Mồ côi cha mẹ, được một người bà con nhận
nuôi, từ bảy tuổi ba tôi đã đứng đồng, chăn trâu. Và đến lúc có sức, cầm được
cái cày thì ông bắt đầu cày cuốc, gieo gặt, làm lụng quần quật trên đồng quanh
năm.
Rồi ba má tôi gặp nhau, thương yêu nhau,
tự sống chung dù không được sự đồng tình của hai gia đình, bởi… không hạp tuổi.
Đến đây, một nổi khổ mới xuất hiện, bám riết lấy ba tôi: khổ vì con. Má tôi
sinh ba người con đầu đều chết yểu, nên khi sinh tôi ra, ba tôi chạy ngược chạy
xuôi từ am này đến đền nọ, quỳ lạy mòn gối tại nhà các thầy pháp, ông đồng bà
cốt. Ông đặt cho tôi cái tên xấu xí, đeo vào cổ tôi đủ loại vòng bạc, bùa phái…
Tôi là con cầu tự nên được yêu quý, nuông chiều cũng dễ hiểu.
Năm bảy tuổi, tôi đi học. Tôi học tạm được,
dạng trung bình, “mỗi năm lên một lớp.” Chỉ như thế cũng đã đủ để ba má tôi vui
thích. Ba tôi rất quan tâm đến việc học của tôi. Tháng nào ông cũng hỏi tôi
được xếp thứ mấy, và trong số các bạn trong làng tôi hơn đứa nào thua đứa nào.
Có lần, gặp lúc vui ông hỏi: “Những khi học bài không thuộc, thầy phạt cách
nào?” – “Dạ, phạt quỳ úp mặt vào tường, hay lấy thước kẽ quật lên tay.” – “Có
đứa nào đau quá khóc không?” – “Dạ, thường lắm ạ.” Ông cười: “Phạt như thế nhẹ
hều, khóc là yếu. Nếu gặp ba thì thầy cô đánh gãy thước ba cũng chẳng nhúc
nhích!” Ngẫm nghĩ một lúc, ông tiếp: “Hồi nhỏ ba cứ ao ước được đi học vài hôm
cho biết.” Và ông bảo tôi: “Con ráng, ba sẽ cố gắng cho con học xong ở đây rồi
lên tỉnh… Ba không được đến trường, con học luôn phần của ba.” Tuy không mặc áo
học trò ngày nào nhưng ba tôi cũng đọc được sách, biết làm bốn phép toán, nhờ
mày mò tự học. Khi tôi lên lớp nhì (lớp bốn) thì ông nói đến cái ước mơ lớn:
“Con ốm yếu, không hợp với nghề nông, nên chăm học để sau làm thầy giáo… Nghề
dạy học khó giàu nhưng thơm tho, nhàn nhã.”
Ba năm cuối bậc tiểu học, tôi lên học tại
một trường tư ở thị trấn Vạn Giã, cách nhà tám cây số. Đi với tôi còn có năm
bạn khác cùng xóm. Chúng tôi đi xe đạp, sáng lên chiều về, vì ngày học hai
buổi. Ngày nào má tôi cũng dậy sớm, nấu cơm cho tôi đem theo ăn trưa. Vào các
tháng mùa đông mưa gió, trời mau tối, chiều nào ba tôi cũng đi bộ ba cây số vào
dốc Ké đứng đón tôi, bởi quãng đường rừng đó vắng vẻ. Ba tôi không coi chuyện
đưa đón là cực khổ… Ông thường nói với má tôi: “Chiều đứng trước sân, dòm thấy
cu Cọt đạp xe về là tôi sướng, bao nhiêu nhọc mệt trong ngày tan biến hết.”
