3 thg 3, 2013

ĐỌC BÁO 1



          Bộ não cũng như dạ dày, chỉ có thể tiêu hóa được những món ăn phù hợp. Đừng bắt con sư tử ăn cỏ và buộc con voi ăn thịt.
                                                                             Phạm Duy Tốn

        HAY CƯỜI: Có sống ở Thái Lan ít lâu mới hiểu được tại sao đất nước này được gọi là “miền đất của nụ cười”.
        Khi vừa đặt chân đến Thái Lan, tôi được người quen dặn: “Đừng bao giờ to tiếng với người Thái, và cũng đừng thúc giục họ làm nhanh một việc gì đó”. – Với phần đông dân số theo đạo Phật, người Thái tận hưởng một cuộc sống hiền hòa, ung dung tự tại, không vội vã. Người Thái theo đạo Phật và thấm nhuần các tư tưởng chính yếu của tôn giáo này. Họ mang những lời răn dạy tốt đẹp vào cuộc sống thực tế, không theo đạo chỉ vì một sự trấn an tâm lý nhất thời hoặc là đi chùa chỉ vì mong chờ sự phù hộ của đức Phật. Nam giới Thái Lan cứ đến khoảng 20 tuổi là xuất gia đi tu trong thời gian ngắn (có thể là 1 tháng, 3 tháng hay một năm).
        Cách cư xử của các công chức, quan chức Thái rất “lạ”. Họ nhã nhặn, nhiệt tình và không bao giờ có thái độ hạch sách hay hành dân. Bất cứ người dân nào cần sự giúp đỡ, họ đều tận tình, không phân biệt kẻ giàu người nghèo, người Thái hay người nước ngoài. Càng không có chuyện quát tháo, đập bàn hay thể hiện quyền hành với dân. Tất cả đều công bằng và bộc lộ một lối cư xử lịch sự, hiện đại, văn minh. Công chức là vậy, cảnh sát cũng thế. Ở Thái Lan, người dân rất quý cảnh sát, lực lượng mà họ gọi là “cảnh sát nhân dân”.
(Việt Phương, Thanh niên, tết Mậu Tý, 1/2008, trang 26).
        KHÔI HÀI: Thanh tra Sherlock Holmes và bác sĩ Watson đi cắm trại. Họ dựng lều giữa trời đêm đầy sao. Nửa đêm, Sherlock Holmes đánh thức Watson dậy và hỏi: “Này, Watson, hãy nhìn trời sao và nói cho tôi biết cậu nghĩ gì?”. Watson trả lời: “Tôi nhìn thấy hàng triệu vì sao và nghĩ giá như có một vài vì sao giống như trái đất chúng ta, nghĩa là có sự sống trên các vì sao ấy”. Sherlock Holmes bảo: “Watson, cậu là thằng ngố. Cậu không thấy cái lều của bọn mình bị đứa nào cuỗm mất rồi ư?”.
        (Chú thích: Trong một cuộc bầu chọn truyện cười thú vị, có hơn 10.000 truyện được đề cử, truyện này chiếm giải nhất).
(Hà Giao, Thế giới 23/1/2002, tr.27).
        CÁI ÁC: Chưa hết bàng hoàng vì vụ cả một làng đổ ra đánh chết kẻ trộm chó, lại còn ngăn chặn không cho xe cấp cứu vào làm việc (ở Nghệ An), mọi người lại sửng sờ trước vụ kẻ trộm chó, khi bị phát hiện, đã quay lại bắn chết người chủ chó (ở Bắc Ninh). Cái ác điềm nhiên diễn ra ở những vùng quê vốn dĩ thanh bình.
        Sử gia Eric Hobsbawm từng nói: lịch sử nhân loại bắt đầu từ khi người ta áp đặt luật lệ quy định người không được ăn thịt người. Thời nay luật hình sự các nước văn minh cấm người giết người. Hai tôn giáo lớn ở ta là đạo Phật và đạo Thiên Chúa đều dạy con người sống thiện, tránh xa cái ác. Vậy do đâu mà những chuyện như loại xảy ra ở Bắc Ninh, Nghệ An ngày càng mọc ra nhiều. Ta có trách nhiệm gì không khi để cái ác hoành hành ngay bên cạnh mình, trong làng trong quận mình?
(Thanh Hải, Tuổi trẻ CT 11/11/2012, tr.4).
        NGỘ
                    Tôi mời họ đi uống cà phê
               Krisnamurti có vẻ buồn
               Ông tránh nhìn cô tiếp viên hở ngực
               Còn Osho thì cứ nhìn chăm chăm
               vào bộ ngực nảy nở và cười
               Ông khẳng định với tôi:
               Người ta có thể ngộ khi làm tình.
                                                Hồ Ngạc Ngữ
        NGOẠI CẢM: Ông Vũ Đức Thật, 70 tuổi, ở thôn Trung Thịnh (Ứng Hòa, Hà Tây) nhờ nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nguyện tìm hài cốt người mẹ và em trai, hai người chết trong nạn đói năm 1945.
        Chị Nguyện thắp nén nhang, nhìn lên khoảng không trên cao, nói với ông Thật: “Năm đó, mẹ ông rời quê, dắt theo người con út. Khi đến Thanh Trì (Hà Nội), qua ngôi chùa thôn Triều Khúc, xã Tân Triều thì qua đời do mệt và đói. Hiện giờ xương cốt mẹ ông nằm trong khu đất của một người có tên chữ cái đầu là C.”. Chị Nguyện giống như người đang nhìn vào màn hình một chiếc tivi trên không, rồi đọc những gì hiện ra ở đó. Chị lấy giấy bút vẽ sơ đồ nơi có hài cốt mẹ ông Thật, tỉ mỉ, rõ ràng, để ông dễ tìm.
        Công việc diễn ra trôi chảy, chỉ sau hai ngày đã có kết quả. Kỳ lạ thay, ngôi mộ nằm đúng y vị trí trong sơ đồ của nhà ngoại cảm: dưới gốc cây hồng xiêm, cạnh ngõ, chân người chết nằm dưới tường nhà anh Triệu Văn Cường! Không nói cũng biết, ông Thật và gia đình mừng như thế nào – Tiếp đó, ông Thật nhờ chị Nguyện tìm mộ người em. Chị nói: “Không thể tìm thấy hài cốt, vì ông ấy chưa chết”. Ông Thật lặng người. “Em trai ông nay vẫn còn sống. Hồi đó, lúc mẹ ông chết, một người đã bế ông ấy đi theo hướng Cao Bằng, Lạng Sơn”. Nhắm mắt lại, rơi vào trạng thái xuất hồn, chị Nguyện nói, em ông Thật hiện đang sống ở một vùng thuộc thành phố Thái Nguyên. Rồi chị lấy máy, bật băng ghi âm diễn tả, chỉ đường đi, bảo ông Thật cứ theo lời chỉ dẫn trong băng mà tìm, sẽ thấy… Lần tìm này mất nhiều thời gian, vì xa và gặp nhiều trở ngại bất ngờ, trong đó lớn nhất là tên tuổi. Trước kia em ông Thật tên Thà, nay mang tên Khương Văn Thông, (cha mẹ nuôi đặt cho). Thời may, cuối cùng người đi tìm cũng đến đích – Ông Thật được thêm một lần kinh ngạc: những điều chị Nguyện chỉ dẫn đều đúng. Cảnh vật nhà ông Thông ở giống như băng ghi âm mô tả: từ mặt đông bắc trông ra, tay phải là bếp, tay trái là ao, tiến vào một chút là vườn cây, vườn rau. Có hai nếp nhà, và lên nhà phải qua bậc thang. Chưa hết, ông Thật và con cháu còn được một cú khâm phục chị Nguyện, đoạn cuối băng ghi âm chị nói: “Tìm một mà được mười ba”. Ông Thà có cả thảy 13 người con và cháu!
(Phạm Dương, An ninh TG 3/3/2007, tr.4).
        SỢ HÃI: Thể chế “đặc biệt” luôn tìm cách gieo rắc sự sợ hãi. Đến khi người dân biết vượt qua sự sợ hãi thì kẻ chơi trò chơi quyền lực phải đền tội.
        Vợ chồng Nicolae Ceausescu, thời kỳ 1965 – 1989, dựa vào hàng ngũ an ninh, cảnh sát, quân đội, đã khuynh đảo Rumani. Nhưng chỉ sau vài tuần biến động, cả hai bị bắt, bị đưa ra xử trong một phiên tòa chớp nhoáng (chỉ kéo dài 2 tiếng), rồi đem ra hành hình (không trói tay, không bịt mắt)!
(MH, quechoa.info 25/10/2012).
        ĐẸP: Vào những năm cuối thập niên 1950, thái tử Harald (con trai duy nhất của vua Na Uy Olaf) học tại Đại học Oxford ở Anh đã gặp rồi yêu mê mệt một cô sinh viên người Na Uy tên Sonja Haraldsen. Hai người dự tính sẽ tiến tới hôn nhân sau khi tốt nghiệp.
        Vào một ngày tháng 10/1961, vua Olaf nổi giận khi thái tử Harald xin phép cha được cưới Sonja làm vợ. Nhà vua nói với con trai: “Con hãy chọn, ngai vàng hoặc là Sonja, quyết định cuối cùng là ở con”. Harald bị đặt vào tình thế khó xử. Hoàng gia và chính phủ muốn thái tử cưới một công chúa. Sonja là thường dân – Không thể chịu đựng nhiều áp lực, Sonja tự tử hai lần, nhưng may mắn được cứu thoát.
        Tình yêu mãnh liệt của họ làm dân Na Uy, và cả châu Âu, cảm động. Khi dư luận lên tiếng ủng hộ cuộc tình của thái tử Harald thì hoàng gia và chính phủ nhượng bộ. Sau 9 năm chờ đợi, cuối cùng thái tử Harald được phép làm đám cưới với Sonja vào ngày 19/8/1968. Cho đến nay, chuyện tình của vua Harald và hoàng hậu Sonja vẫn được xem là thiên tình sử lãng mạn, tuyệt đẹp.
(Hoàng Phú, theo Point de Vue, 1/2005)
        LƯU LẠC: Pha Long nằm cách TP. Lào Cai hơn 70 km, đó là xã thuộc huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
        Cô giáo Đào Thị Hiền – hiệu trưởng trường THCS Pha Long – kể cho tôi nghe chuyện 32 học sinh của cô bỏ học trong hai năm 2006, 2007. Theo cô, dân ở đây đa số rất nghèo, nhiều gia đình chồng ốm yếu, hoặc chết, vợ thì bỏ đi Trung Quốc (TQ), các em trở thành lao động chính, lúc đập ngô, lúc đi chăn trâu nên không còn mơ tưởng chuyện học.
        Phụ nữ Lào Cai bỏ sang TQ ngày càng nhiều. Địa bàn nóng nhất là huyện Mường Khương (chiếm 43%, với 580 phụ nữ) và khắp thôn làng biên giới ở chín huyện còn lại, kể cả TP. Lào Cai, đều rộ lên vấn nạn này: huyện Bát Xát có 200 người, huyện Bảo Thắng 175 người, nâng tổng số phụ nữ toàn tỉnh bỏ sang TQ là 1.258 người. Đến nay chỉ có 26 phụ nữ trở về, mang theo 26 đứa con lai.
        Đại úy Bùi Văn Chinh ở đồn biên phòng 235 Pha Long cho biết: “Trong nghèo khó, ma túy đã tràn về khắp 12 thôn của xã Pha Long. Bắt đầu là những phụ nữ gùi váy áo thổ cẩm đi bán tận các chợ biên giới Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang. Tan chợ, họ nhận gùi heroin trộn lẫn trong gạo, ngô, len lỏi theo các đường mòn về từng thôn của Pha Long, và biến nơi đây thành điểm tập kết ma túy để tuồn qua TQ. Mấy năm gần đây có hơn 30 đối tượng buôn bán, vận chuyển ma túy qua biên giới đã bị bắt – Chồng ngồi tù hoặc chết trong tù, vợ góa trong cảnh túng bấn đã bằng mọi cách vượt biên đi làm ăn hoặc kiếm chồng”.
        Hơn mười năm nay, con gái ở mười hai thôn của xã biên giới này đã bỏ thôn làng qua bên kia làm đủ nghề kiếm sống. Trẻ nhất là gái 15 tuổi. Có cả phụ nữ quá lứa lỡ thì ở tuổi 50. Sang đó, có cô gái đẹp phải làm đám cưới chung với ba ông chồng. Nhiều ông chồng còn ác độc ở chỗ: cưới một thời gian rồi tìm manh mối bán các cô gái Việt này cho người ở sâu trong nội địa. Đây là lý do khiến tất cả phụ nữ ở Pha Long đã ra đi là đi biệt, ít ai quay về.
(Vũ Toàn, Tuổi trẻ CT 11/11/2007, tr.14 – 15).
        NGỤ NGÔN: “Cái cày với cây gươm” – Trong chỗ triền núi kia, nay thì bình yên, mà xưa thì mắc phải giặc giã phá tán, cái cày cày vỡ ruộng ấy. Bỗng đâu nó làm bày ra một cây gươm lấp chôn tại đó đã lâu đời. Cây gươm thề mắng rằng: “Ủa kìa! Ai dám đụng tôi dường ấy, chẳng cho tôi ở an? Cái cày hèn kia, mầy không biết tao có quyền phạt mầy bức tử mần rứa sao? – Cái cày nói sơ rằng: “Mầy khéo làm kiêu, mầy lấy quyền chi mà nói với tao thế ấy?” – Cây gươm đáp rằng: “Mầy là đồ hèn để cày bừa, cả đời theo những kẻ rẫy ruộng thô tục, thiệt mầy dám cả gan tranh công với tao sao? Tao là bậu bạn với người tráng sĩ đi đánh giặc giã, tao theo kẻ ấy dư hai mươi trận, lại nghe tinh những tiếng thắng trận. Tao ra oai sấm sét, tới gần binh dân khiếp vía vỡ chạy như bầy thú hèn kia. Bây giờ mầy dám…”. Cái cày ứng tiếng rằng: “Thôi, cái việc cao sang mầy lấy làm tự hào đó làm cho tao ghê gớm. Mầy theo các đạo binh Alexandre, Napoléon, hay là César thì có lẽ tao tỉ mầy như chị em, vì mầy là một cái máy hóa tục, tiền hung hậu kiết, dữ ra lành, xấu hóa tốt. Mà nghe lời mầy nói tỏ mổ, thì biết rõ mầy theo tướng dữ Attila, là người phá tán xứ kia thành nọ. Vậy thì mầy là một cái đồ khốn làm tàn hại thiên hạ”.
        Khi nghe lời ấy, họ nói cây gươm mắc cỡ, thẹn thuồng, sụt xuống đất hơn một trăm bước.
        (Nguyễn Đức Dân, Kiến Thức N.N số tết, 1/2003, tr.18 – Đây là chuyện ngụ ngôn, đăng trên Gia Định Báo, 3/2/1883 – Nhâm Ngọ)
        ALZHEIMER: Mike Henley (ở Westbury, bang New York) mắc bệnh Alzheimer lúc anh 36 tuổi, và bác sĩ nói anh sẽ chết sau năm, bảy năm. Nhưng hơn chục năm sau Henley vẫn còn sống. (Hiện giờ, 10/2011, sức khỏe của anh không tốt, anh phải chịu đựng những vết loét nặng ở lưng và hông do nằm một chỗ trong thời gian dài).
        Ở Anh, 800.000 người bị chứng mất trí nhớ, trong đó có hơn 17.000 người trẻ tuổi. Dạng bệnh Alzheimer ở người trẻ trầm trọng hơn và gây đau khổ cho gia đình nhiều hơn so với người già – Leo Dzwid mắc bệnh Alzheimer dạng khởi phát sớm lúc ông 51 tuổi. Ông ngồi xe lăn suốt ngày, chỉ nói chuyện được chút ít và đôi mắt luôn nhắm nghiền. Theo các chuyên gia tâm lý, những đứa trẻ chứng kiến cảnh cha mẹ chống chọi với căn bệnh (mất trí nhớ) này thường sợ hãi, chúng nghĩ: một ngày nào đó mình cũng sẽ là nạn nhân của nó. Tất nhiên, nghĩ thế là sai, nên phải nhờ chuyên gia tâm lý giải thích cho các em hiểu.
        BIẾN MẤT: Ngày 21/8/1915, trong cuộc tấn công lên bán đảo Gallipoli, tiểu đoàn 4 Norfolk (của Anh) gồm 267 người đến tiếp viện cho một đội quân Úc đang tấn công cao điểm 60 ở phía nam vịnh Suyla. Khi đến một lòng sông cạn, binh lính của Norfolk gặp một đám mây kỳ lạ. Đám mây này thật lớn, phủ sát mặt đất. Lúc tất cả binh lính Norfolk bước trọn vào vùng mây phủ, đám mây từ từ dâng lên không, rồi biến khỏi tầm mắt của mọi người. (Nhiều binh sĩ New Zealand đóng gần đó trông thấy cảnh này). Tại vị trí của đoàn quân Norfolk vừa đứng đã trống trơn, không còn một người. Phía quân Thổ Nhĩ Kỳ (là đối thủ của Norfolk) bảo rằng họ không bắt giữ một binh sĩ Anh nào.
(Minh Luân, theo Confidential Archives 20/5/2006)
        CHẾT GIÀU: Lúc 17 giờ 10 ngày 2/1/2009, Adolf Merckle tự tử tại đường ray xe lửa ở thị trấn Blaubeuren, miền Nam nước Đức. Ông là tỉ phú, một nhân vật nổi tiếng.
        Năm 2008, Adolf Merckle được tạp chí Forbes xếp hạng 94 trong số 100 người giàu nhất thế giới với tài sản 9,2 tỉ USD. Theo các nhà nghiên cứu chính trị, vị tỉ phú 74 tuổi này tự sát do không thể đương đầu với sự phá sản.
        Adolf Merckle sống rất giản dị. Mặc dù giàu có nhưng ông vẫn thường đi lại bằng chiếc xe đạp cũ, khi thời tiết xấu mới dùng chiếc xe hơi VW Golf. Ông sống trong căn nhà gỗ bình thường, không có người hầu, vệ sĩ. Mỗi đêm, trên đường từ trụ sở về nhà, Merckle thường ghé vào các quán rượu bình dân để uống vài ly – Trong bức thư tuyệt mệnh để lại cho vợ và 4 con, ông không nói rõ nguyên do tự sát. Bạn bè và gia đình của Merckle cho rằng có thể đó là sự mất kiểm soát hệ thống công ty. Nhưng các chuyên gia nói, ông vẫn còn nhiều sự lựa chọn và có nhiều khả năng để thoát khỏi tình trạng suy thoái – Trước khi tự sát, Merckle đã thương lượng với 40 ngân hàng để vay tiền trả nợ cho công ty cổ phần của mình.
        Trước kia, Adolf Merckle kế thừa một công ty dược của cha để lại vào năm 1967, với 80 nhân viên. Trong các thập niên sau đó, ông phát triển công ty dược này thành một đế chế lớn bao gồm 120 công ty thành viên, sử dụng hơn 100.000 nhân viên, với doanh thu khoảng 33 tỉ USD. Nhưng bỗng nhiên cơn khủng hoảng lớn ập đến, trong tháng 10/2008, công ty cổ phần mẹ của Merckle đã mất 500 triệu USD vì ông suy đoán sai về giá trị của các cổ phiếu. Tiếp đến, ông đứng trước nguy cơ phải bán lại một công ty dược phẩm lớn, với 5.400 nhân viên, nếu muốn vượt qua cơn bão khủng hoảng tài chính – Có phải, sự sỉ nhục vì không giữ nổi các công ty của gia đình đã đẩy tỉ phú Merckle đến cái chết?
(Diên San, N.A số 826, 17/1/2009, tr.27).
        NÓI VỀ BIỂN: Biển đông nước ta có hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa, nơi gần nhất, cách bờ biển Đà Nẵng 315 km. Trường Sa, nơi gần nhất, cách vịnh Cam Ranh 480 km. Cả hai quần đảo đều gồm nhiều đảo nổi, bãi đá, bãi chìm do san hô cấu thành, và chu vi rất rộng. Hoàng Sa rộng 15.000 km2, Trường Sa rộng 170.000 km2. Giá trị của hai quần đảo là vị trí chiến lược của chúng, và tiềm năng lớn về dầu khí.
        Trước đây, Trung Quốc (TQ) đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa năm 1956 và 1974, hiện nay đang tiến xuống vùng Trường Sa. Cuộc tranh chấp hai quần đảo giữa Việt Nam và TQ đã nổ ra từ lâu, nay lại bùng lên nghiêm trọng (từ đầu năm 1988) khi TQ huy động hàng chục tàu chiến các loại đổ vào Trường Sa – Hơn bao giờ hết, chúng ta khẳng định mạnh mẽ rằng: Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu là lãnh thổ Việt Nam.
        Nhưng bất chấp sự thật lịch sử, TQ đã tiến công chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, nay lại cho lực lượng quân sự đổ bộ chiếm các bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Ken Nan, Gạc Ma, Cô Lin ngày 14/3/1988.
        (Nhân Dân 26/3/1988, tr.1 – Khoa học và Đời sống 16/3/1988, tr.3 – Chú thích: chép tin này vì giọng điệu của nó cứng rắn hơn giọng báo chí mấy năm gần đây rất nhiều).
        QUÊ NGƯỜI: Ngày 17/5/2007, dù trời nắng gắt nhưng tại thôn Đông Tác (xã Đại Hợp, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) có tới ba đám cưới. Đây đều là đám cưới giữa cô dâu Việt với chàng rể Đài Loan, Hàn Quốc. Những đám cưới loại này luôn diễn ra chớp nhoáng, bởi nó phụ thuộc vào thời gian lưu trú của các chú rể.
        Hầu hết những gia đình có con gái ở đây đều bị ngã lòng trước mấy tay mai mối. Với các ông bố bà mẹ, mối vẽ ra viễn cảnh cuộc sống giàu sang ở xứ lạ. Còn với các cô gái trẻ, mối dựng lên những chú rể có bằng cấp, có địa vị, con nhà giàu… Mới đầu, mối bảo “tiền nong chỉ là chuyện nhỏ” và “giúp các cháu có được cuộc sống hạnh phúc là chính” nhưng khi con mồi đã sa vào bẫy thì số tiền trọn gói mà mối nói trong mấy ngày đầu (là 15 – 20 triệu đồng) đều tăng thành 30 – 35 triệu.
        Cô gái Mai Thị H (SN 1984) ở Đại Hợp đến UBND xã xin xác nhận tình trạng độc thân của mình để lấy chống Đài Loan (sống ở tỉnh Nam Đầu), cho biết: “Tôi được bà mối địa phương đưa đến gặp anh Hoàng ở TP. Hải Phòng. Đầu tháng 5, anh Hoàng đưa 10 cô gái như tôi tới khách sạn Phương Đông trên đường Lạch Tray để tuyển chọn. Tại đây, tôi và người chồng Đài Loan đã ưng ý nhau!”.
        Danh sách những cô gái của Đại Hợp lấy chồng Hàn, Đài ngày một dài ra, và tiếp tục được niêm yết trước trụ sở UBND xã. Cứ 7 ngày lại có một danh sách mới được thay thế. Và cũng có không biết bao nhiêu ông bố, bà mẹ ở Đại Hợp đêm đêm vắt óc nằm lo trả nợ, lo cho số phận con gái ở quê người.
(PV, ANTG. 29/3/2008, tr.4).
        NÓI NGỌNG: Lúc cải cách ruộng đất, Vương Mãn Đường là phần tử tích cực. Vợ địa chủ Lý Bách Phát đưa mắt ghẹo ông, ông liền dằn ngửa mụ xuống sau đập đá. Vương Mãn Đường nghĩ bụng, việc chơi cứ chơi, việc đấu vẫn cứ đấu. Ông vẫn trị Lý Bách Phát. Thế là con mụ gian giảo ấy lại đến hôn hít ông rồi thừa cơ cắn đứt đầu lưỡi của ông. Từ đó Vương Mãn Đường đâm ra nói ngọng. Chuyện này Vương Mãn Đường không muốn tố giác trong “đấu tranh giai cấp”. Mụ vợ Bách Phát cũng chẳng tiện nói ra, và đương nhiên, Vương Mãn Đường vẫn là phần tử tích cực.
        Đã để mất chút đầu lưỡi, Vương Mãn Đường không muốn nói nhiều, nhưng sự đời là không nói chuyện thì không hay, nên ông thường nhắm mắt giả vờ ngủ gật cho qua. Vương Mãn Đường đã nhắm mắt, ai nói gì ông cũng mặc thây, họ cho là ông đã ngủ. Song có miếng gì ngon, không gọi ông dậy, ông liền mở mắt. Vương Mãn Đường háu ăn, một ngày ba bữa thích ăn mì sợi cho đẫm ớt và nước chan thật đã đời.
        Đầu tiên Vương Mãn Đường làm tổ trưởng, sau làm đội trưởng, rồi làm đại đội trưởng sản xuất. Vương Mãn Đường làm cán bộ đã quá quen, lại thông thạo việc nhà nông, lãnh đạo cấp trên tín nhiệm lắm.
(Truyện của Giả Bình Ao, Vũ Công Hoan dịch, TTCN 3/11/1991)
        CƯỚP BIỂN: Tối 15/11/2008, một con tàu chở hàng của Nhật Bản đã bị bọn hải tặc Somali đánh cướp trên vịnh Aden, 23 thủy thủ bị bắt giữ. Sau đó, bọn cướp biển lại tấn công và cướp một tàu Thổ Nhĩ Kỳ khi nó đang chở 4.500 tấn hóa chất trên đường tới Mumbai, Ấn Độ.
        Ngày 16/11, một tàu tuần tra của hải quân Nga đã ngăn chặn một vụ cướp biển định tấn công tàu chở dầu Rabihk của Arập Xêút. Trước đó, một tàu của hải quân Anh đã ngăn chặn được một vụ tấn công tàu chở dầu của Hà Lan – Được biết, tàu của bọn cướp biển luôn được trang bị tốt với nhiều vũ khí hiện đại, có thiết bị định vị toàn cầu GPS, điện thoại vệ tinh nên khá dễ dàng trong việc tấn công tàu thuyền đi qua hải phận Somali. Bọn cướp ngày càng táo tợn, và chúng sẵn sàng sử dụng bạo lực với những tàu thuyền được trang bị vũ khí – Theo thống kê của Cục Hàng hải quốc tế, từ đầu năm đến nay, trên vùng biển Somali đã xảy ra 83 vụ tấn công và 33 vụ bắt tàu biển, với 220 thủy thủ đang bị bọn cướp giam giữ.
        TAI ƯƠNG: Năm 1999 thế giới bị nhiều thiên tai lớn. Đêm 17/8, tại Thổ Nhĩ Kỳ, một trận động đất 7,4 độ Richter khiến hơn 40.000 người thiệt mạng, hơn 33.000 người bị thương, 250.000 người mất nhà cửa. Ước tính thiệt hại hơn 30 tỉ USD.
        Ngày 7/9, một trận động đất mạnh 7,2 độ Richter xảy ra tại Hy Lạp làm 139 người chết, 28 người mất tích, 66 nhà sụp đổ - Ngày 21/9, động đất ở Đài Loan mạnh 7,3 độ Richter, làm 2.200 người chết, 8.714 người bị thương, hơn 100 ngàn người mất nhà cửa, (gần 6.000 cao ốc sụp đổ), thiệt hại độ chừng 3,2 tỉ USD.
        Ở VN, một trận lụt kinh hoàng xảy ra tại bảy tỉnh miền Trung gây thiệt hại lớn về người: 592 người chết, 31 người mất tích, mất mát vật chất chừng 3.300 tỉ đồng.
        NƯỚC NGOÀI: “Vòng hoa trên biển Trường Sa” là tên bài ghi chép của báo Thanh Niên, viết về lễ tưởng niệm các chiến sĩ hải quân hy sinh tại vủng biển đảo Gạc Ma, ngày 14/3/1988. (Theo báo Nhân Dân ngày 26/3/1988 (trang 1), số người hy sinh là 74). Buổi lễ tổ chức trên tàu HQ 996.
        Bài ghi chép này có trích một đoạn diễn văn của người chủ trì, đại tá Nguyễn Kiểu Kinh: “Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa từ bao đời nay là lãnh thổ của VN. Nhưng đầu năm 1988, với mưu đồ thôn tính Trường Sa, nước ngoài đã ngang nhiên đưa lực lượng quân sự chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc đảo Sinh Tồn của VN”.
        (Chú thích: Chép tin này vì có 2 chữ NƯỚC NGOÀI – quechoa.info 19/3/2011).
        XỈA RĂNG
                    Xin em một sợi lông măng
                    Mai sau già yếu xỉa răng đỡ buồn.
                                                          Mường Mán
        NHỮNG CON SỐ: “Năm 2012 Việt Nam đã đạt kỷ lục mới về sản lượng lúa (43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011) và lượng gạo xuất khẩu (trên 8 triệu tấn), đảm bảo vững chắc an ninh lương thực”. Đây là những con số được thông báo tại hội nghị trực tuyến tổng kết ngành nông nghiệp cuối năm qua.
        Rất nhiều con số và kỷ lục đã được nêu. Nhưng khó mà hình dung được cụ thể gương mặt và cuộc sống của người nông dân qua những con số đó. Chúng cũng không che khuất được hiện thực là đa số nông dân không hưởng được mấy lợi ích từ thành tích này.
        Những con số là cần. Thống kê là cần. Thống kê cho ta bức tranh tổng thể, khái quát về một thực trạng. Nhưng những con số cũng có khi dẫn đến lầm lạc. Những con số sai lạc do thu thập không đúng phương pháp hoặc cố tình nhào nặn nhằm làm đẹp báo cáo, nó che lấp những số phận con người, những con người thật, những số phận thật.
        Hãy nghĩ đến những người con của nông dân, nam và nữ. Nếu sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, nếu cuộc sống nông thôn hứa hẹn một tương lai tươi sáng, hẳn bao nhiêu nam thanh niên đã không bỏ ruộng vườn lên thành phố mưu sinh qua ngày, bao nhiêu cô gái nông thôn đã không liều nhắm mắt đưa chân lấy chồng nước ngoài không vì tình yêu mà để đổi đời về mặt vật chất, có khi chỉ để trả nợ, để đỡ đần cha mẹ, và không ít trường hợp đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
        Với công nhân, chỉ cần đến các khu nhà trọ, chỉ cần nhìn bữa ăn hàng ngày của họ là đủ biết còn lâu họ mới chạm vào được những gì mà các con số đẹp trên báo cáo hứa hẹn. Họ đang bị các nhà máy, các khu công nghiệp vắt cạn sức – Phải nhìn xa hơn những con số để thấy những phận người cụ thể.
(Đoàn Khắc Xuyên, TTCT. 13/1/2013, tr.37)
        HITLER NÓI: Hiện giờ người ta chỉ còn giữ được một băng ghi âm duy nhất thu giọng nói của A. Hitler, trùm phát xít Đức (thời thế chiến 2).
        Cuốn băng được thu âm vào ngày 4/7/1942, khi Hitler tới thăm Phần Lan để chúc mừng sinh nhật lần thứ 75 của tổng thống Phần Lan. Âm vực trầm của giọng nói trong băng nghe không giống giọng thường ngày của Quốc trưởng – Do Hitler cấm không được thu âm bất cứ cuộc nói chuyện riêng tư nào của mình, nên 18 phút ông ta nói trong băng này cho người nghe biết thêm được đôi chút, vài nét nhỏ về con người ông ta.
(PV, Thể thao Văn hóa 19/10/2004, tr.28).
        EVEREST: Edmund. P. Hillary sinh ngày 20/7/1919 tại Auckland, New Zealand. Ông nổi tiếng khắp thế giới vào năm 1953 khi ông và người dẫn đường Tenzing Norgay trở thành những người đầu tiên đặt chân lên đỉnh Everest, ngọn núi cao nhất thế giới.
        Hillary bắt đầu tham gia chinh phục đỉnh Everest năm 1951 khi gia nhập một đoàn khảo sát của Anh. Qua năm 1953 ông lại leo núi, với một đoàn khác, cũng của Anh, do John Hunt chỉ huy. Sau nhiều ngày vất vả, vượt qua nhiều trở ngại, Hillary và Tenzing lên đến đỉnh Everest lúc 11 giờ 30 ngày 29/5/1953. Hai ông đứng trên đỉnh núi 15 phút. Hillary chụp cho Tenzing một pô hình. Tenzing để lại vài thanh sôcôla trên tuyết như một lễ vật, Hillary để lại một cây thánh giá. Sau đó họ trở về an toàn.
        Tin tức về sự thành công của chuyến thám hiểm được loan truyền nhanh chóng khắp nơi. Hillary và Tenzing rất ngạc nhiên trước sự ca ngợi của quốc tế dành cho họ khi hai người về tới Kathmandu – Trong các năm về sau, nhiều đường phố, trường học ở nhiều nước được mang tên E. Hillary. (Ông qua đời vào tháng 1/2008).
        TỪ BỎ NÓ ĐI: Còn rất sớm, đường phố sạch sẽ, hoang vắng. Tôi đang đi về hướng ga xe lửa. Khi so đồng hồ trên tháp với đồng hồ mình, tôi nhận ra đã muộn màng hơn mình tưởng, phải vội lên thôi. Phát hiện ấy làm tôi hoảng kinh, đâm ra ngờ vực con đường. Vả chăng, tôi chưa quen thuộc thành phố này. May thay, có một viên cảnh sát đứng gần đấy, tôi chạy lại hỏi thăm đường. Ông ta mỉm cười, nói: “Anh muốn tôi cho biết đường đi à?”. Tôi đáp: “Vâng, vì tôi không tự tìm ra được”.
        “Từ bỏ nó đi, từ bỏ nó đi”.
        Ông ta nói, rồi quay mình bước nhanh, như ai đó muốn được cười to một mình.
        TRƯỚC CỬA: Một người gác cổng đứng canh trước Luật Pháp. Có một người trong xứ đó muốn vào. Người gác cổng không cho mặc dù gã nọ van xin hết mức và hối lộ đủ điều. Gã van xin cả những con rận trên cổ áo người gác cổng! Gã bỏ hết cả năm tháng, cuộc đời ra để tìm cách được vào. Nhưng không được. Khi gã chết, người gác cổng mới nói, nói vào lỗ tai đã điếc (của kẻ chết): cửa vào này làm ra là dành cho ông đấy, giờ thì tôi đi đóng cửa lại đây.
        (Hai truyện này của Franz Kafka (1883 – 1924) – Nhật Chiêu dịch, Văn số 24, 2/1993, tr.71).
        TAY TRÁI: Vào nửa đầu thế kỷ 20, nhiều người ở Bắc Mỹ và châu Âu không thích hoặc căm ghét những kẻ thuận tay trái. Giờ đây tình hình đã thay đổi, người ta không còn lưu ý đến việc thuận tay nào.
        Trên thế giới, số người thuận tay trái ngày càng tăng. Một nghiên cứu ở Anh cho thấy: tỉ lệ người thuận tay trái đã tăng gấp 4 lần trong 100 năm qua. Độ 13% nam và 11% nữ hiện nay đang thuận tay trái – Thuận tay trái vẫn là một bí ẩn lớn của khoa học. Sau 160 năm nghiên cứu về khuynh hướng chỉ dùng một tay, cộng đồng khoa học thế giới vẫn chưa đưa ra một lời lý giải hợp lý cho câu hỏi: tại sao đa số người thuận tay phải. Tuy nhiên, thiểu số thuận tay trái có thể an tâm, các chuyên gia đều nói: dùng tay trái không có gì sai trái cả.
        BÁO XƯA: Báo chí Nam Bộ lúc đó (1882) dùng tiếng Nam Bộ khiến người miền Bắc hiện nay phải vất vả lắm mới hiểu được ý cổ nhân. Người Nam Bộ nói chung và người Sài Gòn nói riêng làm báo giỏi và đọc báo nhiều, ai ai cũng đọc báo. Phương tiện chuyên chở báo lúc đó là xe ngựa. Mãi đến năm 1922 mới có xe hơi đi từ Sài Gòn tới lục tỉnh. Bởi vậy, lúc mới ra đời, báo chí Nam Bộ chưa vượt ra khỏi Nam Bộ. Hơn nữa, đối tượng độc giả là tầng lớp bình dân. Cho nên báo chí Nam Bộ viết theo tiếng Nam Bộ, dùng ít từ Hán Việt, và theo phong cách khẩu ngữ cho những người bình dân Nam Bộ dễ đọc, dễ hiểu.
        Một chi tiết khác về từ ngữ thời đó là khi tiếp xúc với văn minh châu Âu, nhiều từ ngữ được vay mượn và nhập vào tiếng Việt. Khi chưa tìm được từ Việt tương ứng, người ta để nguyên dạng. Chẳng hạn, đó là các bài “Nói về savon” (Gia Định Báo, 25/2/1882) – “Ông vua nước Perse với các quan” (GĐB, 3/2/1882) – “Con khỉ ăn trái noix” (GĐB, 7/4/1882) – Địa bàng, cây chêne với cây sậy” (GĐB, 8/7/1882). Sau này một số từ được phiên âm, như savon thành xà bông, chêne thành cây sồi, một số từ lại được dùng theo từ Hán Việt, như nước Ba Tư, nước Ả Rập, quả hồ đào (noix).
(Nguyễn Đức Dân, Kiến Thức NN 6/2003, tr.16).
        BUỒN: Từ đầu năm đến giờ, tôi có nhiều ông bạn biến mất vì vỡ nợ. Giới chứng khoán đã tiêu tùng từ hai năm trước. Giới bất động sản lao đao từ đầu năm ngoái (2011), để đến cuối năm nay thì hầu như sụp đổ. Những đại gia còn ngắc ngoải đa số là đại gia khủng, nằm trong các nhóm lợi ích, có quyền lợi liên thông với các quan chức lớn và giới ngân hàng. Nghe nói, có chừng hơn 100 ngàn tỉ đồng sẽ được chính phủ đổ ra để giải cứu (bất động sản), chắc là giải cứu cho đám nhà giàu này?
        Tôi biết có một số đại gia nhà đất sụp đổ từ hai năm trước, hầu hết dự án của họ đã dừng lại, giao luôn cho ngân hàng (bị xiết nợ), rồi ung dung đi ăn chơi. Các đại gia ấy cứ đến thứ sáu là rậm rực bay đi Singapore, Mã Lai, Ma Cao, Las Vegas đánh bạc. Đang nợ ngân hàng ngập đầu, lấy tiền đâu đi ăn chơi? Thật lạ. Nhưng sau này thì tôi hiểu ra: họ có cách làm ăn rất siêu, cực quái, trên đời chẳng ở đâu có!
        Cả nước có hàng ngàn dự án địa ốc. Nhiều địa phương giải tỏa trắng cả xã để cấp đất cho các đại gia trời ơi kiểu đó… Tôi nhớ hình ảnh hàng vạn dân oan mất đất lê la đi khiếu kiện ngày này qua tháng nọ trên khắp nước. Có người bị bắt tù, có người cởi truồng để giữ đất. Sao dân tôi gặp hết kiếp nạn này đến kiếp nạn khác như thế?
(H.N. Chênh, quechoa.vn  23/12/2012)
        THANH CAO: Chùa Shwe Dagon nổi tiếng ở Yangon. Ngôi chùa với ngọn tháp vàng rực là biểu tượng của Yangon và đất nước Myanmar kỳ bí. Đến thăm chùa, tôi có dịp tìm hiểu về một thế giới huyền diệu, thế giới của vàng.
        Vừa bước chân lên bậc tam cấp chùa Shwe Dagon, tôi được người ta mời mua những tờ giấy vàng óng. Ban đầu, tôi tưởng vàng mả, nhưng hỏi kỹ mới biết đó là những lá vàng mỏng, vàng nguyên chất. Người ta bán lá vàng cho khách hành hương, khách đem nó trát lên tượng hoặc lên tháp chùa. Đó là nét văn hóa của người dân Myanmar – Khi đứng trước ngọn tháp chính của chùa, cao 98 mét, tôi không thể nghĩ được có bao nhiêu vàng ở đó, chỉ biết chắc là rất nhiều.
        Trên đỉnh ngọn tháp có chiếc miện được khảm 5.448 viên kim cương (tổng cộng hơn 2.000 carat) và 2.317 viên hồng ngọc. Và trên đỉnh miện là một viên kim cương 76 carat. Lâu nay, tôi cứ nghĩ rằng vàng bạc châu báu là một thế giới xa hoa. Nhưng ở đây, sự xa hoa không hề tồn tại, dù trước mặt tôi là một núi vàng. Ở đây, những tháp vàng rực rỡ, những viên kim cương lóng lánh mang một vẻ thiêng liêng nhưng gần gũi, thanh cao vô cùng.
(Đỗ Hùng, TN 10/3/2008, tr.25).
        HOÀNG CUNG: Điện Buckingham là hoàng cung lâu đời của nước Anh, tọa lạc cạnh công viên Saint James, khu Westminster, bên bờ sông Thames. Tòa nhà này vốn là dinh thự riêng của công tước Buckingham, xây dựng năm 1703. Năm 1837, nữ hoàng Victoria trở thành vua Anh đầu tiên sinh sống tại đây. Nữ hoàng Elizabeth II làm chủ cung điện này từ 1952.
        Điện Buckingham có 361 phòng, trong đó có phòng chiếu phim, chuồng chó cảnh, 78 phòng tắm phòng vệ sinh. Bên ngoài cung điện là công viên hoàng gia, rộng 18 hecta. Du khách có thể tới xem nghi thức đổi gác của vệ binh phía trước cổng hoàng cung, vào xem tranh ở bảo tàng mỹ thuật của nữ hoàng – Số nhân viên bảo vệ an ninh cho điện Buckingham hiện nay là hơn 1.000 người. Họ thuộc lực lượng vệ binh hoàng gia, được đào tạo kỹ lưỡng. Thường ngày trông họ hiền khô, nhưng khi có báo động họ phản ứng cực kỳ mau lẹ và dũng mãnh.
        Ngoài lực lượng vệ binh, nhân viên an ninh chìm nổi, Buckingham còn có hơn 300 nhân viên dân sự. Họ phần đông là nữ, làm đủ mọi việc từ phục vụ ăn ở cho các thành viên hoàng gia tới làm vườn, dọn dẹp, quét tước trong công viên hoàng cung.
(Hữu Cường, theo The Times, 25/11/2006)
        ZIDANE: Mới đây, trong cuộc bình chọn cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong 50 năm qua của người hâm mộ, Zidane dẫn đầu, đứng trên hai tài danh Beckenbauer, Johan Cruyff.
        Zidane, 31 tuổi, đã ba lần đoạt được danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Cũng như Beckenbauer, anh đã có trong tay chức vô địch World Cup và Euro – Như các cuộc bình chọn khác, kết quả lần này cũng gây nhiều tranh cãi. Thật ngạc nhiên khi danh sách này không có 2 danh thủ Anh: Gordon Banks, Tom Finney cùng 2 cầu thủ Hunggary tài giỏi: Sandor Kocsis, Jozep Bozsik.
        Top 10 của cuộc bầu chọn này: Zinedine Zidane (Pháp), F. Beckenbauer (Đức), J. Cruyff (Hà Lan), M.V. Basten (Hà Lan), Dino Zoff (Ý), A. Di Stefano (Tây Ban Nha), Eusebio (Bồ Đào Nha), Lev Yashin (Nga), M. Platini (Pháp), Paolo Maldini (Ý).
                   (Hoàng Tuấn, TTVH 27/4/2004, tr.27)
        BẤT AN: Tình trạng văn hóa hỗn tạp như “văn hóa bãi bia” đang thống trị đời sống văn hóa nước ta. Ở đó, cái tốt đang ẩn mình sau những tiếng thở dài và lời ta thán. Ở đó, cái xấu đang lộ diện với những gì kinh hoàng nhất. Ở đó, nhiều người lương thiện đang phải thu mình, tự thấy mình bất lực – Một cuộc sống bất an, đó là sự thật. Có quá nhiều thành viên trong xã hội ta, trong cuộc mưu sinh, trong sinh hoạt hàng ngày, ít nhiều đều cảm thấy bất an. Khi mà đa số người tốt không dám bộc lộ mình trong sinh tồn xã hội – khi mà cái xấu, cái ác, cái tiêu cực vẫn nhởn nhơ, không sợ bị trừng trị –  khi mà trong quan hệ xã hội, chỉ từ một cái nhìn hay một lời nói không vừa ý là người ta có thể rút dao – khi mà vào bệnh viện là lại phải làm quen với lời mắng mỏ, ánh mắt hằm hằm, tiếng quát tháo của các “từ mẫu” – khi mà hàng tháng phải cố làm thế nào để kiếm tiền học thêm cho con cái, để nộp đủ mọi loại phí do thầy cô nghĩ ra – khi mà chân lý luôn nằm sẵn trong túi một số người.
(Nguyễn Hòa, An ninh TG giữa tháng, 10/2011, tr.12)
        NHÂN DÂN CHẾT: Ngày 20/6/2009, lúc 7 giờ 5 phút, trên đường Khoravi ở Tehran (Iran), Neda Agha Soltan bị nhân viên an ninh bắn vào ngực khi đang đứng xem đám đông biểu tình phản đối kết quả bầu cử ở Tehran. Những đoạn phim ghi hình cái chết của Neda nhanh chóng được tung lên Internet.
        Có hai đoạn video cho thấy giây phút cuối cùng của Neda. Đoạn phim thứ nhất quay cảnh cô gái trẻ ngã xuống đất nhưng vẫn còn sống. Đoạn phim thứ hai quay cảnh Neda đã mất ý thức và máu chảy thành vũng. Lúc đó bác sĩ Hejazi, đứng cách Neda 1 mét, chạy vội tới, cố gắng dùng tay bịt vết thương, nhưng viên đạn nổ trong lồng ngực nên chỉ hai phút sau cô gái chết.
        Neda Agha Soltan là con gái duy nhất của một gia đình trung lưu có 3 người con. Neda tốt nghiệp khoa thần học và triết học tại đại học Azad, cô đam mê âm nhạc và thích du lịch. Neda học tiếng Thổ Nhĩ Kỳ với mong muốn trở thành hướng dẫn viên cho người Iran du lịch sang Thổ – Những người quen biết Neda cho biết cô không tham gia chính trị và không ủng hộ bất cứ ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử tổng thống Iran năm 2009 – Điều phức tạp, khó hiểu: quanh cái chết này có nhiều nghi vấn. Có người nói cô gái bị bắn vào đầu, không phải vào ngực. Người khác nói, lực lượng dân quân (phe biểu tình) bắn Neda để lôi kéo dân chúng chống chính quyền, không phải cảnh sát bắn.
(Diên San, A.N số 883, 15/8/2009, tr.27).
        CHIỀU
                     Em ơi nắng bỏ đường dài
                Chiều hôm hiu quạnh ta ngồi ngồi ta
                     Dòng sông suối hở mặn mà
                Tấm thân trinh bạch em là là ai.
                                                Trịnh Công Sơn
        TẬT XẤU: Tôi xem trong xứ ta tính người đổi nhiều lắm, tục tốt ít ưa, tục quấy hay thích. Tục tốt là thương yêu nhau, thấy ai mạnh thì vui, thấy ai khổ thì thương. Còn quấy là ganh hiền ghét nhỏ, thấy ai giỏi hơn, giàu sang hơn thì không ưa, thấy ai dở hơn nghèo hơn, hèn hơn mình thì khinh bạc, chê bai. Coi ra cho kỹ thì ai lo phận nấy, ai chẳng cần ai, sang với nghèo đãi nhau không hậu tình. Tệ nạn mỗi ngày mỗi thêm làm sao cho khỏi bị dân các nước khác khinh khi. Cũng bởi vì mình ở với nhau còn không phải không tốt, nói gì với nước khác. (Lương Dũ Thúc, năm 1901).
        Nước mất là do rất nhiều điều tệ, tội nhiều không kể hết, nhưng trong đó có bốn cái tội lớn. Một là ngoại giao hẹp hòi, hai là nội trị hủ bại, ba là dân trí bế tắc, bốn là vua tôi trên dưới tự tư tự lợi.
        Vua tôi tự tư tự lợi nên không biết có dân có nước. Ngoại giao nội trị dân trí sở dĩ đồi bại như vậy, cũng là do trên dưới đều tự tư tự lợi mà ra cả. Cuối cùng nước bị mất, vua bị tù, thần dân trở lên bơ vơ đê tiện. (Phan Bội Châu, năm 1908).
(Vương Trí Nhàn, TTVH 21/10/2006, tr.35).
        BỐC HƠI: Vào ngày 5/12/1945, năm máy bay “Người phục thù” và một chiếc “Thủy thủ Martin” của hải quân Mỹ đã mất tích tại vùng tam giác Becmuda.
        Hôm đó, 5 chiếc “Người phục thù” rời căn cứ hải quân Louderdanbe bay qua quần đảo Bahama để thực hiện một nhiệm vụ huấn luyện. Năm phi công và 9 nhân viên tổ máy do đại úy Taylor chỉ huy – Sau khi bay được 90 phút, la bàn trên máy bay đột nhiên nhảy lung tung. Taylor cho rằng máy bay của mình đã ra khỏi khu vực huấn luyện, bay về phía nam vùng Kase của Florida. Ông ra lệnh: tất cả lập tức bay về hướng bắc, để vào đất liền. Nhưng hình như đội bay đã bay ra đại dương, ngày càng xa đất liền. Từ đó năm chiếc máy bay mất tích. Mấy giờ sau, một máy bay cứu viện mang tên “Thủy thủ Martin” với tổ bay 13 người cũng mất tích tại vùng biển (Becmuda) này.
        Về sau, khi tìm hiểu, điều tra về vụ này, người ta cho rằng đám mây điện từ trong khí quyển có thể làm cho la bàn và các đồng hồ trên máy bay quay loạn xị, khiến cho các phi công mất phương hướng – Rút cục, các máy bay mất tích có bay về hướng đông không? Họ có bị rơi xuống, và rơi ở đâu, cho đến nay (11/2005) vẫn còn là điều bí ẩn – Ngày 17/11/2005, 27 sĩ quan mất tích tại Becmuda (sau 60 năm) đã được truy tặng huân chương.
(Chử Đức Cường, theo china.com, 14/12/2005).
        BẤT HẠNH: Cuộc chiến Iran – Iraq trước kia (đầu thập niên 1980) đã để lại cho Iraq một con số góa phụ chưa kịp thống kê hết, thì cuộc chiến vùng vịnh năm 1991 đã lại cướp đi tính mạng của vô số binh lính người Iraq.
        Năm 2003 lại có thêm cuộc chiến mới, biến Iraq trở thành đất nước có số lượng phụ nữ góa chồng lớn nhất thế giới. Theo những thống kê mới đây, Iraq hiện có gần 1 triệu góa phụ trên tổng số 8,5 triệu phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 70. Nhưng con số này vẫn chưa dừng lại, bởi những vụ đánh bom tự sát, những vụ bắt cóc vẫn còn diễn ra thường xuyên trên đất nước này. Hầu hết phụ nữ góa chồng người Iraq là phụ nữ trẻ.
        Theo thông báo của tổ chức Viện trợ quốc tế, 43% người dân Iraq đang sống trong cảnh nghèo đói, không tài sản. Bốn triệu người cần hỗ trợ về lương thực, và trong số ba trẻ em (dưới 5 tuổi) thì chỉ có một trẻ được dùng nước sạch. Con số trẻ em được đến trường càng ít ỏi hơn.
