28 thg 3, 2016

HỒ XUÂN HƯƠNG

Giới thiệu về Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương
        Hồ Xuân Hương sinh ra vào cuối triều Lê (1592-1788), một thời kì đầy những biến loạn xã hội và tai biến. Gần 900 năm đã trôi qua từ khi Ngô Quyền đánh đuổi người Tầu để lập lại nền độc lập cho Việt Nam, dẫu sao đi nữa, trật tự xã hội vẫn theo khuôn mẫu triều đình Trung Hoa và hệ thống quan lại của nó. Đến cuối thời Lê, trật tự xã hội theo Khổng Tử đã thoái hoá và bở vụn. Ở miền Bắc, phe cánh đầy uy quyền của chúa Trịnh đã khống chế vua Lê và triều đình thời đó tại Thăng Long, đồng thời chúa Trịnh tiến hành chiến tranh với nhà Nguyễn, vốn có triều đình tại phía Nam Huế và được hỗ trợ bởi vũ khí Bồ đào nha và quân Pháp do các nhà truyền giáo thuộc địa tuyển mộ. Cuối cùng, sau vài thập kỉ hỗn loạn tàn bạo, vào năm 1771, ba anh em, được biết tới với cái tên Tây Sơn, bắt đầu cuộc nổi dậy nông dân đánh bại chúa Trịnh, vua Lê và nhà Nguyễn, chiếm lấy Thăng Long (Hà Nội), Huế và Sài Gòn, và xây dựng nên một triều đại ngắn ngủi của mình (1788-1802) rồi cũng sớm bị mất vào tay nhà Nguyễn.
        Thời kì sụp đổ xã hội và điêu tàn chiến tranh này, có lẽ không đáng ngạc nhiên, lại cũng là điểm cao trong truyền thống lâu dài về thi ca của Việt Nam. Như Dante nói trong cuốn De vulgari eloquentia, "Các chủ đề chính của thơ ca là tình yêu, đức hạnh và chiến tranh." Tác phẩm thơ vĩ đại của thời kì này - Truyện Kiều nổi tiếng của Nguyễn Du -- đều tràn ngập với niềm khao khát cá nhân, với sự thông cảm cho "số mệnh bạc bẽo," và với việc tìm kiếm cái gì đó vĩnh hằng. Chiến tranh, đói khát và tham nhũng đã không đánh bại được các nhà thơ như Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, mà lại còn làm sâu sắc hơn công trình của họ.
        Điều lập tức gây ngạc nhiên về văn phong của Hồ Xuân Hương là ở chỗ bà viết về tất cả -- hơn nữa, ở chỗ bà đã nhận được sự hoan nghênh liên tục và ngay lập tức. Sau hết, bà là một người phụ nữ làm thơ theo truyền thống Khổng Tử, đàn ông. Trong khi phụ nữ bao giờ cũng giữ vị trí cao trong xã hội Việt Nam --đôi khi thống lĩnh quân đội, thường thì làm cố vấn cho vua chúa, và bao giờ cũng tham dự vào việc quản lí tài sản -- vài người được tôn làm nhà thơ, có lẽ bởi vì một số người đã được dạy dỗ trong học hành văn chương nghiêm ngặt, điều thường được dạy cho các thanh niên để chuẩn bị cho các kì thi đình với mong ước kiếm được vị trí trong hệ thống quan lại vẫn cai trị tại Việt Nam từ năm 939 sau công nguyên cho mãi tới thế kỉ hai mươi (Khách thăm Hà Nội vẫn còn có thể thấy, trong sân của Văn Miếu, những con rùa đá to lớn cõng trên lưng mình tấm bia khắc tên của những tiến sĩ đã đỗ đạt trong các kì thi đình từ năm 1442 cho tới 1779. Kì thi cuối cùng là trong năm 1919.).
        Điều cũng gây ngạc nhiên là những gì bà đã viết ra. Vào cuối triều Lê, khi địa vị xã hội của phụ nữ đã bị sút giảm hẳn, bà thường đặt câu hỏi về trật tự của mọi việc, nhất là quyền của đàn ông. Chế độ phong kiến hà khắc ở cuối thời Lê đã lấy cuốn Kinh Lễ của Khổng Tử làm sách hướng dẫn chính thống trong đó phụ nữ "khi chưa chồng thì theo cha, khi có chồng theo chồng, và khi goá chồng thì theo con trai." Đã có "bẩy lí do để từ bỏ vợ: 1, nếu cô ấy không có con, 2, nếu cô ấy ngoại tình, 3, nếu cô ấy không tôn kính bố mẹ chồng, 4, nếu cô ấy ngồi lê mách lẻo, 5, nếu cô ấy ăn cắp, 6, nếu cô ấy bị cho là ghen tuông, và 7, nếu cô ấy bị bệnh không thể chữa được.” Làm cho vấn đề còn tồi tệ hơn nữa, các qui tắc hồi môn và lễ cưới đã trở nên tốn kém và phức tạp đến mức vào thời Hồ Xuân Hương, ít phụ nữ thuộc tầng lớp bà lấy được chồng, phần lớn trở thành vợ lẽ (Theo Hoa Bằng, Hồ Xuân Hương, Nhà Thơ Cách Mạng, (Sài gòn: Nhà Xuất Bản Bốn Phương, 1953), trang 100 và 103.). Trong khi thơ của Hồ Xuân Hương công kích vào quyền lực của đàn ông, điều có thể dường như là khá thông thường vào cuối thế kỉ đó với người Mĩ và người phương Tây khác, thì với thời đại của bà điều đó gây chấn động và gây khiếm nhã cá nhân.
        Bên cạnh đó, bà đã chọn viết bằng chữ Nôm— một hệ thống chữ viết biểu thị cho cách nói của người Việt Nam - thay vì dùng chữ Hán, ngôn ngữ của tầng lớp quan lại cao cấp. Việc chọn viết bằng chữ Nôm của bà, như Chaucer đã chọn viết bằng tiếng Anh và Dante chọn viết bằng tiếng Italia, đem lại cho thơ ca của bà một chiều hướng Việt Nam đặc biệt tràn ngập với cách ngôn và thói quen nói chuyện của thường dân (Giới học giả gần đây cũng đã tìm ra những bài thơ cô viết trong chữ Hán. Xem Đào Thái Tôn, Thơ Hồ Xuân Hương (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1996). Quả vậy, nhà thơ hiện đại Xuân Diệu đã gọi bà là "Bà chúa thơ Nôm."
        Nhưng, cuối cùng, sự kiện đáng ngạc nhiên nhất là ở chỗ phần lớn hơn trong thơ bà - mỗi bài thơ lại là một kì công về thơ trữ tình theo kiểu Đường luật (luật thi) -- đều mang hai cách hiểu: mỗi bài thơ đều ẩn giấu trong nó một bài thơ khác với nghĩa sắc dục. Trong những bài thơ này chúng ta có thể được giới thiệu quang cảnh về ba mỏm đá, hay cái động đá vôi, hay cảnh dệt cửi hay đánh đu, hay các vật như cái quạt, quả cây, hay thậm chí con ốc nhồi -- nhưng ẩn dấu bên trong gần như tất cả thơ Đường luật tuyệt vời của bà là ý đồ sắc dục, điều tự lộ ra qua việc chơi chữ và mang hình tượng kép. Không nhà thơ nào khác dám làm việc này. Sắc dục, tất nhiên, là chủ đề bị cấm kị trong truyền thống văn học này. Như Hữu Ngọc và những người khác đã chỉ ra, đạo Khổng thậm chí xua đuổi sự khoả thân khỏi nghệ thuật Việt Nam (Hữu Ngọc và Françoise Corrèze, Hồ Xuân Hương, ou le voile déchiré (Hà Nội: Fleuve Rouge, 1984), p. 31.). Với thái độ gợi tình của mình, Hồ Xuân Hương quay sang cái sống động khôn ngoan thông thường trong các bài ca dao và tục ngữ, cái thái độ mà từ ngòi bút văn học của bà có thể được nói một cách chính xác là sự thách thức chứ không phải là bệnh tâm lí sắc dục, như một số người chỉ trích bà đã buộc tội.
        Vậy là, vào lúc cái chết và sự huỷ diệt bày ra, khi mà thế lực cầm quyền mạnh mẽ và không được tôn kính bị trừng trị bởi lưỡi kiếm, thì làm sao nó thoát khỏi sự bất kính, sự khinh bỉ, và sự sỗ sàng thường lệ của nền thơ ca của nó? Câu trả lời nằm ở tài xuất chúng của bà như một nhà thơ và trong sự quí trọng văn hoá tột bực mà người Việt Nam bao giờ cũng đặt vào thơ ca, dù là trong truyền thống thanh cao của giới trí thức hay ca dao truyền miệng của thường dân. Rất giản dị, bà đã tồn tại bởi vì thông minh nhạy cảm trong thơ ca. Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ, bà đôi khi viết ra để đáp ứng cho sự ngạc nhiên tự nhiên. Chính sự tinh xảo riêng của bà trong việc sáng tác hai bài thơ một lúc, bài nọ ẩn dưới bài kia, đã lôi cuốn độc giả -- từ người bình dân, người vốn có thể nghe trong thơ của bà tiếng vọng của bài ca dao, tục ngữ của mình, và theo nghĩa làng xóm thông thường, cho tới các viên quan lại triều đình mang nặng Hán văn, người giễu cợt bà trong thơ ca, người đánh giá sự tinh xảo thơ ca của bà, và người đưa bà ra làm cái bảo vệ cho mình(Chẳng hạn như Chiêu Hổ, thích chòng ghẹo cô trong thơ ca, người mà một số học giả (nhưng không phải tất cả) xếp vào loại quan hạng cao như Phạm Đình Hổ.). Việc đùa giỡn bằng lời của bà, cái khôi hài tinh quái của bà, lối nói tự nhiên của bà, niềm khát khao tâm linh của bà, cơn đói tình yêu của bà, và sự giận dữ của bà đối với tệ tham nhũng phải đã là âm hưởng chính.
Cuộc đời và truyền thuyết
          Không còn mấy điều được biết một cách đúng như thật về cuộc đời bà. Những tài liệu thực tế giống như những tài liệu được lưu giữ ở phương Tây vào thời của Shakespeare gần đây mới có ở Việt Nam. Phần lớn tiểu sử của bà đều được suy ra từ thơ ca của bà. Quả thực, cứ cho là thiếu những sự kiện rõ ràng và có những điều thường không đúng về thơ bà, một số độc giả đã biện minh rằng bà chưa bao giờ tồn tại mà chỉ là sự sáng tạo hư cấu của các nho sĩ nào đó, một loại biện luận kiểu Earl of Oxford (kiểu biện luận mà một số học giả cho rằng nhà thơ và nhà viết kịch Edward de Vere thế kỉ 17 (1550-1604) mới là tác giả thực của các vở kịch của Shakespeare. Phần lớn những người nghiên cứu Shakespeare đều không coi đây là điều nghiêm chỉnh.) Nhưng quá nhiều bằng chứng tiểu sử dầy đặc nổi lên từ những bài thơ đó để chứng tỏ điều này là không đúng, cùng với cách nhìn quen thuộc của bà vào mọi thứ và cả loạt những cách chọn từ duy nhất.
        Các học giả nói chung đồng ý bà xuất thân từ gia đình họ Hồ tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ở giữa miền bắc Việt Nam(Về thảo luận đầy đủ xin xem Hoàng Xuân Hãn, “Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long,” trong cuốn La Sơn Yên Hồ của ông Tập III (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998), trang 897 và 930.). Họ bất đồng về bố của bà, là nhà nho Hồ Sĩ Danh (1706-1783) hay Hồ Phi Diễn (1703-1786). Mẹ bà, có tên là Hà, là vợ lẽ, tức là vợ thứ hai, hay hầu thiếp, mặc dầu là hầu thiếp đẳng cấp cao. Hồ Xuân Hương có lẽ được sinh ra vào khoảng giữa 1775 và 1780, hoặc ở làng Quỳnh Lưu hoặc làng Khán Xuân, bà được chôn theo bây giờ ở quãng vùng đang phát triển nhà mới ở khu ngoại ô gần Hồ Tây của Hà Nội ngày nay.
        Bà hình như đã được dạy dỗ về văn học cổ điển. Tên của bà, mà có thể có nguồn gốc từ cái làng bà đã lớn lên, có nghĩa là “Hương mùa Xuân”. Giữa năm 1815 và 1818, bà dường như đã nhiều lần tới vãng cảnh Vịnh Hạ Long. Năm 1819, theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi thuộc Viện Văn học ở Hà Nội, có một tài liệu chính thức nói tới “hầu thiếp Hồ Xuân Hương,” trong khi một bản thảo khác (“Xuân đường đàm thoại,” 1974) nói tới cuộc trò chuyện vào năm 1869 giữa các nho sĩ tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó một trong số họ, tới muộn, nói ông ta “vừa mới tới từ đám tang của Hồ Xuân Hương.” Quả thực, tài liệu tham khảo năm 1819 nói tới Hồ Xuân Hương, đã được ghi trong Hoàng Xuân Hãn (tr. 869), là một phần của bản ghi về việc hành hình chồng bà do ăn hối lộ. Chồng bà, Trần Phúc Hiển, tri phủ Yên Quảng, đã bị hành hình theo lệnh nhà vua. Bản ghi viết "(Kỳ tiểu thiếp XUÂN HƯƠNG năng văn, chính sự. THỜI XƯNG tài nữ. THAM HIỆP thường sử can dự ngoại sự. THỦ DUNG tố kỵ chi.)" (Hoàng Xuân Hãn, tr. 868 – chữ viết hoa là của Hoàng Xuân Hãn)." (Ghi trong ngoặc cũng của Hoàng Xuân Hãn) "Vợ bé ông tên là XUÂN HƯƠNG, giỏi về văn chương và chính trị; bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham Hiệp thường sai Nàng dự vào việc quan. Viên án thủ Dung vốn sợ ghét Nàng..." (HXH, p. 869).
          Nhưng có lẽ bà đã chết vào đầu những năm 1820. Vào năm 1842, chúng ta có bài thơ đáng chú ý của em vua Thiệu Trị trong cuộc viếng thăm hoàng gia tới Hà Nội.
Bản Hán Việt
Tịnh đầu liên hoa khai mãn trì
Hoa nô chiết khứ cung thần bì
Thảo hướng Xuân Hương lăng thượng quá
Tuyền đài hữu hận thác xuất ti,
Truỵ phấn, tàn chi thổ nhất oánh
Xuân Hương quy khứ thảo thanh thanh
U hồn biệt để kim như tuý
Cơ độ xuân phong suý bất tình.
Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn
Đầu hồ rực rỡ hoa sen,
Sai người xuống hái để lên cúng dàng.
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương,
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng.
Son tàn, phấn rữa, mồ hoang,
Xuân Hương đã khuất, bên đàng cỏ xanh.
U hồn say tít làm thinh,
Gió xuân mấy độ thổi tình không hay.
         Dù các sự kiện của đời bà là bất kì cái gì, một truyền thuyết về ý nghĩa và sự nhất quán văn hoá giầu có đã nổi lên. Truyền thuyết nói rằng cái chết sớm của bố bà đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới gia đình, làm chấm dứt việc học hành của Hồ Xuân Hương và giới hạn cơ hội hôn nhân của bà. Truyền thuyết nói rằng đôi khi bà có mở hiệu trà ở Thăng-Long, tên xưa của Hà Nội. Nổi tiếng về khả năng của mình trong việc ứng khẩu thơ Đường luật, bà thường hay bị các chàng sĩ tử đi thi đình thách đố. Một hôm một chàng sĩ tử và em mình tới cửa hàng của bà và bảo người hầu gái của Hồ Xuân Hương đi mời bà ra. Thay vì đi ra, Hồ Xuân Hương lại gửi ra vài câu thơ để yêu cầu viết thêm cho hoàn chỉnh, nhưng bài thơ lại khó đến mức khi đọc xong, chàng sĩ tử kia choáng váng ngất xỉu. Đây là điều nhục nhã tiềm tàng cho gia đình, nên người em ném anh mình xuống nước rồi lại vớt lên, và rồi thì chàng ta cũng hoàn tất bài thơ và người hầu gái đưa lại cho Hồ Xuân Hương, vẫn ở phía sau quán trà. “Cũng được đấy,” người ta đồn bà nói vậy, và cưới chàng ta, ông phủ Vĩnh Tường tương lai. Cuộc hôn nhân này, nếu người ta chấp nhận những tình cảm đó trong bài “Khóc ông phủ Vĩnh Tường,” là một tình cảm thực, nhưng chỉ kéo dài hai mươi bẩy tháng. Cuộc hôn nhân thứ hai là với một viên quan, người mà bà chế nhạo là “ông Cóc” trong bài điếu văn của mình “Khóc ông Tổng Cóc.” Giống như mẹ mình, Hồ Xuân Hương là vợ lẽ, hay hầu thiếp, một hoàn cảnh mà bà rất phẫn nộ.
        Truyền thuyết cứ thế tiếp tục. Các học giả như Hoàng Xuân Hãn về sau gợi ý rằng, với bằng chứng về niên đại học, thì bà không thể thực tế là vợ ông phủ Vĩnh Tường được, hay đấy là người đàn bà khác, nhưng bà đã nói lên tiếng nói của họ. Những người khác, như Đào Thái Tôn, gợi ý rằng nhiều bài thơ được coi là của bà thì đã do những người khác viết ra, những người đơn giản không dám gắn tên mình vào chúng. Theo cách nhìn này, từ việc thừa nhận ban đầu về bà, Hồ Xuân Hương đã nêu một tiếng nói duy nhất cho những vấn đề vốn bị cấm ngặt phổ biến trong bàn bạc đạo Khổng.
        Dù sự kiện của cuộc đời bà có là gì đi chăng nữa, trong hết bài thơ nọ tới bài thơ kia chúng ta đều nghe thấy việc bà phàn nàn về hôn nhân. Bà có quá tân tiến không, bà tự hỏi trong một bài thơ, có quá trơ trẽn lấy chồng không? Điều bà tìm kiếm, và rõ ràng chẳng tìm thấy, là một cuộc hôn nhân bình đẳng, điều bao hàm cái gì đó hoàn toàn phi thường và phổ biến trong tâm trí người Việt Nam: duyên. Duyên là khái niệm lãng mạn mà người phương Tây gọi là "tình yêu thực sự." Duyên là "tình yêu định mệnh," là mối ràng buộc được tạo ra trên trời mạnh đến mức hai người yêu nhau mà “có” duyên thì có thể trải qua nhiều kiếp hoá thân liên tiếp chừng nào mà họ còn chưa được gắn bó với nhau không tách rời. Không có được điều này, Hồ Xuân Hương phải giải quyết chỗ cư ngụ và dục, nhưng ngay cả điều sau này cũng không tin cậy được, nếu người ta lấy tình cảm tiểu sử từ bài “Lấy chồng chung.”
          Hồ Xuân Hương cũng viết một cách gượng ép về từ bi, đặc biệt theo nghĩa Phật giáo về tình yêu cá nhân và sự hi sinh cho người khác. Giống như phần lớn người Việt Nam, bà chắc là một Phật tử Đại thừa theo A di đà, môn phái mà hình ảnh chính là Phật Tây phương an bình, người ta có thể đi tới đó bằng việc hoàn thiện bản thân mình trong cuộc đời để cho khi chết người ta có thể sống ở Tây phương cực lạc, vẫn được hình dung là cõi giới tâm linh đâu đó bên “phương Tây” theo hướng của Ấn Độ, nơi mà Phật giáo ngụ đầu tiên. Cứ cho là bà không may trong hôn nhân và bà chán ghét cái cảnh “vợ hai”, thì việc đi vào tu hành Phật giáo có thể đã cho bà cả chỗ trú ngụ lẫn sự thực hiện tâm linh. Thay vì vậy, bà lại thấy sự thối nát của các thể chế tôn giáo vào thời mình và bà ném ra những lời nói kháy tinh quái nhất vào giới tăng lữ suy đồi, lười biếng và dễ bị hối lộ. Tại chùa Trấn Quốc, bà “đau đớn” nghĩ tới những anh hùng trong quá khứ của Việt Nam và thấy các sư chỉ như “lũ cạo đầu,” quên đi “món nợ tình” của họ. Tại chùa Quán Sứ, "Chùa các Sứ thần,” bà tới thiền nhưng thấy chỗ ấy vắng teo. Bỏ qua tôn giáo thể chế hoá, nhưng vẫn giữ lấy giới luật Phật giáo, bà đi lang thang vào các vùng quê để tìm chốn đơn độc gợi hứng cho một số bài thơ đầy vẻ trữ tình tâm linh và để lộ lòng từ bi(“Cô ấy đã du hành như một người đàn ông trong một xã hội mà phụ nữ là người ẩn dật,” Hữu Ngọc và Franỗoise Corrốze viết. Vào tháng hai năm 1999, lần theo một số đường du hành của cô, tôi đã ngạc nhiên về khoảng cách và vùng đất gồ ghề mà cô đã gặp phải). "Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ," bà nói trong “Cảnh Thu.” Đâu đó khác, bà tuyên bố rằng cực lạc “là đây, chín rõ mười," và đôi khi chúng ta có thể thấy “Một vũng tang thương nước lộn trời."
Đài Khán Xuân
Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời,
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.
Thơ ca
            Trong khi dịch theo nghĩa đen, “đài Khán Xuân” đọc như sau:
Đài Khán Xuân
Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
peaceful evening spring go pavilion
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
light light not dirty little world dust
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
three times watch bell tolls waves
Một vũng tang thương nước lộn trời,
one puddle mourning water turned over heaven
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
sea love 1,000 immense cannot splash out shallow
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Source love 10,000 spans easy all over.
Nào nào cực lạc là đâu tá?
where nirvana is where us?
Cực lạc là đây chín rõ mười.
Nirvana is here, nine out of ten.
        Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm thuộc vào hệ Môn-Khmer. (Các dấu quanh nguyên âm chỉ ra “độ cao thấp” của từ, hay thanh. Không có dấu thanh, người đọc Việt Nam thấy văn bản khó đọc được.) Thanh của từ làm cho thơ thành nhạc điệu phức tạp và cách nói ám chỉ, cũng như tính mở của ngôn ngữ đối với thói quen thơ ca từ tiếng Trung Quốc, một ngôn ngữ tương tự về cấu trúc. Với người phương Tây có lẽ đặc tính đáng để ý nhất của tiếng Việt và thơ ca của nó chỉ là khía cạnh thanh của từ.
        Trong tiếng Việt, có sáu thanh tựa âm nhạc hay độ cao thấp. Mọi âm tiết trong ngôn ngữ này đều mang một trong những thanh đó, mỗi thanh lại tạo nên ý nghĩa cho âm tiết đó. (Phần lớn các từ trong tiếng Việt đều là đơn âm.) Chẳng hạn, hình thái /la/ có thể mang sáu nghĩa phân biệt tuỳ theo thanh được dùng:
la: quát tháo (thanh bình cao)
là: là (thanh bình thấp)
lả: mệt mỏi (thanh hồi--xuống-lên)
lã: vô vị (thanh khứ--cao-nghẹt, tắc)
lá: lá cây (thanh thượng--cao-lên)
lạ: kì lạ (thanh hạ--thấp-nghẹt)

Thơ Hồ Xuân Hương (Tiếng Việt)


  1. Cảnh thu:

Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ,
Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu.
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cánh cũng ưa người nhỉ,
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ.
Chú thích: Túi thơ do thi sĩ lang thang và tiểu đồng mang theo, thường đựng các mẫu thơ và chữ viết của họ.

  1. Tự tình thơ:

Tiếng gà xao xác gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau giận vì duyên để mõm mòm
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đã hẳn chịu già hom.

  1. Mời ăn trầu:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thời thắm lại
Đứng xanh như lá bạc như vôi.
Chú thích: Phần lớn những người ở vùng thôn quê đều nhai trầu, vốn là hỗn hợp của một mẩu vỏ quả cau và lá trầu cuộn lại thành hình trụ mỏng và bôi vào một chút vôị Tác dụng là kích thích nhẹ và gây mơ màng. Tiếp xúc với nước miếng làm cho mồm tràn đầy thứ nước mầu đỏ tươị Việc tổ hợp những yếu tố tự nhiên này và sự biến đổi của chúng thành nước đỏ kích thích có lẽ là nguồn gốc cho cơi trầu là biểu tượng cho hôn nhân và tình yêu chân thực. Theo tục lệ cổ, cô dâu tặng cho chú rể một cơi trầụ Câu thứ ba mang một khái niệm Việt Nam đặc biệt, rằng một người đàn ông và một người đàn bà “có duyên.” Duyên không chỉ có nghĩa là họ hợp với nhau mà có nghĩa là tình yêu của họ thực tế là định mệnh, không tránh khỏi, rằng cuối cùng họ cũng tới với nhau sau tất cả các kiếp sống trước của mình. Về gốc rễ, duyên có nghĩa là “gắn lại” hay “dính với nhau”.

  1. Tự tình:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.
Chú thích: Theo nguyên bản, trống canh được nghe thấy qua những vần cần có ở cuối (dồn, non, tròn, hòn, con con) cũng như một số dư âm bên trong (hồng, bóng, xuân, san). Trong câu bốn, bà đang chơi chữ với họ của mình, Hồ, [kí tự Nôm ở đây] một kí tự Nôm có hai phần được tạo ra từ chữ Hán “cổ” ([kí tự Nôm ở đây]) và “nguyệt” : [kí tự Nôm ở đây]). Trong câu áp chót chữ xuân tất nhiên là một phần của tên Hồ Xuân Hương. Trong một bài thơ của Chiêu Hổ đáp lại cho Hồ Xuân Hương, ông ta cũng chơi chữ trên tên cô.
Người cổ lại mang thêm thói nguyệtPhòng xuân còn để lại mùi hương...

  1. Khóc ông phủ Vĩnh–Tường:

Trăm năm ông phủ Vĩnh-Tường ơi
Cái nợ ba sinh đã giả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất
Miệng túi tàn khôn thắt chặt rồi
Hai bảy tháng trời là mấy chốc
Trăm năm ông phủ Vĩnh-Tường ơi.
Chú thích: Truyền thuyết về bà nói rằng bà đã yêu vị hôn phu thứ nhất này, viên tuần phủ của vùng Vĩnh Tường. 100 năm là câu nói ước định cho đời người; 27 tháng là tất cả những gì họ có với nhaụ Nhưng Hoàng Xuân Hãn biện minh rằng ông phủ này không thể nào là chồng của bà được. Nợ ba sinh là “món nợ tình phải trả trong ba kiếp (ba hoá thân liên tiếp).” Bài thơ này lấy dạng lời than khóc đám tang.

  1. Khóc ông tổng Cóc:

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhỉNghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
Chú thích: Trong nguyên bản, bài thơ này bắt đầu như lời than khóc đám tang của người nông dân, theo kiểu ngày nay người ta vẫn than khóc. Hồ Xuân Hương đang giễu cợt ông chồng chết của mình bằng việc chơi chữ tên ông ta là Cóc. Maurice Durand (L'Oeuvre de la Poétesse Vietnamienne Hồ Xuân Hương [Paris: Adrien-Maisonneuve, 1968], tr. 160) nói rằng câu thứ ba cũng là toàn bộ việc chơi chữ để chỉ ra “mối quan hệ nhục dục không gián đoạn” và gợi ý rằng tất cả những gì họ đã trải qua trong mối quan hệ chồng/hầu thiếp là nhục dục thôị Việc chơi chữ thêm nữa có thể nằm ở dư âm với cóc vàng, câu nói chỉ ai đó giầu có nhưng lại ngu xuẩn. Rõ ràng, đây là một cuộc hôn nhân vụ lợị Durand cũng chú thích một câu thơ dư âm thêm nữa trong tục ngữ:
Thà rằng chết mất thì thôị
Sống còn như cóc bôi vôi lại về.

  1. Tự tình (Chiếc bách):

Chiếc bách buồn về phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lêng đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Chèo lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.
Chú thích: Những từ đầu tiên ám chỉ tới một bài thơ cổ, Thuyền Bách, mà theo truyền thuyết Trung Quốc do công chúa Cung-Khương viết sau cái chết của chồng mình, Cung-Bá, hoàng tử nước Vệ, vào triều nhà Chụ Cưỡng lại sự thôi thúc của bố mẹ, công chúa từ chối lấy chồng nữa, chấp nhận số mệnh đơn độc được mô tả ở trên. Con thuyền lênh đênh là một hình tượng cổ truyền cho người phụ nữ bị buộc phải sống một mình. Vậy (câu 7) lặp lại "ở vậy" hay "không bao giờ lấy chồng nữạ" Tuy nhiên qua toàn bộ bài thơ, Hồ Xuân Hương lật nhào cái khuôn mẫu đức hạnh cao cả này bằng việc dùng thuật ngữ con thuyền và việc chèo thuyền với nghĩa kép, tục gợi ý ra các hành động khác.

  1. Bánh trôi:

Thân em thì trắng, phận em tròn,
Bảy nổi ba chìm mấy nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Chú thích: Bánh trôi nước là viên bánh tròn làm bằng gạo nếp có chút ít đường bên trong –thường có hình giống như trứng chim - với bột đậu đỏ ở giữạ Bài thơ này do người phụ nữ nói rạ Nhưng bên cạnh việc nói về số mệnh người phụ nữ, câu 2 cũng gợi ý đến số mệnh thay đổi của quốc gia với nước non, cụm từ dành cho “quốc gia”.

  1. Lấy chồng chung:

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố bám ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Chú thích: Hồ Xuân Hương, giống như mẹ mình, là vợ lẽ, hầu thiếp, hay vợ haị Theo truyền thống, phụ nữ Việt Nam nắm quyền kinh tế và chính trị đáng kể, nhưng quãng năm 1800 thân phận phụ nữ đã bị suy đồi như bản thân quốc gia Việt Nam bắt đầu sụp đổ dưới những sức ép nội địa và ngoại bang. Nhiều phụ nữ chỉ có thể chọn giữa tranh đấu đơn độc hay trở thành hầu thiếp, liều đến nhân phẩm trong bài thơ nàỵ Trong khi đó đàn ông lại có thể có nhiều vợ. Vua được phép có 126 vợ trong sáu loại khác nhau, trong khi thậm chí một sĩ tử cũng có thể có “năm thê bẩy thiếp.” Xem Hoa Bằng, Hồ Xuân Hương, Nhà Thơ Cách Mạng (Saigon: Bốn Phương, 1950), tr. 106. Chém cha là lời rủạ Năm thì mười hoạ là cách diễn đạt dân gian.

  1. Quả mít:

Thân em như quả mít trên câyDa nó xù xì, múi nó dầy.Quân tử có yêu thì đóng cọc,Xin đừng mân mó, nhựa ra taỵ
Chú thích: Quả mít to, có mùi thơm có thể dấm cho chín bằng việc lấy que chọc vào nó.

  1. Vịnh ốc nhồi:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồiĐêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi,Quân tử có thương thì bóc yếmXin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.
Chú thích: Ốc nhồi, sống trong ao và ruộng lúa, được coi là không thoải mái và bẩn thỉụ Bóc yếm trong câu ba có nghĩa “lột vảy ra,” là việc chơi chữ với từ vảy ốc và từ đồng âm của nó, một loại nịt vú phụ nữ thời Hồ Xuân Hương vẫn mặc.

  1. Vịnh hàng ở Thanh:

Đứng chéo trông theo cảnh hắt hiu
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo
Lợp lều mái cỏ gianh xơ xác
Xo kẽ kèo tre đốt khẳng khiu
Ba gạc cây xanh hình uốn éo
Một dòng nước biếc cỏ leo teo
Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.
Chú thích: Trong câu cuối, lộn lèo “dây buộc diều bị xoắn lại” gợi ý cách nói lái khá quen thuộc: lẹo lồn, trong đó việc đảo thanh tạo ra từ mang nghĩa tục.

  1. Cợt ông Chiêu – Hổ:

Anh đồ tỉnh anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chỗ ấy hang hùm chớ mó tay.
Chú thích: Cợt ông Chiêu Hổ & Ông Chiêu Hổ hoạ. Chiêu-Hổ có thể là một trong những bút danh của Phạm Đình Hổ (1768-1839), một trong những người có học thức nhất của thời đó, người lên cao trên đỉnh danh dự dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840). Từ tương đương của Hồ Xuân Hương để giễu cợt văn học nhân vật nổi danh đó có lẽ đã tạo ra sự bảo vệ cho quan điểm không chính thống của bà. Hổ—một phần của bút danh của Phạm Đình Hổ cũng như tên chính của ông –có nghĩa là “con hổ.” Xem Hoa Bằng, Hồ Xuân Hương, Nhà Thơ Cách Mạng, Chương 3, (Saigon: Nhà Xuất Bản Bốn Phương, 1953), pp. 27-33. Những người khác chống lại sự đồng nhất nàỵ

  1. Ông Chiêu – Hổ hoạ:

Này ông tỉnh này ông sayNày ông ghẹo nguyệt giữa ban ngàyHang hùm ví bẵng không ai móSao có hùm con bỗng tuột tay.
Chú thích: Cợt ông Chiêu Hổ & Ông Chiêu Hổ hoạ. Chiêu-Hổ có thể là một trong những bút danh của Phạm Đình Hổ (1768-1839), một trong những người có học thức nhất của thời đó, người lên cao trên đỉnh danh dự dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840). Từ tương đương của Hồ Xuân Hương để giễu cợt văn học nhân vật nổi danh đó có lẽ đã tạo ra sự bảo vệ cho quan điểm không chính thống của bà. Hổ—một phần của bút danh của Phạm Đình Hổ cũng như tên chính của ông –có nghĩa là “con hổ.” Xem Hoa Bằng, Hồ Xuân Hương, Nhà Thơ Cách Mạng, Chương 3, (Saigon: Nhà Xuất Bản Bốn Phương, 1953), pp. 27-33. Những người khác chống lại sự đồng nhất nàỵ

  1. Đèo Ba Dội:

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai mà chẳng...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.
Chú thích: Maurice Durand (L'Oeuvrẹ..trang 13) chú giải rằng dãy núi này gần như chắc chắn là Đèo Tam-Điệp ở giữa miền Bắc Việt Nam, nơi núi là đá vôi và mang mầu đen đen nhưng, ông ấy bổ sung một cách hồn nhiên, "l'on n'a pas de grotte avec une grande ouverture" - “Người ta không có hang động với cửa hang lớn.” Trong khi cảnh vật thực tế có thể gợi ý ra bài thơ này cho Hồ Xuân Hương (cũng như "Hang Cắc Cớ"), thì những đường nét đặc biệt, cây thông và cây liễu lay động hàm chứa cảnh tình dục nữạ Cây thông theo truyền thống đại diện cho đàn ông; cây liễu cho đàn bà ./.

-------------------------------------------------------------------------

8 thg 1, 2016

Trò chuyện với LÊ VĂN THIỆN

   Phỏng vấn
         * * 

       
Hôm sơ kết Trại sáng tác văn học tỉnh, tôi nói đùa với Lê Văn Thiện “Anh là nhà văn xã viên nông nghiệp”. Anh cười: nông nghiệp thứ thiệt đấy!
        Nói về L.V. Thiện, tôi nhớ một câu hỏi mà L. Tolstoi đặt ra trước kia: “Anh là con người như thế nào đây. Anh có khác với những người tôi đã biết không, và anh có thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào không?”… Hình như L.V. Thiện đã nói được một điều gì đó, tôi nghĩ như vậy.
        Mười tám tuổi L.V. Thiện đã có truyện ngắn đầu tay in trên một tạp chí văn học ở miền Nam, năm 1965. Tiếp đó, anh có bài đăng đều đặn trên các tạp chí khác, chủ yếu là truyện ngắn. Đó là những mảng đời trôi nổi, cơ cực, đau thương, những tâm sự u uất, những thân phận mỏng manh… Lê Văn Thiện viết thong thả, chậm, gần mười năm cầm bút (trước 1975) anh chỉ cho in hai tập truyện mỏng. Khiêm tốn, nghiêm túc, tập truyện đầu tay được nhiều đàn anh phê bình, giới thiệu, ấy là điều đáng mừng.
        Hai mươi năm sau, qua bao biến động thời cuộc, L.V. Thiện không thay đổi nhiều, anh vẫn viết truyện ngắn! Tuy nhiên, năng suất viết có vẻ yếu hơn do công việc đồng áng khó nhọc, vất vả. Bên cạnh khó khăn vật chất còn có trở ngại là ở xa thành phố. Ở huyện nhỏ thì sách vở, báo chí là món lập bập, thất thường. Anh nói: “Chúi mũi trong xó làng quá lâu nên tôi lạc hậu, lắm lúc như một gã ngố!”. Nói vậy, là anh khiêm tốn. Có thể thấy, tuy chưa rõ lắm, nhưng bằng tác phẩm của mình L.V. Thiện ít nhiều đã trả lời được câu hỏi của L. Tolstoi trước kia: có thể nhìn cuộc sống hôm qua và hôm nay bằng đôi mắt và sự rung cảm của chính mình… Tôi hỏi anh:
        * Vừa làm ruộng vừa viết văn, chắc anh gặp nhiều trở ngại, có cực lắm không?
        - L.V. Thiện: Tôi sống thế này đã lâu, khá mệt, nhưng gần như nó không gây khó cho việc viết, bởi tôi chỉ viết khi có hứng, lúc nhàn rỗi. Thất thường lắm, mỗi bài tôi viết trong một tuần, hoặc mười hôm, có năm chỉ được hai bài!
        * Dù vậy, anh cũng đang có trong hộc bàn một tập truyện ngon lành?
        - L.V. Thiện: Đó là tập “Chuyện đời”, nó gồm 12 truyện, viết trong sáu năm, nó đề cập nhiều chuyện lớn nhỏ, về tình đời, lòng người, những kiểu sống, những số phận.
        * Anh có nghĩ, trong những năm qua, nếu sống ở phố, anh đã viết khác?
        - L.V. Thiện: Tôi chưa nghĩ đến, nhưng chắc khác. Môi trường sống có vai trò lớn trong việc tạo ra tính cách, lối sống, cách nhìn đời của người ta, giống như nghề nghiệp, giới tính, màu da, tôn giáo vậy.
        * Nhiều người nhận xét, trước kia anh lặn lội ở chiến trường nhiều năm, nhưng trong các tập truyện trước ’75 của anh ít thấy cảnh đạn bom, máu lửa?
        - L.V. Thiện: Cái này khó nói, bởi nó dễ đụng chạm, dễ được chụp mũ! Tôi trực tiếp đánh nhau bảy năm, thấy tận mắt vô số người chết vì súng đạn (hai bên, và dân chúng… ở các vùng Kon Tum, Pleiku, Tây Nam bộ, Campuchia.).  Anh ơi, khi chứng kiến những hình ảnh đó thì ta khó thể nói gì, viết gì nhiều về nó… Lẽ nào ta khai thác đau thương, tang tóc, bất hạnh của người khác (của đồng bào) để kiếm tiền nhuận bút, còn nói viết để lên án thì đã có nhiều người làm. Nói thế, người ngoài cuộc không tin đâu.
        * Thông thường, anh chọn đề tài như thế nào?
        - L.V. Thiện: Có thể nói, tôi viết kiểu tài tử. Hiếm khi tôi phác thảo, xây dựng cốt truyện trước. Thường, tôi nhớ lại một chuyện xưa, những kỷ niệm (xám hay hồng, vui hay buồn), rồi thêm thắt ít nhiều chi tiết, thành truyện. Hoặc, trong các đám tiệc, giỗ chạp, nghe anh em bà con trò chuyện, chộp được mấy cái hay, lạ, mình ghi nhớ, sau đó kiếm thêm một số tình tiết nữa (ở chỗ khác) rồi ghép chúng lại với nhau. Ít có truyện hư cấu hoàn toàn… Mới đây, tôi có một truyện được bạn bè thích. Ý chính truyện này tôi chôm từ bản tin trong một tờ báo cũ, cách đây hơn 50 năm. Nó độc đáo, lạ, dị thường. Không tìm mà gặp, may mắn… Tôi thích ngồi ở các quán cà phê, quán phở vỉa hè, hoặc lân la gần mấy “mụ” đa sự, để nghe lỏm, tìm đề tài, chẳng mất tiền mua, lại vui.
        * Anh thấy văn chương, thơ phú của ta thế nào?
        - L.V. Thiện: Có lẽ chỉ nên nhận xét những tác phẩm tôi đã đọc. Nhiều người vừa viết vừa nhảy múa, diễn thuyết. Sản phẩm của họ màu sắc không đều, chỗ quá đậm, chỗ lợt, nhiều nét cũ và thừa… Viết về cuộc chiến vừa qua thì có ba, bốn kiểu khác nhau nhưng chúng đều lềnh bềnh, trôi nổi, cứ như người viết luôn nằm trong trạng thái lên đồng, bụng dạ sôi sục, ngòi bút muốn khạc đạn, nên dễ cho ra lò những ly cà phê nêm bột ngọt! Không nên ba hoa, nói dài… Đọc truyện các nước, những gương mặt cũ, như E.M. Remarque, A. Camus, C. Dickens mình luôn thấy đã, đọc lại chục lần không nhàm.
        * Cảm ơn. Chúc anh khỏe mạnh, cuốc và viết thành công.
(THANH PHONG (Sĩ Tịnh), HK cuối tuần, 20/8/1996)


18 thg 11, 2015

KHÓI SƯƠNG


        Thị trấn Ngok Ling nửa giống Sa Thầy của Kon Tum, nửa giống Gia Nghĩa của Dak Nông. Tất cả nhà cửa, chừng sáu trăm, nằm gọn trên ngọn đồi cao nhất vùng. Quanh nó, thấp hơn, đều là đồi, lô nhô, quanh năm xanh thẫm màu trà, cà phê. Nhiều người khen nó thơ mộng, đẹp, nhất là vào những tháng cuối năm, mùa lạnh. Nhưng Đãi không nghĩ thế. Đúng là yên tĩnh, nên thơ, nhưng quá trầm, buồn tím tái. Có những đợt, nhiều tuần tiếp, ngày nào trời cũng mưa, lê thê, ẩm ướt, sũng nước. Có dạo ngót ba tháng không thấy mặt trời. Mùa hè thì nắng thông thống, xe cộ quậy nát đường đất, tung bụi đỏ mù trời. Người thưa, mới chín giờ tối phố xá đã im vắng, mùa nào cũng vậy.
        Tốp thợ xẻ gỗ, ba người, mang rìu rựa máy cưa, dưới xuôi lên đây, sống bằng nghề đốn cây, cưa xẻ gỗ thuê. Ba chàng trai làm việc, ăn ngủ trong rừng, cách thị trấn non ba mươi cây số. Nơi đó xa thẳm, sâu hun hút, như thế giới cổ  tích. Cứ ba tuần, Đãi, Chất, Giám ra chợ Ngok Ling một lần, ở chơi hai ngày, mua sắm thực phẩm và những vật dụng lặt vặt.
        Hơn một năm trôi qua, nhọc nhằn nhưng khá mau, những lần xuống chợ bắt đầu mang một nét mới, thay đổi nhỏ nhưng cần thiết, ấm áp, thấm đẫm mùi trà. Xuất hiện những bóng hồng! Quen miệng nói cho sang, các kiều nữ này, ba cô, thiếu màu hồng. Một chị thừa cân, hai nàng hơi đen. Trắng sao được, làm rẫy, hái cà phê, nuôi heo, chăn dê, những chuyện đòi hỏi người ta phải phơi mặt ngoài trời, chưa thành đồng đen là còn may!
        Làm lụng, kiếm tiền, kiếm tình là việc chính của người trẻ ở quê. Tốp thợ xẻ đang nằm giữa vòng quay ấy. Rúc đầu trong rừng, sát biên giới, cực nhọc, nhưng được cái ổn định, lâu dài. Làm mướn, tiền công không cao, nhưng may gặp gã chủ rộng rãi nên thỉnh thoảng cả bọn được lãnh thêm ít tiền thưởng, như thuốc tăng lực, khiến cho những ngày nghỉ ở thị trấn đổi màu, phát sáng. Đúng sáng, ánh sáng tỏa từ mấy chùm lân tinh sơn nữ.
        Đãi vớt được Hiểu, chủ một quán bán cá tôm thịt khô. Chất cặp với Sao, con gái rượu của một ông chủ trang trại nhỏ. Giám tìm được cho mình chỗ dựa êm ái: nàng Lò Mảy. Chỗ dựa này vững chắc, nói tiếng Kinh không rõ, nhưng duyên dáng – Người ta bảo, dân cao sang, sung túc thường thích nói những chuyện mông lung, sâu xa, tình yêu lãng mạn, dân nghèo hay chúi mũi vào mấy thứ tầm tầm thấp thấp, như gạo cá, ăn uống… Ba anh thợ xẻ gỗ, sau những ngày đổ mồ hôi trong rừng già, kiếm được không mấy tiền, mất nhiều thứ, bỗng nhiên biến thành dân sang, vứt bỏ chuyện tiền bạc, luôn miệng nói về những hoa núi, tình ái, bởi họ chỉ còn món này, còn nhưng không nguyên vẹn.
*
        “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, nay dường như không đúng nữa. Những người kinh doanh, khai thác rừng nhiều năm qua đều giàu to. Cạnh đó, nghiệt ngã, mấy chàng làm mướn, chỉ vớt của rừng núi chút lương bèo bọt lại phải rưng rưng nước mắt! Ngày Chất, Giám vác cưa rìu về xuôi, Đãi ở lại Ngok Ling với Hiểu. Hơn mười tháng sau, anh chết vì sốt rét ác tính. Nằm trong rừng bấy lâu yên ổn, ra phố lại buông tay! Giám về quê, mặt mũi lơ láo, quần áo lùi xùi, trông chẳng hơn ngày đi bao nhiêu. Không để ý cũng thấy, chiếc ba lô trên lưng Giám vẫn lép, và túi áo không căng phồng tiền như cha mẹ anh mong. Chỉ bốn đêm, chui vào sòng bài, Giám thua mất hai phần ba số tiền anh dành dụm được trong bảy tháng dằng dặc.
        Chất chín chắn, cẩn thận hơn bạn. Về nhà, anh mua ngay bốn heo con, để nuôi heo thịt, hai con bò, để cày kéo. Nhưng rồi, heo không lời nhiều, do chậm lớn, còn bò thì lăn quay chết cả, chết với những nguyên do kỳ quặc, không ngờ. “Chỉ là xui rủi mà thôi”, ông Tỉ – cha Chất – nói vậy, “tụi mày làm gì ác mà trời phạt, phải không? Ác, chính là ông trời. Chúng khổ thế mà không phù trợ, thì phù ai? Ăn của rừng! Biết bao mồ hôi đem ra đánh đổi mớ tiền, rồi chết như thằng Đãi, mà còn phải rưng rưng nước mắt!”. Nói mạnh miệng vậy, nhưng ít lâu sau, nghĩ sao, ông nói lại: “Bảo trời ác là hỗn, ổng chẳng phản đối, nhưng không nên nói thế!”.
*
        Hiểu bán hàng khô trong chợ thị trấn. Chị bán mực, cá, tôm, thịt thú rừng khô. Bên cạnh, chị còn bán chim, thú sống để làm thuốc và làm cảnh: bìm bịp, thỏ, khỉ, tắc kè, gà sao, vọoc, cu đất, két, cù lần, nhím, công, rắn rít, bọ cạp, và nhiều loại chim nhỏ… Không rõ bằng cách nào, với những bài bản gì, Đãi chinh phục được Hiểu, bông hoa thô, nổi bật, luôn nằm trong tầm ngắm của hàng trăm thợ rừng tứ xứ. Hôm thấy Đãi ở lại ngủ đêm tại nhà Hiểu, công khai, hai anh bạn Giám Chất sửng sốt, nói không ra lời. Hiểu không chồng, có một con trai. Chị thấp, mập tròn, mặt có nét vui lạ, như lúc nào cũng cười. Chỉ sau một tuần, thằng bé con Hiểu đã gọi Đãi bằng ba. Rồi Đãi bỏ nghề, ở lại chợ núi làm những việc nho nhỏ và giúp Hiểu buôn bán. Từ đây, qua tác động của Đãi, nếp sinh hoạt của Chất Giám thay đổi khá nhiều. Trước, mỗi đợt ra chợ nghỉ xả hơi hai ngày, nay thành bốn ngày. Trước, ăn nhậu vừa phải chừng mực, nay bung ra, vui hơn, bia rượu uống tràn như dân xịn. Đãi thương yêu bạn bè chí tình, Hiểu cũng vậy.