Đúng như ba tôi nhận định, càng lớn tôi
học càng khá. Giữa năm 1970 tôi tốt nghiệp tiểu học, hai tháng sau tôi đậu vào
lớp sáu. Năm anh bạn cùng làng đều nghỉ cả. Gia đình họ ngại lên tỉnh, đi xa,
tốn kém… Vào được trường trung học ở Thới Bình là điều vui mừng lớn. Có thể
nói, tôi đã đạt hai mục tiêu: được học trường công khỏi đóng học phí, và bước
đầu thực hiện ước vọng của ba tôi: nhắm đến cổng trường sư phạm.
Lên trọ học tại thành phố tôi sống chật
vật vì nhà gởi cho tiền ít. Nhưng tôi không buồn vì biết đây là toàn bộ sức
lực, khả năng của cha mẹ.
Ở phố nhưng tôi nhớ nhà khôn nguôi. Nhiều
lúc, vào xẩm tối, tôi nghĩ: giờ này ở nhà chắc ba đang chuẩn bị đi biển soi cá,
má lùa gà vào chuồng. Rạng sáng, tôi đoán, chắc má đang nấu cháo heo, ba ôm rơm
cho trâu ăn… Đi trên đường phố Thới Bình thỉnh thoảng gặp những người đàn ông
dưới quê mới lên – nhìn cách ăn mặc, dáng đi của họ là biết – tôi lại thấy hiện
ra trong đầu hình ảnh ba tôi gánh bốn thúng cá hấp chạy trên đồi cát Đầm Môn.
Trong những ngày rảnh việc đồng (thường vào mùa nắng), ba tôi xuống các làng
đảo mua cá hấp về bán. Công việc này lời khá, nhưng vất vả. Mỗi chuyến đi mất
ba ngày. Ba phải gánh bốn thúng cá đầy ngộn, chạy trên những đồi cát thấp, xa
khoảng sáu cây số, trên đầu nắng gắt, dưới chân cát nóng… Về lại đất liền, ba
tôi vào các làng xóm xa biển rao bán. Ba tôi làm toàn những việc nặng nhọc.
Năm tôi học lớp tám, ba tôi lâm bệnh, một
chứng bệnh ngặt nghèo. Mới vài tháng, từ một người lực lưỡng, ông biến thành
hình nộm gầy gò xanh bủng. Cây cột trụ lung lay, nhà tôi rúng động. Nằm trên
giường bệnh, ba tôi vẫn lo cho vợ con. Ông than: “Lỡ tôi không mạnh lại thì
tính sao đây? Bà chẳng quen làm nặng, lũ nhỏ còn bé quá… nhà cửa ọp ẹp thế này…
Chắc khó có tiền để thằng Cọt học… Ông trời ác quá.” Má tôi sợ cuống nhưng bất
lực, chỉ biết ngồi nhìn.
Ba tôi mất lúc mới 46 tuổi. Của cải quý
nhất ông để lại là tám thửa ruộng một vụ và bảy con trâu. Trước đó ông đã bàn
với má tôi: “Ta tính một đàng ra một nẻo. Giờ bà ráng xoay xở nuôi con. Ruộng
mướn người ta cày, làm kiếm gạo. Trâu thì bán, cất lại cái nhà cao ráo hơn một
chút, và cho thằng Cọt học ít năm nữa… tội nghiệp nó, chắc khó theo được đến
thành thầy giáo.”
Sau ngày ba tôi qua đời, tôi học thêm hơn
một năm nữa, rồi phải nghỉ. Chỉ nội việc kiếm cho ba anh em tôi ăn no, má tôi
đã đuối, nói chi tới chuyện cao hơn.
Việc học của tôi dở dang, tôi không được
vào trường sư phạm như mơ ước của ba. Nhưng nay chắc ba tôi vui lòng khi thấy
tôi nằm trong số những người “có chữ nghĩa” trong làng, và tôi ham đọc, biết
mua sách báo như dân thành phố. Và còn một điều đáng nói: giống như ba, tôi coi
học vấn là chìa khóa giúp cho con người bước vào ngôi nhà tri thức lộng lẫy,
nên dù gia đình chỉ đủ ăn, hai con tôi nay đã ngồi trên ghế giảng đường đại học
./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét