hai, ba tầng, không còn căn nhà trệt nào. Hàng bàng biến mất, thay vào đó là những cây hoa sữa, còn nằm sát mặt đất… Thuần nhìn sang bên kia đường, chỗ quán cháo vịt ngày xưa. Giờ đây muốn thấy nó phải nhắm mắt lại, huy động trí nhớ, hình dung ra. Cuộc sống thay đổi từng ngày, như người ta thường nói. Ngày qua, giờ qua, thời gian đều đặn trôi đi, không dừng lại một giây, đó là một trong những điều kỳ diệu trên đời! Kỳ diệu, đúng vậy. Sự xoay vần, chuyển dịch, như hóa chất tẩy rửa bộ mặt quả đất. Nó khiến con người phải hoạt động, tiến bộ liên tục, không đứng yên, nếu không muốn trở nên thoái hóa, cằn cỗi.
        Như chiêm tinh gia, Lạc đã nói: có ngày Hạnh sẽ không còn bán cháo vịt dưới bóng cây bàng nữa. Nói thế, do ngẫu nhiên, hay Lạc linh cảm, thấy trước? Chắc ngẫu nhiên, đang lúc buồn, thuận miệng thì nói. Nếu giỏi, Lạc đã biết cách tránh cái tai ương sắp giáng xuống đầu mình.
        Xe máy chạy dày đặc trên đường. Xe và người. Người quá đông. Có cảm tưởng như thiên hạ không chịu nỗi sự bức bối tù túng trong các căn phòng hộp nhỏ hẹp, túa cả ra diễu hành giữa phố cho thoáng đãng!… Lạc mất đã gần chín năm. Chín năm, thật lâu, biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra trong từng ấy ngày. Chỉ người chết là không thay đổi, chắc thế! Thành người thiên cổ. Mười, mười chín, hay năm mươi, tám mươi tuổi cùng thiên cổ như nhau. Sống thì bon chen, ganh đua, tranh giành, len lách, phấn đấu, chụp giựt, chết thì được quàng cái vòng thiên cổ!
        Quán cơm này mới tinh, nhà mới, bàn ghế mới, những cô nàng tiếp viên trẻ xinh. Các cô ăn mặc đẹp, đi đứng điệu bộ, khác xa cô Hạnh cháo vịt “một tô ấm bụng”! Thuần chơi trò làm người nước ngoài. Từ lúc vào quán anh chỉ ra dấu, chưa nói tiếng nào. Bây giờ Thuần gọi tính tiền, anh giả bộ trợn mắt nhíu mày, nói tiếng Anh với hai cô tiếp viên, (thứ tiếng Anh có sự hỗ trợ đắc lực của hai tay.) Anh “boa” hết số tiền lẻ khá nhiều, hai cô gái mừng, cười rạng rỡ. Lúc Thuần ra đến cửa, một cô nói: “Thằng này chắc dân Thái Lan!” Cô kia bảo: “Không phải, Thái đen hơn, đây là Tàu! Nó không uống rượu mà sao giống như gã say!”
<> 
        Thuần đến thăm Hạnh. Giờ Hạnh bán tại nhà. Nhà, quán đều mới. Nhà kiểu hiện đại, mặt tiền hẹp, dài như toa xe lửa. Quán trang trí hoa hòe, cầu kỳ, bảng hiệu “Hạnh – cháo vịt – nem nướng” lớn đến chướng mắt. Nem nướng thay cho cà phê kho… Thuần ra nhà sau chào bà Quảng, mẹ Hạnh. Bà Quảng mù, nặng tai, người phốp pháp, da dẻ hồng hào. Bà nhận ra Thuần ngay: “À, cậu Thuần, chồng cô Như Quỳnh.” Bà nói nhiều, vui vẻ. Bà bảo, có khách đến thăm mừng lắm, bởi tối ngày nằm co trong cái hang này, quẩn quanh, mệt mỏi. Trò chuyện với bà hơi vất vả, vì bà nghe tiếng được tiếng mất. Hỏi thế này bà trả lời thế kia, bà nói và nói, theo lối suy luận, phỏng đoán.
        “Cô Quỳnh giờ thế nào, làm gì?”
        “Dạ, Quỳnh khỏe. Cô ấy đã nghỉ dạy, nay trông coi sạp trái cây cho bà già cháu.”
        “Vậy là mừng, dạy cũng nhàn, nghề đó hợp với phụ nữ, có đồng ra đồng vào… Con Hạnh nay đã lớn, quá lứa, mà cứ ở vậy, hễ dì nhắc chuyện chồng con là nó gạt phăng.”