(Minh Ngọc, theo ABC 26/3/2008).
        KHÂM PHỤC: Một lần đi chơi núi, Khổng Tử bảo học trò là Tử Lộ xuống suối tìm nước uống. Tử Lộ gặp con cọp, liền đánh nhau với cọp, rứt được một nắm lông đuôi, giấu vào trong áo, xách nước về. Bèn hỏi Khổng Tử: “Thưa thầy, kẻ thượng sĩ giết cọp như thế nào?”. Khổng Tử đáp: “Kẻ thượng sĩ nắm lấy đầu cọp mà giết”. Lại hỏi: “Kẻ trung sĩ giết cọp như thế nào?”. – “Kẻ trung sĩ nắm lấy tai cọp mà giết”. Lại hỏi: “Kẻ hạ sĩ giết cọp như thế nào?”. – “Kẻ hạ sĩ nắm lấy đuôi cọp mà giết”.
        Tử Lộ lặng lẽ vứt nắm lông đuôi đi, giận mà nghĩ rằng: thầy biết dưới suối có cọp mà bảo mình xuống đó lấy nước là muốn giết mình. Bèn nhặt một hòn đá giấu trong áo, định ném thầy.
        Sau đó, Tử Lộ hỏi: “Kẻ thượng sĩ giết người như thế nào?”. Đáp: “Kẻ thượng sĩ giết người bằng ngòi bút”. Lại hỏi: “Kẻ trung sĩ giết người như thế nào?”. – “Kẻ trung sĩ giết người bằng cái lưỡi”. Lại hỏi: “Kẻ hạ sĩ giết người như thế nào?”. – “Kẻ hạ sĩ giết người bằng cách ném đá giấu tay”.
        Tử Lộ lặng lẽ vứt cục đá đi, từ đó hết lòng khâm phục thầy. (Lỗ Tấn, “Tiểu thuyết sử lược”).
(Lương Duy Thứ, KTNN 1/1995, tr 30 – 31).
        THUA ĐẸP: Trong những trận đấu vừa qua, bọn anh thua đẹp vô cùng. Chưa khi nào, chưa ở đâu, các bàn thua lại đến nhanh, mạnh và đều đến thế. Để có những pha thủng lưới hoàn hảo như vậy, đòi hỏi sự phối hợp ăn ý của cả ba tuyến: tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ cùng sự góp sức không nhỏ của thủ môn.
        Bất chấp sức ép phải thắng của hàng vạn khán giả, bất chấp sự công tâm cố ý của trọng tài, toàn đội của anh đã quyết tâm cao độ, phối hợp nhịp nhàng, gắn bó, không ngại va chạm, phân phối sức lực trên sân hợp lý, linh hoạt trong chiến thuật, trung thành với đấu pháp để dẫn tới những bàn thua.
        Công lao này là của tập thể chứ không phải của một cá nhân nào. Từ vẻ mặt buồn rầu của huấn luyện viên trưởng, từ vẻ thẫn thờ của ông trưởng đoàn cho tới từng bước chạy khoan thai của các cầu thủ trên sân đều làm cho các trận thua trở nên trọn vẹn, đáng nhớ một cách sâu sắc.
(Lê Hoàng, TN. 16/12/2012, tr.22) ./.

2 thg 3, 2013

GÒN


        GÒN: Sài Gòn, Sài là củi cây rừng, Gòn là giống cây gòn. Thời xưa cây gòn mọc thành rừng ở vùng Phú Lâm, Chợ Lớn.
        Đi dọc theo quốc lộ 1 từ đèo Cả (Khánh Hòa) trở vào ta hay gặp cây gòn, loài thực vật thân gỗ thuộc họ gạo, được trồng nhiều ở các vùng đất thấp, khí hậu ấm áp – Cây gòn có thể cao tới 40 mét, nó có sức sống mạnh mẽ, thường được trồng dễ dàng bằng hạt hoặc bằng cành hom. Gòn bắt đầu ra trái khi được 3 năm (mỗi cây ra cỡ 100 trái), tới 8 tuổi có thể ra đến 400 trái, đời sống của nó dài chừng trên dưới 60 năm – Thân gòn thường được dùng làm nọc tiêu (cho dây tiêu leo), lá gòn làm bột để sản xuất nhang và thức ăn cho tôm. Từ xưa, cây gòn là cây thân quen của dân quê. Người ta thường hái trái gòn chín, phơi khô, để dành làm gối hoặc bán ./.

KHEN


        Sài Gòn là miền đất lạ kỳ. Nó kỳ lạ đến mức nhiều người chẳng biết viết gì nói gì về nó cho thỏa đáng. Nó khiến cho người ta nhớ nó khi đang ở trong lòng nó, và người ta thương nó bằng một thứ tình cảm mơ hồ nhưng mãnh liệt, như một kiểu tình nghĩa khác, tương tự tình quê hương.
        Tôi đến Sài Gòn lần đầu tiên năm 1991, trên một chiếc xe cấp cứu. Không phải xe chở tôi, nó chở một người bệnh viêm màng não từ Quảng Ngãi vào Chợ Rẫy, tôi xin quá giang. Tôi nhớ, khi anh tài xế lần đầu tới Sài Gòn đã đi nhầm đường một chiều và bị hàng loạt xe gắn máy suýt đụng phải. Tôi nhớ mình đã tháo cái nhẫn hai chỉ vàng trên tay để nhét vô giày vì nghe nói cướp ở Sài Gòn sẵn sàng chặt tay ai đó chỉ để cướp một chỉ vàng.
        Ngày đó, điều nhận thấy đầu tiên của tôi là Sài Gòn quá lớn và quá đông. Tới bây giờ, tôi vẫn thấy Sài Gòn quá lớn và quá đông người – Sài Gòn lớn, từ ruộng đồng Hóc Môn ra đến biển Cần Giờ, từ vườn cây Thủ Đức mút đến miệt Bình Chánh xa xôi. Sài Gòn đông: ngoài đường, trong chợ, trong hàng quán đều ngùn ngụt người. Từ khu Chợ Lớn đầy người Hoa đến khu Dân Sinh muốn kiếm cái gì cũng có. Từ những đường phố tấp nập người xe đến những ngôi chợ bán buôn thâu đêm suốt sáng. Đâu đâu cũng đầy người, càng ngày càng đông. Người ta bảo rằng, hơn phân nửa số người bạn gặp ở Sài Gòn không phải là người Sài Gòn chính gốc, như tôi chẳng hạn.
        Ở Sài Gòn có một thứ không khí quánh đặc bởi bụi, khói, bởi mùi xăng dầu, mùi đồ ăn, bởi tiếng xe, tiếng người, bởi muôn ngàn thanh âm mà một khi đã quen nghe, hít thở nó, bạn sẽ không bao giờ quên được. Ở Sài Gòn thỉnh thoảng có người chạy theo bạn ngoài đường chỉ để nhắc bạn nhớ gạc chân chống xe hoặc coi chừng rớt cái ví lòi ở túi quần sau ./.

NGÔI NHÀ TRÊN ĐƯỜNG HỒNG BÀN


        Tôi gặp nhà văn Võ Hồng lần đầu vào năm 1964. Một chiều hè năm đó, tôi đến nhà ông, trên đường Hồng Bàng, Nha Trang. Để thực hiện cuộc gặp này, tôi đã cố gắng chế ngự cố tật nhút nhát của mình. Tôi cứ nghĩ: “Mình biết gì mà đòi chuyện trò với người lớn? Bàn về văn học, về kinh tế chính trị, hay về ái tình? Mệt à!”.
        Thầy Võ Hồng vui tính, nói chuyện hoạt bát, cởi mở. Thầy đưa tôi xem mấy tờ báo Sài Gòn mới đăng truyện của thầy. “Sách báo đấy, muốn đọc gì em cứ tự nhiên”. Một nhà đầy sách, báo. Căn phòng rộng không có bàn tủ đắt tiền. Vài bức tranh cũ trên tường. Mấy cuốn lịch. Báo la liệt trên sàn, trên bàn, dưới đi văng. Giá sách thật lớn, choán kín một bức tường. Có nhiều sách tiếng Pháp. Thầy yêu thích văn chương Pháp. Thầy nói, đó là một phần tư trí tuệ thế giới. Thầy nói qua về hai tập truyện đã xuất bản: “Hoài cố nhân”, “Lá vẫn xanh”, và cho biết cuốn thứ ba đã viết xong, sắp in. Thầy bảo, đang cố gắng tập cho mình quen với việc viết đều đặn, theo thời khóa biểu, không ngồi chờ cảm hứng. “Cái gì cũng có thể quen cả, tôi nghĩ rằng tôi sẽ theo được cách viết ấy… nhờ đó ta có thể viết nhiều, thắng được thói chần chừ, lười, chậm”. Thầy hỏi tôi thường đọc sách gì, thích những tác giả nào. Tôi nói, tôi thích Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, và nhận xét văn thầy vừa giống Nguyễn Công Hoan vừa giống Thạch Lam. Thầy cười: “Mình cũng yêu hai vị, nhưng mình phấn đấu để không giống ai cả”. Thầy bảo, khi có bài mới, nếu muốn thì tôi đem đến đây, thầy đọc và góp ý cho. Bây giờ, điều cần thiết là học và đọc. “Em nên chịu khó đọc, đó là một cách học. Sách vở sẽ chỉ dạy chúng ta tận tâm… Ráng lên, rồi em sẽ thấy viết được là một hạnh phúc lớn. Trên đời không gì sướng bằng viết xong một bài báo, một truyện ngắn, một bài thơ”.
*
        Giữa năm 1969 tạp chí Văn in cho tôi tập truyện ngắn đầu tay “Một cách buồn phiền”. Từ Sài Gòn tôi gửi cuốn sách còn tươi màu mực về Nha Trang tặng nhà văn Võ Hồng. Ít lâu sau đó tôi đã đọc thấy bài điểm sách của ông trên một tạp chí, viết về tập truyện của tôi. Có thể nói đây là một bài giới thiệu hơn là phê bình. Toàn những lời khen tặng. Những nhận xét ưu ái của người thầy, ông chú dành cho một trò nhỏ, một đứa cháu mới vào nghề. Lúc này Võ Hồng đã nổi tiếng, đã xuất bản ba tiểu thuyết, bảy tập truyện ngắn. Trong số đó cuốn “Hoa bươm bướm” được bạn đọc chào đón nồng nhiệt. Sách ông phần nhiều do hai nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm in. Những cuốn sách sang trọng, in đẹp, trình bày trang nhã, nhìn qua đã muốn mua. Tôi thích nhiều truyện trong hai tập “Con suối mùa xuân” và “Những giọt đắng”. Võ Hồng viết thận trọng, dung dị, trong sáng; chăm chút đến từng cái tên người, tên đất. Văn ông súc tích, có nhiều nhận định, phát hiện thú vị, hóm hỉnh, bất ngờ về con người, về đời sống. Đặc biệt, ông viết thật hay về tầng lớp trung lưu thành thị và nông dân. Ông khắc họa thành công nhiều nét mặt của những nhân vật vốn nằm trong số đông thầm lặng, những người sống giữa đời thường mà thoạt nhìn chúng ta cứ ngỡ chẳng có gì đáng để nói đến. Đọc truyện, ta thấy họ như hiển hiện trước mặt, đi đứng nói cười sinh động, mỗi người một vẻ… Ông viết về miền quê, đồng ruộng, dân cày với tình cảm trìu mến, bằng giọng văn tươi tắn, thấm đẫm ý tình hoài niệm.
        Vào khoảng thời gian này hễ có dịp đi ngang Nha Trang là tôi ghé lại Hồng Bàng thăm nhà văn. Tôi thích đến đây chủ yếu vì tính ông dễ chịu. Khỏi giữ kẽ phiền phức. Không khách sáo mệt mề. Ông chỉ chiếc võng và cái ghế xếp, bảo tôi lấy báo tới đó nằm đọc, vừa đọc vừa trò chuyện, chừng nào chán thì về. Thỉnh thoảng ông còn mời cơm, đãi cà phê. Ông kể tôi nghe nhiều giai thoại văn chương lạ và vui. Ông phân tích, phê bình những cuốn truyện hay mới ra lò. Ông có nhiều nhận xét hài hước, ý nhị về các nhà văn, các ông lớn đang lên chân hoặc đang múa may, làm trò, to tiếng ở Sài Gòn… Nếu cần chỉ bảo, ông nói khéo léo, không dùng giọng của thầy giáo lên lớp: “Về việc này chúng ta nên… Ở điểm này mình nghĩ rằng chúng ta cần…”. Và tôi nhớ điều ông lặp lại nhiều lần: “Có câu hỏi khó mà người cầm bút phải tìm cách trả lời: viết sao để sau này, vài trăm năm nữa, người ta vẫn tìm đọc mình”.
        Hơn mười lần tôi đến thăm ông, lúc nào cũng có ông ở nhà. Không ngồi tại bàn viết thì nằm võng đọc sách. Đọc hoặc viết, dường như ông chẳng làm gì khác. Nhà lúc nào cũng yên tĩnh, vắng lặng. Những người bà con của ông ở phòng bên cạnh đi lại nhẹ nhàng, lặng lẽ. Họ nói khẽ, không cười đùa. Những bữa cơm của nhà văn có vẻ đặc biệt, nó gọn nhẹ quá mức. Một mâm nhỏ. Ông ngồi một mình bên mâm cơm trơ trọi. Đã lâu, quá lâu rồi, ông không có bữa cơm gia đình.
        “Không nhiều thì ít, em nên viết thường xuyên, nếu nghỉ lâu ngòi bút sẽ yếu, ngượng, han rỉ”. Những lời động viên, chỉ dạy của ông tôi vẫn nhớ, nhưng chẳng thực hiện được mấy. Phần vì sống xa thành phố, phần do kém ý chí, do việc mưu sinh nhọc nhằn, cây cuốc đè nặng trên vai nên tôi chỉ sản xuất cầm chừng; lâu lâu được cái truyện ngắn, lắm khi cả năm bói không ra một chữ… Những năm gần đây, mỗi khi ghé lại Hồng Bàng, để tránh trả lời câu hỏi của nhà văn: “Có viết gì không anh bạn”, tôi chủ động hỏi trước: “Thầy có viết được bài nào mới không?”. Và chúng tôi lại xáp vào nói chuyện văn chương, sách báo như đã từng nói mấy mươi năm qua… Ngày tháng trôi đi thản nhiên, nhịp nhàng. Tuổi tác vô tình phủ chụp bụi tro tàn úa xuống đầu con người, không chừa một ai. Nay tôi cũng đã bước vào tuổi xế chiều, huống chi ông. Cho nên bây giờ nhìn thấy ông còn khỏe mạnh đã là điều đáng mừng.
        Thầy Võ Hồng bị nhũn não, nhiều năm qua nằm một chỗ. Bài này tôi viết trong dịp mừng ông thượng thọ 80 ./.

8 thg 11, 2012

VỀ VỚI MẸ



      Trong gian phòng chật hẹp có bốn bàn thờ, ba trang thờ. Thầy Mười Chắc đốt nhang đem cắm lên tất cả các nơi đó, rồi rót rượu khắp lượt, mỗi chỗ một ly nhỏ. Thầy đứng giữa nhà, chắp tay, nhắm mắt, khấn vái ê a như hát dân ca. Làm xong các nghi thức ấy, thầy Mười đến ngồi đối diện Hiền và Linh, rót trà uống liền ba ly, không mời khách. Nhìn dáng điệu, cung cách hành lễ của thầy Mười, Linh thấy ngồ ngộ, buồn cười, nhưng Hiền theo dõi rất chăm chú, thành kính… Mở đầu, thầy hỏi tuổi của vợ chồng Hiền và thằng Khanh – con chị – hỏi kỹ về Khanh, nó thường giao du với ai, trước khi đi có bộc lộ hành động gì lạ không. Hiền trả lời rành mạch. Thầy Mười mở quyển sách chữ Hán, lật giở tìm tòi một lúc lâu. Cuốn sách cũ mèm, đen xỉn, nhiều trang rách.
      Thầy Mười Chắc là người biết chữ Hán duy nhất còn sống trong xã. Trước đây thầy chuyên coi chọn ngày tốt cho việc xuất hành, cưới gả, ma chay, xây cất. Dân trong vùng và các xã lân cận ít nhiều ai cũng tới gặp thầy vài lần, bởi không ai tránh khỏi các chuyện hệ trọng và cần thiết đó. Hai năm gần đây thầy Mười nhảy sang lãnh vực chữa bệnh, bói toán, trừ tà, bằng cây lá và bùa chú. Chẳng ai biết thầy học pháp thuật và cách trị bệnh ở đâu, nhưng khách đến am đều đặn, và danh thầy Mười Phước Tường cũng bay đi khá xa. Chức sắc địa phương không can thiệp vào vụ này, do thầy chỉ chữa các bệnh nhỏ, và không đòi tiền công. Con bệnh trả thù lao tuỳ tâm, bằng gà vịt, bánh trái, nếu muốn gọn chỉ cần đặt lễ vài ba chục ngàn, rất khỏe và tiện lợi.
      Theo lời người quen chỉ vẽ, Hiền mang đến đây một giỏ bánh ngon, một bó nhang thơm. Chị không rành trong việc này. Xưa giờ chị chưa hề đi coi bói, càng không để ý đến chuyện am miếu. Chị xếp các thứ này vào loại dị đoan, lạc hậu, mê muội. Nhưng cách đây tám hôm, con chị – thằng Khanh – đứa con trai độc nhất, bỏ nhà đi hoang, quan điểm chị đổi khác… Đột ngột, nó từ bỏ cha mẹ anh em, nhà cửa, sách vở. Tại sao nó đi, đi với ai? Phát – chồng Hiền – chạy đến các nơi quen biết, xa mấy cũng đến, để tìm. Trình báo với công an. Nhang đèn van vái sáng nhà, cầu cho thằng nhỏ hồi tâm quay về. Mười tám, trên lý thuyết, là tuổi thành niên, nhưng Khanh chưa ra dáng người lớn. Nó chẳng biết một nghề nào, ngốc nghếch, dại dột. Tám triệu bạc, một mớ quần áo, nó sống được bao lâu?… Lúc nghe Hiền rủ đi Phước Tường coi bói, Linh ngạc nhiên. Ban đầu Linh định châm vài câu trêu chọc nhưng nhìn nét mặt ủ dột của chị, Linh không dám. Lạ đấy, nhưng đi thì đi, xem cho biết am đền đồng bóng nó thế nào! Thầy Mười ở Phước Tường, có tiếng lắm, ngay cả những người không bệnh hoạn mất mát gì cũng nghe danh thầy.
      Thầy Mười Chắc khoảng ngoài sáu mươi, gầy nhom. Trông thầy hiền, lờ đờ, như ông lái heo “về hưu”, chẳng giống tướng thầy bà. Nếu bây giờ thầy cầm ngược cuốn sách đọc, Linh cũng không thấy lạ!… Tra cứu trong sách xong, thầy hỏi, nhỏ nhẹ:
      “Đệ tử có quen ai ở Sài Gòn không?”.
      “Dạ, có”. Hiền đáp.
      “Sa Đéc, Cần Thơ?”.
      “Dạ, không”.
      “Đó là hướng nam. Thằng nhỏ này đi về nam… Tuổi nó năm nay xấu, nhất là từ tháng sáu đến tháng tám”. Hiền dạ, cung kính.
      “Nó đi với một gã trai, cao lớn, đen đúa”.
      Hiền hỏi lại:
      “Một người đàn ông, đen… không lẽ nó bị bắt cóc?”.
      Thầy Mười nhìn ra sân, đăm chiêu. Nhiều loại nhang khác nhau cùng cháy một lúc tỏa ra một thứ mùi gây gây, nửa thơm nửa khét.
      “Đệ tử chớ lo lắng quá, bọn trẻ đi rong là chuyện thường… Đến cuối năm, tháng mười một tháng chạp, sự việc sẽ xoay chuyển qua phía khác, thuận hơn, tốt hơn, chừng đó ta sẽ biết tin”.
      Hiền hốt hoảng:
      “Phải đến tháng chạp mới biết sao thầy?”.
      Linh không ngờ lo âu có thể khiến người ta phờ phạc như thế, nhìn vẻ mặt Hiền lúc này thật đáng thương.
      Một bà thấp người, hồng hào – là vợ thầy Mười – từ nhà dưới lên, chắp tay thưa:
      “Con mướp nằm thẳng cẳng, mắt trợn ngược, dường như nó sắp chết, thầy xuống coi giùm”.
      Thầy gắt: “Ta bận, mèo với chuột, cứ để đấy!”.
