Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Văn Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

8 thg 1, 2016

Trò chuyện với LÊ VĂN THIỆN

   Phỏng vấn
         * * 

       
Hôm sơ kết Trại sáng tác văn học tỉnh, tôi nói đùa với Lê Văn Thiện “Anh là nhà văn xã viên nông nghiệp”. Anh cười: nông nghiệp thứ thiệt đấy!
        Nói về L.V. Thiện, tôi nhớ một câu hỏi mà L. Tolstoi đặt ra trước kia: “Anh là con người như thế nào đây. Anh có khác với những người tôi đã biết không, và anh có thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào không?”… Hình như L.V. Thiện đã nói được một điều gì đó, tôi nghĩ như vậy.
        Mười tám tuổi L.V. Thiện đã có truyện ngắn đầu tay in trên một tạp chí văn học ở miền Nam, năm 1965. Tiếp đó, anh có bài đăng đều đặn trên các tạp chí khác, chủ yếu là truyện ngắn. Đó là những mảng đời trôi nổi, cơ cực, đau thương, những tâm sự u uất, những thân phận mỏng manh… Lê Văn Thiện viết thong thả, chậm, gần mười năm cầm bút (trước 1975) anh chỉ cho in hai tập truyện mỏng. Khiêm tốn, nghiêm túc, tập truyện đầu tay được nhiều đàn anh phê bình, giới thiệu, ấy là điều đáng mừng.
        Hai mươi năm sau, qua bao biến động thời cuộc, L.V. Thiện không thay đổi nhiều, anh vẫn viết truyện ngắn! Tuy nhiên, năng suất viết có vẻ yếu hơn do công việc đồng áng khó nhọc, vất vả. Bên cạnh khó khăn vật chất còn có trở ngại là ở xa thành phố. Ở huyện nhỏ thì sách vở, báo chí là món lập bập, thất thường. Anh nói: “Chúi mũi trong xó làng quá lâu nên tôi lạc hậu, lắm lúc như một gã ngố!”. Nói vậy, là anh khiêm tốn. Có thể thấy, tuy chưa rõ lắm, nhưng bằng tác phẩm của mình L.V. Thiện ít nhiều đã trả lời được câu hỏi của L. Tolstoi trước kia: có thể nhìn cuộc sống hôm qua và hôm nay bằng đôi mắt và sự rung cảm của chính mình… Tôi hỏi anh:
        * Vừa làm ruộng vừa viết văn, chắc anh gặp nhiều trở ngại, có cực lắm không?
        - L.V. Thiện: Tôi sống thế này đã lâu, khá mệt, nhưng gần như nó không gây khó cho việc viết, bởi tôi chỉ viết khi có hứng, lúc nhàn rỗi. Thất thường lắm, mỗi bài tôi viết trong một tuần, hoặc mười hôm, có năm chỉ được hai bài!
        * Dù vậy, anh cũng đang có trong hộc bàn một tập truyện ngon lành?
        - L.V. Thiện: Đó là tập “Chuyện đời”, nó gồm 12 truyện, viết trong sáu năm, nó đề cập nhiều chuyện lớn nhỏ, về tình đời, lòng người, những kiểu sống, những số phận.
        * Anh có nghĩ, trong những năm qua, nếu sống ở phố, anh đã viết khác?