        “Dạ, chắc Hạnh chưa gặp người…”
        “Nó chờ gì, chờ ai… năm tháng đâu có dừng lại theo ý ta.”
        “Gần đây Hạnh có quen ai không, dì?”
        “Rồi sẽ thành gái già… tuổi tác chất chồng.”
        “Vợ chồng là chuyện duyên số, dì ạ.”
        “Cháu lựa lời khuyên bảo nó, không thể ở một mình mãi được… chim chóc còn có đôi có bạn.”
        “Dạ.”
        “Dì thế này khác chi cái áo rách… mai đây dì xuôi tay về với ông bà, thì nó sống thế nào.”
        Thuần ra phòng khách, nói chuyện với Hạnh. Một dĩa nem nướng đầy vun chờ hai người. Hạnh đẫy đà, nét mặt đăm chiêu, dáng chậm chạp hơn trước. Và, đương nhiên, già hơn trước. Ăn nem, nên chuyện mở đầu là nem.
        “Anh đã thành dân Cần Thơ rồi. Có lúc nào anh nhớ về Nha Trang?”
        “Nhớ luôn. Đi xa, nhớ nhiều… Em biết không, cách nơi anh ở sáu cây số có một thị trấn nhỏ sản xuất nem nướng nem chua nổi tiếng. Khắp các tỉnh quanh Cần Thơ chẳng nơi nào có món đặc sản này. Nó ngon, giống hệt nem Ninh Hòa mình. Thật tình cờ, kỳ lạ. Gần như chủ nhật nào anh cũng đi ăn nem, nem Cái Răng.”
        “Cái Răng?”
        “Trong đó có nhiều địa danh lạ tai: Lấp Vò, Gò Quao, Tắc Cậu, Giồng Trôm, Trà Nóc, Cái Vồn, Cầu Kè…”
        “Đi xa biết nhiều, thích nhỉ.”
        “Nước ta dài, rất dài… Cái Răng cách Cần Thơ không xa. Nó cũng giống các xã, huyện quanh vùng. Sông nước, kinh rạch, đồng ruộng bao la, vườn cây trái sum suê, dưới sông tắc ráng (xuồng máy) chạy dập dìu như xe máy ở đây… chỉ nem chua nem nướng là khác.
        “Anh vào Nam đã tám năm?”
        “Tám năm… Lạc mất non chín năm rồi… khách cũ của Cây bàng có đến đây ăn không?”
        “Có, nhưng ít lắm, anh ạ.”
        “Có lẽ do xa, trái đường.”
        “Môi trường, khung cảnh hai nơi trái ngược nhau… Em thường tránh, không muốn nhìn lại chỗ quán cũ. Mấy cây bàng… anh Lạc…”
        “Hồi đó vui thực… ê, cô chủ, hai ly đen, hai tô ấm bụng!” Thuần cười.
        “Cây bàng khác ở đây nhiều thứ, nó nhộn hơn, trẻ hơn, bụi hơn… Chắc má em lại nói về chuyện chồng con của em?”
        “Phải.”
        “Cụ hơi nghễnh ngãng, gặp ai cụ cũng nói chuyện ấy.”
        Hai người ăn hết nửa dĩa nem.
        “Chừng nào anh đi?”
        “Khoảng bốn, năm hôm nữa.”
        “Mai mốt anh đưa Như Quỳnh và các cháu đến đây chơi.”
        “Anh quên ngày Lạc mất.”
        “Mùng 4 tháng sáu, âm lịch.”
        “Nhớ rồi, những con số chẵn… Cái chết, thực không hiểu nỗi.”
        “Nó như sợi dây đứt phựt, như mất điện… nó hiển nhiên, nhưng hết sức mù mờ, vô lý… Mỗi khi cúp điện là em nghĩ ngay tới nó, em nói: tắt phụt, cứ như chết!”
        Hạnh vẫn còn nhớ Lạc.
        “Em sắp quên Lạc, anh ạ. Nhiều lúc, suốt mấy tháng dài em không nhớ anh ấy… Em muốn quên. Nhớ cũng chẳng ích gì!… Em nhét album ảnh của Lạc xuống tận đáy tủ!”
        “Không còn ở đây thì dễ quên.”
        “Hai năm nay em không đến nhà Lạc.”
        Người ta nói: biết ơn là đặc tính của loài người. Còn biết nhớ, nhớ lâu có phải cũng là đặc tính? Nhưng Thuần mong cho Hạnh quên cái dĩ vãng buồn. Nhớ như thế quá đủ… Không thể kéo lại tháng ngày đã qua. Người chết không sống lại được, trong khi người sống vẫn phải sống. Sống khó hơn chết, khó hơn rất nhiều, phải không? ./.