*
        Đãi hỏi hai bạn: “Hai đứa thấy vợ con ông Căn chưa?”. (Ông ta là nhà thầu khai thác gỗ).
        “Chưa”.
        “Tuần trước họ lên đây, bà vợ và hai con”.
        “Họ du lịch?”. “Chắc vậy, ở Tân Lâm lên. Nhìn họ mình hết ý kiến”.
        “Tại sao?”.
        “Họ lạ, không giống chúng ta, khác với dân ở đây”.
        “Họ có cánh?”. Giám hỏi và cười lớn.
        “Khó nói, sao sao ấy, nhẹ nhõm, sáng láng, như người trong phim…Ngay như ông lái xe thấy cũng oai, sang”.
        “Họ làm gì?” Chất hỏi.
        “Đi lòng vòng, nhìn ngắm, chỉ trỏ phía này nơi kia, dừng lại chỗ Hiểu khá lâu, xem chim thú”.
        “Cũng phải thôi, dân giàu, cứ nhìn ông Căn thì thấy… Không bị muỗi vắt bọ cạp cắn, không xơi nước suối, không sờ tới cái cưa mà…”.
        “Tướng thì cần gì bắn!” Đãi cười.
        “Người ta nói, mấy ông tướng thường ở cách mặt trận vài chục, vài trăm cây số, nhưng khi thắng trận luôn được phần thưởng to!”.
        “Ấy là đời… Thực ra, cũng có lý của nó, nếu họ ngốc thì lính chết chùm”. Giám nói, như người hiểu biết.
        “Người làm quân, kẻ làm tướng, tướng ít quân nhiều. Ra chợ hỏi xem, ai muốn làm quân?”.
        “Đó là đời… ước chi ta được thế vai ông Căn ba bốn ngày!”.
        Quay sang chuyện Đãi, Giám hỏi: “Chị Hiểu lúc nào cũng vui?”.
        “Cô ấy không biết buồn, nên người phỡn, mập phì”.
        “Ở chung đã lâu sao anh không mập?”.
        “Chưa chết là may. Cô nàng rúc rỉa tao.”
        “Thực à?”. Cả bọn cười.
        “Hai bạn không tin? Hiểu có loại thuốc nước gì đó, lạ lắm, uống vào là mình nóng rực, ngứa ngáy. Mùi của nó vừa giống rau ngổ vừa giống như lá chùm bao. Thường chỉ cần nửa ly, nuốt khỏi cổ là mở máy ngay”.
        “Máy gì?”.
        “Còn hỏi! Cứ ôm ấp vờn nhau như ngựa! Có lần lỡ nốc trọn ly, thế là đêm đó anh cứ lọ mọ trèo lên bụng nàng, rồi bò xuống, hết trèo lại bò, lên xuống trắng đêm!”.
        Giám, Chất cười no bụng.
        Tình cảm lai láng, kỷ niệm chất chồng, bao điều đáng nhớ. Đãi vẽ ra nhiều dự định, kế hoạch làm ăn lâu dài, thế nhưng, một điều gì đó xộc xệch, bất thường, đen xỉn, lù lù hiện đến, ập vào căn nhà nhỏ của Hiểu. Nó hủy hoại, phá nát tất cả, trong giây lát. Những ngày vui Đãi hưởng ở thị trấn bụi mù này chỉ tính được bằng tháng! Anh chết khi chưa có đứa con nào với Hiểu, khi tuổi đời còn dưới bốn mươi – Đấy là chuyện cũ. Sau này, nói về cái chết của Đãi, ông Tỉ đưa ra một nghi vấn: “có thể nó chết vì trúng phòng, thượng mã phong, không phải sốt ác tính?...”. Vàng bạc vào tay người khá giả, mấy gã lông bông tắm biển tình!
*
        Tiệm chè của Lò Thị Mảy nằm bên hông chợ, cách quán đồ khô của Hiểu chừng hai trăm mét. Ban ngày Mảy làm ở trại nuôi heo gà của bà dì ruột, chỉ bán chè phụ giúp mẹ vào ban đêm. Lúc nào tiệm cũng đông khách. Mảy xinh xắn, nói tiếng Kinh không rành, sẵn sàng cười đùa tán gẫu với mọi người, bất kể già trẻ… Ở đây có hơn mười loại chè, bày sẵn trong các xoong to trên quầy, khách thích ăn gì cứ tới chọn. Đỗ gạo, khoai môn, đỗ xanh, hột sen, khoai tím, bột mì, khoai sáp, đỗ đen, nếp than, đỗ váng, khoai từ, khoai sọ.
        Hôm đó trời mưa nhỏ đẩy đưa hai tay bợm nhậu giạt vào quán chè. “Em bé nói ngọng này hay quá”, Chất khen.
        “Không ngọng, người Thượng!”.
        “Thượng à, sao giống ta vậy?”.
        “Có gì lạ?”.
        Vậy là hai chàng thợ cưa mọc rễ ngay nơi đây, bỏ nhậu. Mỗi anh ăn sáu chén chè. Lẽ ra có thể ăn thêm, nhưng nhiều quá sợ thiên hạ cười. Chén nhỏ, chè múc chỉ cao hơn nửa chén một chút, nên hớp vài cái đã hết. Nhưng việc chính không phải là ăn, tất nhiên rồi. Những lần sau Giám thường đớp mười chén, Chất tám chén, và chỉ chịu nhổ neo khi tiệm đóng cửa… Thêm một mối tình mọc ra trên cõi đời, Giám Hâm và Lò Mảy hoa rừng!
*
        Vườn cây ăn trái nhà Sao rộng 14 mẫu, bao la. Sau khi đưa Giám, Chất đi thăm khắp vườn một vòng, Sao mời khách vào nhà mát nghỉ chân, ăn trái cây. Nhà mát gần ao cá, hình lục giác, lợp tranh, không vách, có dãy bàn dài, treo nhiều võng. Nơi này làm quán cà phê vườn thì tuyệt hảo. Sao bưng ra một rổ chuối, bơ, đu đủ, “hai anh ăn chơi, chờ em làm bếp”. Cha mẹ Sao làm suốt ngày trên nương, rẫy, tối mịt mới về. Sao ở nhà chăm sóc bầy heo, bò và ao cá.
        “Xứ này tuyệt, chẳng giống làng mình tí nào”. Giám khen.
        “Quê ta, nói làm gì, trơ khấc, trắng xác, chỉ được khâu đông người, lúc nhúc như ong!” Chất nói như than.
        Đu đủ ngon, ngọt thanh, mùi bơ lạ không giống loại trái nào.
        “Ước gì tụi mình có tiền bằng một góc nhỏ của ông Căn, để bớt lo. Khổ quá không còn giống con người”.
        “Muốn bằng cỡ nào?”.
        “Chừng một phần mười ông ấy”.
        “Hơi tham, một phần ba mươi cũng mê rồi”.
        Yên lặng giây lâu. Gió xào xạc. Chim kêu, gà gáy.
        “Chỗ này buồn. Nghĩ xem, xưa kia những người đầu tiên lên đây sống thế nào?”.
        “Buồn thì dư rồi… Đãi nói, anh ráng làm kiếm tiền, khi lớn tuổi sẽ kéo nhau về dưới xuôi sống. Sương mù, khói đá, mưa dầm dễ khiến người ta rệu rã!”.