        - L.V. Thiện: Tôi chưa nghĩ đến, nhưng chắc khác. Môi trường sống có vai trò lớn trong việc tạo ra tính cách, lối sống, cách nhìn đời của người ta, giống như nghề nghiệp, giới tính, màu da, tôn giáo vậy.
        * Nhiều người nhận xét, trước kia anh lặn lội ở chiến trường nhiều năm, nhưng trong các tập truyện trước ’75 của anh ít thấy cảnh đạn bom, máu lửa?
        - L.V. Thiện: Cái này khó nói, bởi nó dễ đụng chạm, dễ được chụp mũ! Tôi trực tiếp đánh nhau bảy năm, thấy tận mắt vô số người chết vì súng đạn (hai bên, và dân chúng… ở các vùng Kon Tum, Pleiku, Tây Nam bộ, Campuchia.).  Anh ơi, khi chứng kiến những hình ảnh đó thì ta khó thể nói gì, viết gì nhiều về nó… Lẽ nào ta khai thác đau thương, tang tóc, bất hạnh của người khác (của đồng bào) để kiếm tiền nhuận bút, còn nói viết để lên án thì đã có nhiều người làm. Nói thế, người ngoài cuộc không tin đâu.
        * Thông thường, anh chọn đề tài như thế nào?
        - L.V. Thiện: Có thể nói, tôi viết kiểu tài tử. Hiếm khi tôi phác thảo, xây dựng cốt truyện trước. Thường, tôi nhớ lại một chuyện xưa, những kỷ niệm (xám hay hồng, vui hay buồn), rồi thêm thắt ít nhiều chi tiết, thành truyện. Hoặc, trong các đám tiệc, giỗ chạp, nghe anh em bà con trò chuyện, chộp được mấy cái hay, lạ, mình ghi nhớ, sau đó kiếm thêm một số tình tiết nữa (ở chỗ khác) rồi ghép chúng lại với nhau. Ít có truyện hư cấu hoàn toàn… Mới đây, tôi có một truyện được bạn bè thích. Ý chính truyện này tôi chôm từ bản tin trong một tờ báo cũ, cách đây hơn 50 năm. Nó độc đáo, lạ, dị thường. Không tìm mà gặp, may mắn… Tôi thích ngồi ở các quán cà phê, quán phở vỉa hè, hoặc lân la gần mấy “mụ” đa sự, để nghe lỏm, tìm đề tài, chẳng mất tiền mua, lại vui.
        * Anh thấy văn chương, thơ phú của ta thế nào?
        - L.V. Thiện: Có lẽ chỉ nên nhận xét những tác phẩm tôi đã đọc. Nhiều người vừa viết vừa nhảy múa, diễn thuyết. Sản phẩm của họ màu sắc không đều, chỗ quá đậm, chỗ lợt, nhiều nét cũ và thừa… Viết về cuộc chiến vừa qua thì có ba, bốn kiểu khác nhau nhưng chúng đều lềnh bềnh, trôi nổi, cứ như người viết luôn nằm trong trạng thái lên đồng, bụng dạ sôi sục, ngòi bút muốn khạc đạn, nên dễ cho ra lò những ly cà phê nêm bột ngọt! Không nên ba hoa, nói dài… Đọc truyện các nước, những gương mặt cũ, như E.M. Remarque, A. Camus, C. Dickens mình luôn thấy đã, đọc lại chục lần không nhàm.
        * Cảm ơn. Chúc anh khỏe mạnh, cuốc và viết thành công.
(THANH PHONG (Sĩ Tịnh), HK cuối tuần, 20/8/1996)


31 thg 8, 2011

TÌM MỘT LỐI RA

Hai người ngồi uống rượu dưới giàn bông giấy.

Đôn Cận đến sớm, lúc tám giờ sáng, xách theo con vịt. Trọng khoái chí, lớn tiếng đốc thúc Kim Hoa chạy kiếm rượu và mồi đưa cay. Phải “chạy” dài vì nhà không còn tiền, chẳng có đến chục ngàn bạc. Nhưng biết tới đâu bây giờ. Những nơi quen lớn Kim Hoa đều đã đến thăm, vay mượn vài lần. Số nợ đã cao lút đầu. “Rồi lấy gì để trả đây. Ta còn mặt mũi nào đến các nhà quen hỏi mượn nữa”, Kim Hoa nói với mình.

Nhưng Kim Hoa vẫn phải đi kiếm rượu, dù khi dắt xe ra ngõ chị vẫn chưa biết nên đi đâu. Hoa nghe người bải hoải, hai mắt nóng, chân tay rũ liệt như vừa làm một việc cực nặng… Trọng uống quá nhiều, nay với bạn này, mai bạn khác, tuần nào cũng dự hai, ba “trận” lớn. Bốn ngày vừa qua thì uống liên tiếp, chẳng nghỉ ngày nào.

Đạp xe vòng quanh ngoài phố, từ bến xe xuống chợ, rồi từ chợ lên bến xe – nửa vòng thị trấn – cuối cùng Kim Hoa lại tấp vào nhà Xuân Dung. “Chớ biết đi đâu nữa, khổ thân tôi!” Đây là lần thứ ba trong tháng, Kim Hoa tới cầu viện nhà này. Chỉ là chỗ bạn bè, không bà con cật ruột gì, nhưng Xuân Dung rất thương quý Kim Hoa, như chị em. “Vay mượn, khốn khổ quá chừng. Nhưng nếu vay để làm ăn thì còn coi được… Cứ thế này mãi rồi sẽ tới đâu?” Kim Hoa lại độc thoại.

Chỉ có Phước – chồng Xuân Dung – ở nhà. Kim Hoa ấp úng trình bày lý do “thăm hỏi” và ngạc nhiên khi thấy Phước sốt sắng lấy cho mượn ngay một trăm ngàn đồng, đúng như mong muốn của chị. Phước mở tủ lạnh bê ra một đĩa chôm chôm, nho, mời Kim Hoa. Phước nhìn chị bằng ánh mắt trìu mến, mơn vờn. “Xưa nay Phước không nhìn mình như vậy”. Kim Hoa lấy một chùm nho, tới đứng bên cửa sổ. Dường như Phước nói nhiều, cười to hơn mọi lần. Cục hầu ở cổ anh ta nhảy như quả lắc đồng hồ. Sao anh ta vui…

Tối qua, Trọng tổng kết các khoản cần chi dùng: “Mình cần gấp ba triệu rưỡi để thanh toán viện phí và tiền thuốc cho má, và bảy triệu chuộc chiếc xe. Anh bí. Em coi chỗ nào có thể nhờ cậy được thì xoay giùm. Anh sẽ trả, vài tuần, hoặc vài tháng nữa anh trả.” Nghỉ một lúc, Trọng nói thêm: “Hiện giờ ta đang đứng ngay ở điểm “cùng”, nghĩa là sắp tới sẽ đến chỗ “biến”, sau “biến” là “thông”. Sẽ vậy thôi. Lẽ nào chúng mình cứ chúi mũi xuống mãi?” Hơn mười triệu bạc. Tìm đâu ra đủ con số đó? Trước đây, chừng ấy tiền là nhẹ như bông, chẳng đáng để Trọng quan tâm.

- Trông em có vẻ lo lắng quá. Có gì khó khổ, trở ngại nói anh nghe xem.

Giọng của Phước như cụ già hiền từ, nhưng ánh mắt anh ta là mắt của diều hâu nhìn chú gà con. Kim Hoa thành thực kể hết tình cảnh của mình. Phước nghe chăm chú, tặc lưỡi luôn miệng: “Tay Trọng bê bối, hư quá, bậy quá!”

Tiễn Kim Hoa ra sân, Phước nói:

- Nay mai nếu còn cần tiền tiêu em cứ tới đây, đừng ngại. Xuân Dung đi Cai Lậy chơi mười ngày, anh tự do, không sợ bà ấy giám sát. Nhớ nhé.

Rồi anh ta vỗ lưng Kim Hoa: “Tội nghiệp em!”.

“Em tới đây… Xuân Dung đi Cai Lậy… Anh ta nói gì vậy, hở trời!” Đi khỏi cổng nhà Phước một quãng, Kim Hoa dựng xe bên vệ đường, ngồi thụp xuống, gục đầu vào gối, khóc.

<>

Đã 6 giờ chiều, hai người vẫn ngồi uống dưới giàn bông giấy. Chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ cuộc rượu sắp tàn, cả hai đều còn tỉnh táo.

Đôn Cận kể một chuyện vui. Kể xong anh cười lớn, tán thưởng mình. Nhưng Trọng không nhếch mép.

- Không buồn cười à? – Đôn Cận hỏi.

- Tếu lắm, nhưng bụng này đang chứa nhiều mối lo, chẳng vui được.

- Đâu có gì quan trọng, mọi trục trặc trong cuộc sống đều là nhất thời.

- Xin hỏi, khi gặp hết thất bại này đến thất vọng khác, ông có oải không?

- Đương nhiên là oải.

- Khi mà cả trời và người cùng hùa vào xí gạt ta liên tục hàng chục keo, ông có cáu không?

- Cáu, tất nhiên! Nhưng coi lại, có phải các vị đó gạt ta, hay do ta bước đi xiên xẹo?

- Ông biết đấy, tôi không phải hạng người dễ chịu thua, nhưng khi rơi vào cái trận đấu suốt 90 phút ta co chân sút mãi mà cứ trúng cột dọc với sà ngang…

- Sút tiếp, rồi sẽ “vào”, chắc chắn như thế, vì sà ngang cột dọc chỉ cách thắng lợi vài phân… Đừng lo, tôi sẽ góp cho mấy ý mới để bạn bắt đầu làm lại.

Đôn Cận cười thật giòn, và lại kể một chuyện vui khác… Trọng nắm tay Kim Hoa, bảo chị ngồi xuống cạnh Đôn Cận.

- Em ngồi dậy, châm rượu cho anh Đôn.

- Em bận nấu nướng, dọn dẹp.

Trọng cười hềnh hệch:

- Khoan nấu, nghỉ dọn. Đôn là tri kỷ của anh, em biết đó… Có gì đâu, chỉ rót rượu thôi. Đừng làm anh buồn. Anh buồn nhiều quá rồi… Em có còn coi anh là… là chồng không?

- Thôi nào, Trọng, để Kim Hoa lo bếp núc.

- Hoa muốn tôi buồn. Thời còn làm ở quán Chiêu Anh, cô ấy phục vụ biết bao người… Mà nào chỉ rót rượu thôi đâu, còn táy máy, mơn trớn và chớp nháy nữa kia!

- Anh Trọng! - Kim Hoa kêu lên.

- Bạn say rồi, Trọng ạ – Đôn Cận đứng dậy, nhưng anh lảo đảo, muốn té, nên lại ngồi xuống – Chúng mình nghỉ là vừa, tôi cũng mềm rồi.

Đèn đường bật sáng. Kim Hoa đến mở đèn thềm. Trọng ngồi chống cằm. Anh nói chậm, rành rọt như chưa uống giọt rượu nào:

- Tôi đâu còn là tôi nữa. Tôi kém cỏi, bất hạnh, sờ vào đâu hư hỏng đấy… Qụy ngã, thua lỗ, xúi quẩy – Anh chỉ Kim Hoa, và chỉ vào nhà – Tài sản của tôi chỉ còn có cô này, và cái nhà trống huếch.

- Biết rồi, Trọng. Này, làm hớp nước chanh, giải nhiệt.

- Ông chẳng biết gì nhiều đâu. Xin lỗi, cho tôi nói thực. Khi xuống chó thì người ta xuống cấp… thành một thứ người loại hai! Kim Hoa kia, ông biết không, mới năm nào cô ấy còn coi tôi là ân nhân đáng kính trọng, là phu quân vĩ đại… Nay thì sao? Bây giờ em gọi tôi là gì? – Trọng đưa ly rượu cho Kim Hoa – Em mời anh Đôn ly này, nhá.

Trọng lại nhắc tới mụ Chiêu Anh, và chuyện cũ, Kim Hoa cảm thấy chua xót.

- Ông nên tin tôi, khi say người ta thường nói thực, Đôn ạ… Không chỉ buồn, tôi đang tuyệt vọng. Nhưng tôi vẫn yêu thương Kim Hoa… Đúng thế, kép Văn Trọng sắp thở hơi cuối cùng nhưng vẫn yêu đào Kim Hoa mê đắm!

Trọng cười sằng sặc, sắc lạnh, như tướng cướp trên sân khấu. Rồi bỗng anh thôi cười, gào to: “Kim Hoa, lúc sáng em mượn tiền ở đâu?”

<>

Năm đó Kim Hoa là ngôi sao sáng của quán Chiêu Anh. Quán có nhiều chiêu đãi viên, nhưng Kim Hoa là người xinh đẹp nhất, nổi nhất. Quán thu hút khá đông khách, phần lớn thuộc giới khá giả. Các cô gái bán bia, rượu, tiếng cười, và cả mấy “món cấm”. Các đấng mày râu thì mua vui, mua sắc, và mua cả những vầng hào quang hão huyền. Người ta không tiếc thời gian, công sức, tiền bạc. Dường như ai cũng muốn cố vượt lên để tới một cái đích nào đó, cố nhảy qua những bậc cấp, những chiếc thang mơ hồ nào đó.

Trọng đến Chiêu Anh thường xuyên. Lúc này bạn bè gọi anh là Trọng Bụng. Anh đang ăn nên làm ra, đang phất. Anh làm gì cũng trúng, nhúng tay vào đâu cũng êm xuôi, trôi chảy, lời to. Ở Chiêu Anh, Trọng Bụng được các nàng kiều quý trọng, chìu chuộng. Anh xài “sang hơn Tây”, vui tính, hào phóng. Cùng nhiều hảo hớn khác, Trọng lao vào cuộc đua tranh nhằm chiếm đoạt minh tinh Kim Hoa, và anh đạt được mục đích sau hai năm chiến đấu quyết liệt…

Trọng Bụng bứng Kim Hoa ra khỏi động Chiêu Anh tối tăm cũng khó khăn, chật vật như viên tướng chiến thắng trong một trận đánh mà đối thủ là kẻ tài trí chẳng kém mình bao nhiêu. “Tao vớt nàng ra khỏi vũng lầy. Tao sẽ cưới nàng… Hoa sẽ coi tao như thiên thần sáng láng, hào hoa.” Trọng Bụng nói với các bạn thân, và sau đó anh cưới Kim Hoa ồn ào, linh đình như đã nói. Hai người sống với nhau êm ấm, hạnh phúc như những cặp vợ chồng trẻ tân, như là Trọng chưa hề trải qua một đời vợ, như Kim Hoa mới cởi bỏ áo học trò tháng trước. Thời gian tươi đẹp ấy kéo dài được ba năm.

Nhưng từ khi bị mấy vụ thất bại, thua lỗ nặng liên tiếp ập xuống đầu hồi cuối năm kia, Trọng đã biến thành một người khác. Anh mất tinh thần, không còn thiết gì đến việc làm ăn, và trở nên một kẻ nóng nảy, hời hợt. Biết vợ không may vá, không buôn bán, không dạy học, không có một nghề chắc chắn, nhưng anh không biết đặt câu hỏi các món tiền chị mang về thời gian qua có được từ nguồn thu nào?

<>

Chỉ hai ngày sau lần nhậu trước, Đôn Cận lại đến. Cùng đi với anh có một người đàn ông tuổi chừng năm mươi, tướng sang trọng. Ông ta mang kính mát, ria mép rậm, mặt ngầu, như mấy tay trùm xã hội đen trong các phim truyền hình. Đôn Cận gọi người này là anh Năm với giọng kính nể. Trọng lăng xăng đón khách. Anh vội vã lâu qua bàn ghế, pha trà, và vác chiếc bàn thấp ra đặt dưới giàn bông giấy.

Trọng nói nhỏ với Kim Hoa: “Có anh Năm Phán đến chơi. Anh ấy ở Hòa Hưng, là dân xịn, làm ăn to, đứng đắn… Em nhớ cho, đây là khách đặc biệt. Lâu nay Đôn xoay xở, tìm cách chúng giúp mình. Anh ấy câu Năm Phán tới đây. Anh Năm chính là kẻ mang hy vọng đến cho chúng ta… Hoa ạ, anh đang cần một chiếc phao, một bàn tay vững chãi để bám víu, lấy đà… Giờ em chạy tìm chai rượu và đồ nhắm, nghe.”