      Bà vợ không chịu: “Phải cho nó uống thuốc giải… nó chết mất… tại thầy cả”.
      Thầy Mười nạt: “Sao lại tại ta, con nữ này hỗn!”.
      Bà vợ thụt lùi, đi xuống, nhưng vẫn buông thêm một câu: “Con mèo yếu… đã nói là đừng bắt nó ăn”.
      Chờ cho chuyện mèo lắng lại vài phút, thầy Mười nói:
      “Trước tiên, đệ tử hãy đến tìm ở các nhà quen, hướng Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long… Nóng ruột thì tìm, nhưng ta thấy sớm lắm cũng phải cuối năm nó mới về”.
      Hiền nói như than:
      “Ông xã con đã đi Đà Lạt, Phan Rang, Qui Nhơn, Pleiku… Còn non sáu tháng nữa, lâu quá, chúng con điên mất!”.
      Thầy gật gù: “Ai cũng thương con… Có điều chắc chắn, ta bảo đảm, nó mạnh lành khỏe khoắn, chẳng sứt mẻ gì”.
      “Tạ ơn thầy!”. Hiền vái ba cái: “Đó chính là thứ con ước muốn… mong cho nó bình an”.
      Bỗng nhiên, từ nhà bên cạnh phát ra tiếng máy hát, lớn hết cỡ, như sấm động. Những lời tình tự yêu đương, anh em nhão nhoẹt. Thôn xóm chật hẹp, đông đúc, chơi tự do thoải mái kiểu này thì một người hò hét cả trăm người phải nghe. Thầy Mười có vẻ khổ sở.
      “Thằng này xấc láo, chẳng nể ai, đã kiểm điểm cả chục lần, như nước đổ lá môn… Nó thường gọi ta là lão lang băm. Rồi mọi người sẽ thấy, nó là thằng chết tiệt, vô hậu, càng về già càng lụn bại”.
      Thầy đến bàn thờ giữa, nhấc lư hương lên lấy ra một tờ giấy vàng. Đó là lá bùa, dài chừng hai gang tay, viết đầy những hàng chữ đen ngoằn ngoèo. Thầy bảo:
      “Đệ tử dán bùa này lên cửa phòng, hay đầu giường thằng nam”. Và dặn: “Từ nay, vào các ngày mùng một, rằm, đệ tử nhớ cúng thường xuyên. Không cần nhiều lễ vật, chỉ chè xôi hoa quả… Tối nào cũng lên đèn cầu nguyện thánh thần trời đất ở trước sân”.
      “Dạ, con hiểu, nhưng khấn thế nào ạ?”.
      Thầy lừ mắt nhìn chị, như quở trách, chuyện dễ vậy cũng hỏi.
      “Cầu xin các bác các đẳng âm hồn cô hồn, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, kẻ chết sông chết suối người chết bụi chết bờ… điều lành đem tới điều dữ tống đi, phù hộ cho phước đức gia đình phát vượng, để vượt qua mấy tháng hung hạn u trệ… Các bác các đẳng là những vị qua đời nhằm giờ thiêng, không người cúng giỗ, linh lắm… các vị sẽ mở mắt thằng nam, dẫn dắt nó quay về”.
      “Dạ, con nhớ rồi”. Hiền thấy trong dáng điệu của thầy nét chững chạc, trong giọng nói có sự đáng tin cậy, trong ánh mắt có vẻ thân thiện. Điều gì làm chị thấy như thế? Có lẽ xuất phát từ lòng thương con!
      Thầy Mười đến trước các nơi thờ, vái thật sâu, mỗi chỗ ba vái, xong lễ. Thầy khoe:
      “Cách đây hơn tháng có một ông ở Tân Quí, mãi trong Tân Phú, tới nhờ tìm bà vợ đi hoang. Ông ấy đoán bà ta trốn nợ, ta bảo theo trai. Xác thực là thế. Trốn nợ không phũ phàng bằng theo trai!… Trước đó ít lâu, một ông chủ nhiệm ở Quận 3 đến hỏi về chuyện mất của. Ông ta mất hộp nữ trang. Ta nói, con trong nhà lấy, ông ấy không tin, nghi cho con bé giúp việc. Ta dám đem cái thủ cấp già này ra đặt cược… Về sau, quả đúng như ta thấy, một quý tử của ông ta lấy trộm, đương sự phục quá”.
      Linh ngắm kỹ thầy, mong tìm thấy ở ông già khô đét này những dấu hiệu khác người thường… Thời buổi văn minh, đã qua thế kỷ 21 khá lâu, sao vẫn còn các hình thức sinh hoạt mơ hồ, thiếu cơ sở khoa học? Các thầy loại này giỏi thật không, có trị được bệnh cứu người không? Nếu có, kết quả ở mức nào? Nếu không, tại sao người ta vẫn tìm đến nhờ giúp đỡ. Vấn đề có lẽ nằm ở chỗ “lưng chừng – nửa tối nửa sáng”, điểm giáp ranh giữa hư và thực… Có bệnh thì vái tứ phương. Con người, dù đã khôn ngoan, giỏi hơn xưa, nhưng vẫn còn các nhược điểm lớn, vẫn bị bệnh tật, tai họa bất ngờ và chết chóc đe dọa, đeo bám bên lưng. Bước vào khu vực này thì khoa học chưa thể hoặc không thể giải quyết được gọn gàng.
      Hiền đặt lễ một phong bì khá dày. Thầy Mười cầm, rút lấy hai tờ giấy bạc.
      “Ta nhận tiền nhang đèn, chừng này thôi… làm phước giúp bá tánh… À quên, thằng nam có bạn gái chưa?”.
      “Dạ, chưa đâu ạ, cháu còn dại… nó ham học lắm”.
      “Người lớn tuổi hay lụy vì tiền, thanh niên thì khổ do sắc… Đệ tử yên tâm, nó sẽ về, tự quay về”.
      “Dạ, con mong ngày mong đêm”.
      “Đệ tử gan dạ lắm, gặp cảnh ngộ này nhiều bà khóc mùi, bỏ ăn”.
*
      Trên đường về, Linh hỏi Hiền:
      “Chị đoán thử Khanh đi đâu, tại sao nó đi”.
      “Chị đã nghĩ nát nước, chịu”.
      “Nếu nó lớn hơn tí nữa, ta có thể nghi nó theo người yêu… Thầy Mười lấy lễ bao nhiêu?”.
      “Bốn chục ngàn”.
      “Ở nông thôn số tiền ấy rất đáng kể… mỗi ngày tiếp ba khách là ấm… Đi cấy, trên nắng dưới bùn, còng lưng, ngày công chỉ hai mươi ngàn”.
      “Không tính như vậy, em ạ… Thu nhập hàng tháng của ca sĩ nổi tiếng có thể lên tới hai, ba trăm triệu. Nhiều cầu thủ bóng đá lãnh lương bảy, tám chục ngàn bảng Anh mỗi tuần… Có những loại công việc giá trị rất riêng, không thể đo lường bằng cân ký chợ búa”.
      Linh vẫn đưa ra những nhận xét làm Hiền không vừa lòng:
      “Ông ấy lớn tiếng quảng cáo, tự khen mình, miệng lưỡi ngọt xớt… Khó biết chỗ nào thầy thấy được nhờ con mắt thứ ba, điểm nào nói mò”.
      “Không dễ đánh giá, nó như tín ngưỡng, tín đồ phải tin vô điều kiện… Linh cũng biết, xưa nay chị đâu có ưa thích chuyện phù phép viễn vông hoang đường… Chẳng có gì rõ ràng cả, nhưng nghe thầy Mười nói chị cảm thấy một cái gì đó chắc chắn, khiến mình vững bụng… Gần nửa năm nữa, hơi lâu, nhưng dù sao nó về là tốt… ôi, con với cái!”.
      Vững bụng? Có lẽ trong lúc bối rối, lo sợ, đây như chiếc phao để chị bấu víu, dù có thể là phao ảo.
      “Thầy Mười đáo để, sắc nhọn lắm… chị nhớ không, thầy rủa lão hàng xóm sau này sẽ tàn mạt”.
      “Nói như thế là nguyền rủa? Em nghiêm khắc quá!”.
*
      Thằng Khanh về, sau bảy mươi ngày phiêu lưu tình ái thơ mộng, thú vị với một bạn gái. Anh chị vù ra Đà Nẵng, ở nhà bà dì ruột của “nàng”. Vợ chồng Hiền mừng quính, không la mắng, gạn hỏi Khanh câu nào, bởi sợ nếu làm om lên sẽ gây thêm sự dòm ngó chú ý của lối xóm, chẳng ích gì. Nó về là may lắm rồi… Mới hơn hai tháng nhưng trông Khanh khác trước, da nó sậm, người chững chạc… Đà Nẵng, cái xứ nắng gió xa tít ngoài Trung, không phải Nam bộ!
      Anh Phát mở một bữa tiệc mừng, đãi bà con ở gần và vài bạn thân. Tiệc nhỏ, nhưng ấm cúng, thịnh soạn. Không còn gì vui hơn, anh chị rất quí trọng con. Dĩ nhiên, Linh cũng được mời… Linh nói với Hiền:
      “Đà Nẵng! Thầy Mười Chắc lại nói vào Nam”.
      “Sao đúng hoàn toàn được, đoán mà”.
      “Về sớm, chắc anh chị hết tiền?”.
      “Không, vì Khanh nhớ nhà, nhớ ba má! Chị đã nói, nó vẫn còn nhỏ… Con bé đó ghê thực, nó bày mưu tính kế, vẽ đường”.
      “Thầy Mười bảo đến cuối năm nó mới về”.
      “Cũng xê xích chút ít, như bác sĩ chẩn đoán bệnh… “đoán” thì có lúc đúng lúc sai”.
      Nhưng thầy Mười Chắc nói sai nhiều, Khanh cặp với bồ thầy lại bảo đi cùng một ông! Linh thấy lạ, Hiền không chê trách ông thầy đó tiếng nào.
      “Thầy nói đúng các điều cốt tử, là Khanh trở về, và mạnh lành… Tương lai của nó vẫn tươi nguyên, nó sẽ học lại, nay không thi thì sang năm thi, muộn chút xíu, chẳng mất gì!”.
      Một ông bạn hỏi anh Phát: “Giờ đây chắc chúng ta không còn gọi thằng Khanh là chú bé nữa?”.
      Anh Phát đáp, vui vẻ: “Tất nhiên rồi, ngay như luật pháp cũng đã quy định từ lâu, mười tám là tuổi trưởng thành!” ./.