        “Sao đãi gì vậy?”.
        “Chắc làm đồ nhậu”.
        Nghỉ một lát, anh ngắm ao cá, anh nhìn mông lung.
        “Kẻ giàu ăn không hết, người thì nghèo xơ”.
        “Đó là số mạng”.
        “Có số thiệt không?”.
        “Có đấy, anh này sinh ra trong nhà đại gia, chị kia trong túp lều, là số chớ gì?”.
        “Có lý, chắc vậy. Ba tao nói, cứ sống kiểu dân quê mình là khỏe, làm, ăn, ngủ, chẳng nghĩ ngợi xa xôi”.
        “Nhàn, tốt, nhưng hơi giống heo gà… Mình khổ nhưng còn may, nếu phọt ra ở vùng sa mạc, da đen, thiếu nước thì mạt!” Hai chàng cười lớn.
        “Nghèo, do trời, mà cũng do mình dở. Đãi nói, anh ấy xấu hổ, cùng là dân Hà Dương mà ông Mai Cảnh giàu ngất ngưởng, còn ta lép xẹp”.
        “Số phận, nhưng cả tỉnh Tân Lâm chỉ có một Mai Cảnh”.
        “Nghe đâu ông ấy có chiếc xe xịn, giá bảy tám tỉ”.
        “Phải. Ngày khởi nghiệp ông ta cũng xách cưa lên Đông Hưng xẻ gỗ, như tụi mình hiện giờ”.
        “Ba tao mua được mấy bài báo viết về Mai Cảnh, khen chê ngậu xị!”.
        “Chê à?”.
        “Ờ, có kẻ nói ông ấy nằm trong dạng mặt mốc, vi trùng”.
        “Hơi đâu nghe, đố kỵ ấy mà, nhưng mốc thế nào?”.
        “Phá rừng”.
        “Làm ăn ì xèo sao gọi phá?”. “Cũng lạ”.
        “Núi rừng trơ trụi thì các tỉnh dưới thấp sẽ đớp nước lũ, đài điện nói ra rả thế”.
        “Uống nước, bơi tự do… Nói sao nghe vậy, bọn mình biết quái gì!”.
        “Điều cốt lõi là dân Hà Dương tự hào”.
        Tự hào có lợi, như thuốc kích thích, thuốc bổ.
        Sao bưng ra mâm thịt rừng, món xào, món nướng, ăn với bún, bánh tráng, bánh mì, như tiệc nhỏ. Sao ngồi với khách, cùng ăn, cùng uống, chuyện trò giòn tan. – Đây là cuộc vui duy nhất, cuối cùng. Bốn tháng sau Chất về Tân Lâm. Chỉ còn lại những lần nhắn tin, những cú điện thoại, lúc đầu dồn dập, nồng nàn, về sau nhạt đi, thưa dần. Chất nói với Giám nhiều lần, Tết sẽ vù lên Ngok Ling thăm Sao, nhưng chẳng hiểu sao hắn nói mà không đi. Mãi lâu sau này Chất mới tiết lộ một chi tiết, hơi lạ, khiến Giám ngớ người ra: Sao sống phóng túng, buông tuồng, thường cặp kè ba bốn kép cùng một lúc, cả Kinh lẫn Thượng. Vui vậy. Thế đấy!
*
        “Tôi tới trại heo gà của bà dì Mảy chơi trọn một ngày. Vùng đó rộng, thoáng, vắng vẻ, cách chợ thị trấn sáu cây số. Đất đồi thênh thang, vườn nhà nào cũng rộng. Chỉ nhìn hai cái chuồng heo bự chảng đã thấy Mảy vất vả. Mười hai con heo nái, gần trăm heo thịt, và bầy gà đông đúc. Mảy làm luôn tay, băm chặt, phơi phóng, nấu nướng thực phẩm cho từng ấy gà heo. Phần tươi ăn ngay, thứ khô cất vào kho ăn sau. Bà dì Mảy đô con, đi đứng như đàn ông. Mình chào bà ấy gật, chẳng nói tiếng nào, suốt ngày gần như không mở miệng. Ông chú, chồng bà dì (không gọi dượng) giữ rẫy cà phê, tuần về nhà một lần. Khác với những lúc bán chè, ở đây Mảy lầm lì, chúi mũi làm, không nói. Trưa, bà dì ăn cơm trước, chẳng mời ai. Quá 2 giờ chiều Mảy mới ăn trưa. Chúng tôi ăn với nhau, như đã thân quen lâu đời. Tôi thấy hay hay. “Vắng quá, em buồn không?”. Tôi hỏi, Mảy lắc đầu:
        “Quen rồi”.
        “Dì trả công thế nào?”.
        “Cũng thường, nhưng thưởng thêm nhiều... Trong số heo nái kia em có hai con, heo thịt thì sáu con”.
        Ra vậy, kể cũng thích! Mãi lâu, tôi nghĩ không ra cách nào để cầm tay, hôn Mảy. Cứ gà với heo quanh quẩn! Mảy hỏi tôi uống gì, ông chú có nhiều rượu thuốc, rượu ngâm kỳ đà, rít, bìm bịp. Tôi chọn kỳ đà. Uống cho biết, cũng ngon, lạ. Suốt bữa ăn tôi không để ý đến món gì, ngon hay không, chỉ mãi nghĩ về cuộc sống ở hóc núi hiu quạnh này của bạn. Làm việc túi bụi. Dẻo dai, làm thế này mà tối còn đứng bán chè… Mảy chưa đặt chân đến một thành phố lớn nào, chưa biết biển, chưa thấy xe lửa, chưa vào sân vận động. Cuối bữa, Mảy hỏi: “Buồn không, anh?”. Tôi không nói gì. Tôi không muốn nói thật, quá buồn. Bất ngờ, Mảy nhịp tay xuống bàn và hát nho nhỏ, Phố đêm, Ai về sông Tương, Nỗi buồn hoa phượng. Tôi khen hay. Mảy khoe, mình có máy cát xét với hai trăm dĩa nhạc.
        “Em thuộc nhiều bài, thường hát cho tụi nó nghe”.
        “Tụi nào?”.
        “Bọn ăn chè, chúng thích lắm!”.
        Mảy hát tiếp Giã từ, Thà như giọt mưa, Thành phố buồn, Bài thơ hoa đào”. – Giám Hâm kể cho Đãi nghe chuyện này, trước ngày anh qua đời ba tháng.
        Cuộc tình này gọn, đến chớp nhoáng, tan biến nhanh. Nó đứt phựt, chấm dứt ngay khi Giám về tới nhà. Thực bụng, trong giờ phút chia tay Giám đã nghĩ đến một ngày trở lại, không ngờ đó chỉ là ý của một phía. Cô em người Thượng dịu hiền, khó hiểu đã phủi tay, tống tiễn người tình mới vào hang hốc quá khứ. Mảy không gọi, không nhắn tin, không trả lời dù chỉ một lần. “Ba không”, nên khó hiểu. Giám Hâm đau khổ, hẳn rồi. Tại sao như vậy? Giám nghĩ không ra. Chất thì nói theo kiểu Hoài Linh: nó không muốn nói tiếng Kinh khó khổ! Nghe chuyện, ông Tỉ nhận xét: “Trên cái sân khấu nhộn nhạo, nóng rang, đông nghẹt diễn viên nam như thế, làm sao nàng nhớ chàng?”… Tỉ phú, đại gia thuận đường tiền bạc, đám trẻ lêu bêu mất mùa ái tình! ./.