Kim Hoa ngẩn người. Moi đâu ra tiền để tìm với mua! Số tiền mượn của Phước đã chi cho cuộc rượu hôm đó. Trọng ôm Kim Hoa:

- Không tiền? Phải, hết từ lâu rồi. Anh biết chớ! Biết, nhưng anh khổ quá, em ạ. Anh rối trí, muốn cuồng điên luôn… Hơn năm qua để mặc em chạy ăn là chuyện đường cùng.

Trọng vuốt tóc vợ:

- Ta tiếp anh Năm chu đáo, em ạ… Anh phải đứng lên, bày keo khác. Anh muốn được cao lớn, mạnh khỏe trở lại.

Trọng nhìn quanh phòng:

- Em coi còn có gì bán được chăng… Không à? Hết thực rồi!… Dào, chỉ còn bàn ghế, giường.

Kim Hoa cười:

- Còn em với cái nhà nữa chớ!

- Sao em cười?… Đừng cười anh!

Trọng chậc chậc, chép miệng và thở phì phì như những lúc say. Rồi anh lại vuốt tóc Kim Hoa, vỗ vỗ nhẹ lưng vợ, động viên:

- Em cố chạy lần nữa, ráng lên… kiếm chai rượu loại kha khá, mồi thì gà, vịt, bò, hoặc khô sặc, khô thiều cũng được.

Anh khích lệ, và cười gượng, nói đùa. Anh vỗ lưng Kim Hoa giống hệt như hôm trước tay Phước đã vỗ. Kim Hoa chết lặng… Cố gắng, Hoa cố được. Nhưng đối với một kẻ mà sự chạy tiền chỉ có nghĩa vay mượn thì phạm vi của sự cố gắng hết sức hạn hẹp. Kim Hoa đau đớn thấy mình bất lực. Cái xui xẻo của Trọng đã lan rộng, hay có một ông trời tai quái theo rình rập quyết hại gia đình chị? Mấy món tiền cuối cùng, cộng với số tiền bán nữ trang, Kim Hoa đổ ập cả vô mấy đầu huê, mới đây đã rơi vào tay hai mụ lừa đảo. Mất êm ái, trong chớp mắt, như là bay biến, như bốc hơi.

Kim Hoa yêu kính Trọng, muốn anh bước ra khỏi vùng u ám. Chị biết rõ là Trọng siêng năng, tháo vát, và rộng lượng, tốt bụng, thường giúp đỡ những kẻ thất thế, nghèo khổ. Một người như vậy chắc thế nào cũng vượt qua được hoạn nạn, sẽ gặp nhiều may mắn, sẽ có đường hậu vận tốt lành… Nhưng còn chuyện này, bây giờ tính sao, đến gõ các cửa nào?

Họ ngồi bên chiếc bàn nhỏ dưới giàn bông giấy. Đôn Cận nói liền miệng, tiếng khàn khàn. Năm Phán nói nhỏ, chậm rãi. Trọng thì luôn miệng vậng dạ, mau mắn, ngọt ngào.

Kim Hoa lấy giỏ, dắt xe đi ra cửa sau. Chị đứng mấy phút trước cánh cửa mở hé, ôn lại trong đầu những tên người, những gương mặt thân sơ có thể đến nhờ vả. Cuối cùng thì gương mặt nổi nhất vẫn là Phước. Anh ta cười cười, giả vờ lắng nghe, giả vờ thương xót. Nhưng khi anh ta đưa tiền ra, đúng là những xấp tiền thật, không phải “giả vờ”. Khuôn mặt Phước đung đưa, lấp lóa, lúc mờ lúc sáng như trên màn ảnh. Anh ta nhíu mày, nghiêng tai lắng nghe, rồi cười tít mắt. Và anh ta nói: “Tội nghiệp em… nếu cần tiền em hãy tới đây…”, rồi vỗ nhẹ lưng Kim Hoa. Anh ta vỗ lưng nàng!

Kim Hoa ra đường, thờ thẫn đi về phía trước mặt, như để đến một nơi vô định, một vùng đất trời nhạt nhòa, xám xịt. Thật là khổ nhọc phải ra đi trong khi trước mặt không có một ngõ lối, một con đường nào ./.